Vi-n 1 Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một Sa-di-ni đi giữa hư không.
Vi-n 2 Y tăng-già-lê (sanghàti) của vị này bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Bình bát cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Cái nịt cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Thân cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Vị ấy thốt lên những tiếng kêu đau đớn.
Vi-n 3 Này Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau: “Thật vi diệu thay, thật hy hữu thay! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một chúng sanh như vậy. Một kẻ có tên như vậy trở thành một Dạ-xoa như vậy. Một kẻ có tên như vậy lại trở thành được một tự ngã như vậy”.
Vi-n 4 Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Sống với nhau như thực nhãn, này các Tỷ-kheo, là các đệ tử. Sống với nhau như thực trí, này các Tỷ-kheo, là các đệ tử. Vì rằng, một đệ tử sẽ biết, hay sẽ thấy, hay sẽ chứng thực như vậy.
Vi-n 5 Xưa kia, này các Tỷ-kheo, Ta cũng thấy Sa-di-ni ấy, nhưng Ta không có nói. Nếu Ta có nói, các người khác cũng không tin Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài.
Vi-n 6 Vị Sa-di-ni ấy, này các Tỷ-kheo, là một ác Sa-di-ni trong thời bậc Chánh Ðẳng Giác Kassapa thuyết pháp. Do nghiệp của người đó thuần thục, sau khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, và với quả thuần thục còn lại, người đó cảm thọ một tự ngã như vậy.
“Idhāhaṁ, āvuso, gijjhakūṭā pabbatā orohanto addasaṁ sāmaṇeriṁ vehāsaṁ gacchantiṁ.
Tassā saṅghāṭipi ādittā sampajjalitā sajotibhūtā, pattopi āditto sampajjalito sajotibhūto, kāyabandhanampi ādittaṁ sampajjalitaṁ sajotibhūtaṁ, kāyopi āditto sampajjalito sajotibhūto.
Sā sudaṁ aṭṭassaraṁ karoti.
Tassa mayhaṁ, āvuso, etadahosi:
‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho.
Evarūpopi nāma satto bhavissati.
Evarūpopi nāma yakkho bhavissati.
Evarūpopi nāma attabhāvapaṭilābho bhavissatī’”ti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“cakkhubhūtā vata, bhikkhave, sāvakā viharanti;
ñāṇabhūtā vata, bhikkhave, sāvakā viharanti, yatra hi nāma sāvako evarūpaṁ ñassati vā dakkhati vā sakkhiṁ vā karissati.
Pubbeva me sā, bhikkhave, sāmaṇerī diṭṭhā ahosi.
Api cāhaṁ na byākāsiṁ.
Ahañcetaṁ byākareyyaṁ, pare ca me na saddaheyyuṁ.
Ye me na saddaheyyuṁ, tesaṁ taṁ assa dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
Esā, bhikkhave, sāmaṇerī kassapassa sammāsambuddhassa pāvacane pāpasāmaṇerī ahosi.
Sā tassa kammassa vipākena bahūni vassāni bahūni vassasatāni bahūni vassasahassāni bahūni vassasatasahassāni niraye paccitvā tasseva kammassa vipākāvasesena evarūpaṁ attabhāvapaṭilābhaṁ paṭisaṁvedayatī”ti.
Ekādasamaṁ.
Dutiyo vaggo.
Tassuddānaṁ
Kūpe nimuggo hi so pāradāriko,
Gūthakhādi ahu duṭṭhabrāhmaṇo;
Nicchavitthi aticārinī ahu,
Maṅgulitthi ahu ikkhaṇitthikā;
Okilini sapattaṅgārokiri,
Sīsacchinno ahu coraghātako.
Bhikkhu bhikkhunī sikkhamānā,
Sāmaṇero atha sāmaṇerikā;
Kassapassa vinayasmiṁ pabbajjaṁ,
Pāpakammaṁ kariṁsu tāvadeti.
Lakkhaṇasaṁyuttaṁ samattaṁ.
“Just now, reverend, as I was descending from Vulture’s Peak Mountain I saw a novice nun flying through the air.
Her outer robe, bowl, belt, and body were burning, blazing, and glowing
as she screamed in pain.
It occurred to me:
‘Oh lord, how incredible, how amazing!
That there can be such a sentient being,
such a spirit,
such an incarnation!’”
Then the Buddha said to the mendicants:
“Mendicants, there are disciples who live full of vision and knowledge,
since a disciple knows, sees, and witnesses such a thing.
