Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào quán tự ngã dưới nhiều hình thức sai khác, quán cả năm thủ uẩn hay quán một trong năm thủ uẩn.
Vi-n 4 Thế nào là năm? Này các Tỷ-kheo, ở đây kẻ vô văn phàm phu không được thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc, quán thọ … quán tưởng … quán các hành … quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Nếu quán như vậy, thời đi đến chấp kiến: “Tôi là”.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, khi đi đến chấp kiến: “Tôi là”, thời năm căn nhập vào avakkanti (hiện hữu), tức là nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn.
Vi-n 6 Này các Tỷ-kheo, có ý, có các pháp, có vô minh giới. Cảm xúc bởi cảm thọ, cảm thọ này sanh do xúc chạm với vô minh; kẻ vô văn phàm phu đi đến chấp kiến: “Tôi là”, đi đến chấp kiến: “Cái này là tôi”, đi đến chấp kiến: ” Tôi sẽ là”, đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ không là”, đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ hiện hữu với sắc”, đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ hiện hữu với vô sắc”, đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ hiện hữu với tưởng”, đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ hiện hữu với không tưởng”, đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ hiện hữu với phi tưởng phi phi tưởng”.
Vi-n 7 Như vậy, này các Tỷ-kheo, do năm căn an trú ở đây, nhưng đối với vị Ða văn Thánh đệ tử, vô minh được đoạn trừ và minh khởi lên. Do vô minh được viễn ly, do minh sanh khởi, không đi đến chấp kiến: “Tôi là”, không đi đến chấp kiến: “Cái này là tôi”, không đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ hiện hữu” … “Tôi sẽ không hiện hữu” … “Tôi sẽ hiện hữu với sắc” … “Tôi sẽ hiện hữu với vô sắc” … “Tôi sẽ hiện hữu với tưởng” … “Tôi sẽ hiện hữu với vô tưởng”, không đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ hiện hữu với phi tưởng phi phi tưởng”.
Sāvatthinidānaṁ.
“Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā anekavihitaṁ attānaṁ samanupassamānā samanupassanti, sabbete pañcupādānakkhandhe samanupassanti, etesaṁ vā aññataraṁ.
Katame pañca?
Idha, bhikkhave, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto
rūpaṁ attato samanupassati, rūpavantaṁ vā attānaṁ; attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ.
Vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ attato samanupassati, viññāṇavantaṁ vā attānaṁ; attani vā viññāṇaṁ, viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.
Iti ayañceva samanupassanā ‘asmī’ti cassa avigataṁ hoti.
‘Asmī’ti kho pana, bhikkhave, avigate pañcannaṁ indriyānaṁ avakkanti hoti—
cakkhundriyassa sotindriyassa ghānindriyassa jivhindriyassa kāyindriyassa.
Atthi, bhikkhave, mano, atthi dhammā, atthi avijjādhātu.
Avijjāsamphassajena, bhikkhave, vedayitena phuṭṭhassa assutavato puthujjanassa ‘asmī’tipissa hoti;
‘ayamahamasmī’tipissa hoti;
‘bhavissan’tipissa hoti;
‘na bhavissan’tipissa hoti;
‘rūpī bhavissan’tipissa hoti;
‘arūpī bhavissan’tipissa hoti;
‘saññī bhavissan’tipissa hoti;
‘asaññī bhavissan’tipissa hoti;
‘nevasaññīnāsaññī bhavissan’tipissa hoti.
Tiṭṭhanteva kho, bhikkhave, tattheva pañcindriyāni.
Athettha sutavato ariyasāvakassa avijjā pahīyati, vijjā uppajjati.
Tassa avijjāvirāgā vijjuppādā ‘asmī’tipissa na hoti;
‘ayamahamasmī’tipissa na hoti;
‘bhavissan’ti …
‘na bhavissan’ti …
rūpī …
arūpī …
saññī …
asaññī …
‘nevasaññīnāsaññī bhavissan’tipissa na hotī”ti.
Pañcamaṁ.
SC 1At Savatthi. “Bhikkhus, those ascetics and brahmins who regard anything as self in various ways all regard as self the five aggregates subject to clinging, or a certain one among them. What five?
SC 2“Here, bhikkhus, the uninstructed worldling, who is not a seer of the noble ones and is unskilled and undisciplined in their Dhamma, who is not a seer of superior persons and is unskilled and undisciplined in their Dhamma, regards form as self, or self as possessing form, or form as in self, or self as in form. He regards feeling as self … perception as self … volitional formations as self … consciousness as self, or self as possessing consciousness, or consciousness as in self, or self as in consciousness.