Formerly, I too saw that novice nun, but I did not speak of it.
For if I had spoken of it others would not have believed me,
which would be for their lasting harm and suffering.
That female novice used to be a bad novice nun in the time of the Buddha Kassapa’s dispensation.
As a result of that deed she burned in hell for many years, many hundreds, many thousands, many hundreds of thousands of years. Now she experiences the residual result of that deed in such an incarnation.”
The Linked Discourses with Mark are complete.
Vi-n 1 Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một Sa-di-ni đi giữa hư không.
Vi-n 2 Y tăng-già-lê (sanghàti) của vị này bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Bình bát cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Cái nịt cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Thân cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Vị ấy thốt lên những tiếng kêu đau đớn.
Vi-n 3 Này Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau: “Thật vi diệu thay, thật hy hữu thay! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một chúng sanh như vậy. Một kẻ có tên như vậy trở thành một Dạ-xoa như vậy. Một kẻ có tên như vậy lại trở thành được một tự ngã như vậy”.
Vi-n 4 Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Sống với nhau như thực nhãn, này các Tỷ-kheo, là các đệ tử. Sống với nhau như thực trí, này các Tỷ-kheo, là các đệ tử. Vì rằng, một đệ tử sẽ biết, hay sẽ thấy, hay sẽ chứng thực như vậy.
Vi-n 5 Xưa kia, này các Tỷ-kheo, Ta cũng thấy Sa-di-ni ấy, nhưng Ta không có nói. Nếu Ta có nói, các người khác cũng không tin Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài.
Vi-n 6 Vị Sa-di-ni ấy, này các Tỷ-kheo, là một ác Sa-di-ni trong thời bậc Chánh Ðẳng Giác Kassapa thuyết pháp. Do nghiệp của người đó thuần thục, sau khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, và với quả thuần thục còn lại, người đó cảm thọ một tự ngã như vậy.
“Idhāhaṁ, āvuso, gijjhakūṭā pabbatā orohanto addasaṁ sāmaṇeriṁ vehāsaṁ gacchantiṁ.
Tassā saṅghāṭipi ādittā sampajjalitā sajotibhūtā, pattopi āditto sampajjalito sajotibhūto, kāyabandhanampi ādittaṁ sampajjalitaṁ sajotibhūtaṁ, kāyopi āditto sampajjalito sajotibhūto.
Sā sudaṁ aṭṭassaraṁ karoti.
Tassa mayhaṁ, āvuso, etadahosi:
‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho.
Evarūpopi nāma satto bhavissati.
Evarūpopi nāma yakkho bhavissati.
Evarūpopi nāma attabhāvapaṭilābho bhavissatī’”ti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“cakkhubhūtā vata, bhikkhave, sāvakā viharanti;
ñāṇabhūtā vata, bhikkhave, sāvakā viharanti, yatra hi nāma sāvako evarūpaṁ ñassati vā dakkhati vā sakkhiṁ vā karissati.
Pubbeva me sā, bhikkhave, sāmaṇerī diṭṭhā ahosi.
Api cāhaṁ na byākāsiṁ.
Ahañcetaṁ byākareyyaṁ, pare ca me na saddaheyyuṁ.
Ye me na saddaheyyuṁ, tesaṁ taṁ assa dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
Esā, bhikkhave, sāmaṇerī kassapassa sammāsambuddhassa pāvacane pāpasāmaṇerī ahosi.
Sā tassa kammassa vipākena bahūni vassāni bahūni vassasatāni bahūni vassasahassāni bahūni vassasatasahassāni niraye paccitvā tasseva kammassa vipākāvasesena evarūpaṁ attabhāvapaṭilābhaṁ paṭisaṁvedayatī”ti.
Ekādasamaṁ.
Dutiyo vaggo.
Tassuddānaṁ
Kūpe nimuggo hi so pāradāriko,
Gūthakhādi ahu duṭṭhabrāhmaṇo;
Nicchavitthi aticārinī ahu,
Maṅgulitthi ahu ikkhaṇitthikā;
Okilini sapattaṅgārokiri,
Sīsacchinno ahu coraghātako.
Bhikkhu bhikkhunī sikkhamānā,
Sāmaṇero atha sāmaṇerikā;
Kassapassa vinayasmiṁ pabbajjaṁ,
Pāpakammaṁ kariṁsu tāvadeti.
Lakkhaṇasaṁyuttaṁ samattaṁ.