SC 3“Thus this way of regarding things and the notion ‘I am’ have not vanished in him. As ‘I am’ has not vanished, there takes place a descent of the five faculties—of the eye faculty, the ear faculty, the nose faculty, the tongue faculty, the body faculty. There is, bhikkhus, the mind, there are mental phenomena, there is the element of ignorance. When the uninstructed worldling is contacted by a feeling born of ignorance-contact, ‘I am’ occurs to him; ‘I am this’ occurs to him; ‘I will be’ and ‘I will not be,’ and ‘I will consist of form’ and ‘I will be formless,’ and ‘I will be percipient’ and ‘I will be nonpercipient’ and ‘I will be neither percipient nor nonpercipient’—these occur to him. sn.iii.47
SC 4“The five faculties remain right there, bhikkhus, but in regard to them the instructed noble disciple abandons ignorance and arouses true knowledge. With the fading away of ignorance and the arising of true knowledge, ‘I am’ does not occur to him; ‘I am this’ does not occur to him; ‘I will be’ and ‘I will not be,’ and ‘I will consist of form’ and ‘I will be formless,’ and ‘I will be percipient’ and ‘I will be nonpercipient’ and ‘I will be neither percipient nor nonpercipient’—these do not occur to him.”
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào quán tự ngã dưới nhiều hình thức sai khác, quán cả năm thủ uẩn hay quán một trong năm thủ uẩn.
Vi-n 4 Thế nào là năm? Này các Tỷ-kheo, ở đây kẻ vô văn phàm phu không được thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc, quán thọ … quán tưởng … quán các hành … quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Nếu quán như vậy, thời đi đến chấp kiến: “Tôi là”.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, khi đi đến chấp kiến: “Tôi là”, thời năm căn nhập vào avakkanti (hiện hữu), tức là nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn.
Vi-n 6 Này các Tỷ-kheo, có ý, có các pháp, có vô minh giới. Cảm xúc bởi cảm thọ, cảm thọ này sanh do xúc chạm với vô minh; kẻ vô văn phàm phu đi đến chấp kiến: “Tôi là”, đi đến chấp kiến: “Cái này là tôi”, đi đến chấp kiến: ” Tôi sẽ là”, đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ không là”, đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ hiện hữu với sắc”, đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ hiện hữu với vô sắc”, đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ hiện hữu với tưởng”, đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ hiện hữu với không tưởng”, đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ hiện hữu với phi tưởng phi phi tưởng”.
Vi-n 7 Như vậy, này các Tỷ-kheo, do năm căn an trú ở đây, nhưng đối với vị Ða văn Thánh đệ tử, vô minh được đoạn trừ và minh khởi lên. Do vô minh được viễn ly, do minh sanh khởi, không đi đến chấp kiến: “Tôi là”, không đi đến chấp kiến: “Cái này là tôi”, không đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ hiện hữu” … “Tôi sẽ không hiện hữu” … “Tôi sẽ hiện hữu với sắc” … “Tôi sẽ hiện hữu với vô sắc” … “Tôi sẽ hiện hữu với tưởng” … “Tôi sẽ hiện hữu với vô tưởng”, không đi đến chấp kiến: “Tôi sẽ hiện hữu với phi tưởng phi phi tưởng”.
Sāvatthinidānaṁ.
“Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā anekavihitaṁ attānaṁ samanupassamānā samanupassanti, sabbete pañcupādānakkhandhe samanupassanti, etesaṁ vā aññataraṁ.
Katame pañca?
Idha, bhikkhave, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto
rūpaṁ attato samanupassati, rūpavantaṁ vā attānaṁ; attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ.
Vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ attato samanupassati, viññāṇavantaṁ vā attānaṁ; attani vā viññāṇaṁ, viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.
Iti ayañceva samanupassanā ‘asmī’ti cassa avigataṁ hoti.
‘Asmī’ti kho pana, bhikkhave, avigate pañcannaṁ indriyānaṁ avakkanti hoti—
cakkhundriyassa sotindriyassa ghānindriyassa jivhindriyassa kāyindriyassa.
Atthi, bhikkhave, mano, atthi dhammā, atthi avijjādhātu.
Avijjāsamphassajena, bhikkhave, vedayitena phuṭṭhassa assutavato puthujjanassa ‘asmī’tipissa hoti;
‘ayamahamasmī’tipissa hoti;
‘bhavissan’tipissa hoti;
‘na bhavissan’tipissa hoti;
‘rūpī bhavissan’tipissa hoti;
‘arūpī bhavissan’tipissa hoti;
‘saññī bhavissan’tipissa hoti;
‘asaññī bhavissan’tipissa hoti;
‘nevasaññīnāsaññī bhavissan’tipissa hoti.
Tiṭṭhanteva kho, bhikkhave, tattheva pañcindriyāni.
Athettha sutavato ariyasāvakassa avijjā pahīyati, vijjā uppajjati.
Tassa avijjāvirāgā vijjuppādā ‘asmī’tipissa na hoti;
‘ayamahamasmī’tipissa na hoti;
‘bhavissan’ti …
‘na bhavissan’ti …
rūpī …
arūpī …
saññī …
asaññī …
‘nevasaññīnāsaññī bhavissan’tipissa na hotī”ti.
Pañcamaṁ.