Vi-n 1 Một thời Thế Tôn du hành ở giữa dân tộc Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo và đi đến Nàlandà. Tại đây, Thế Tôn trú ở Nàlandà, tại rừng Pàvarikamba.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Nàlandà đang bị đói kém, khó để lo miệng sống (dviihitikà), xương trắng đầy tràn, lúa chỉ còn cọng rạ (sālākāvuttā).
Vi-n 3 Lúc bấy giờ Nigaṇṭha Nātaputta sống ở Nàlandà với đại chúng Nigaṇṭha.
Vi-n 4 Rồi Thôn trưởng Asibandhakaputta, đệ tử của Nigaṇṭha Nātaputta, đi đến Nigaṇṭha Nātaputta; sau khi đến đảnh lễ Nigaṇṭha Nātaputta rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 5 Nigaṇṭha Nàtaputtta nói với thôn trưởng Asibandhakaputta đang ngồi một bên:
—Hãy đến, này Thôn trưởng, hãy đến cật vấn Sa-môn Gotama. Như vậy, tiếng đồn tốt đẹp sẽ được lan khắp về Ông: “Sa-môn Gotama, một vị có thần lực như vậy, có uy lực như vậy, đã bị thôn trưởng Asibandhakaputta cật vấn!”
—Thưa Tôn giả, làm thế nào con có thể cật vấn Sa-môn Gotama, một vị có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy?
Vi-n 6 —Hãy đến, này Thôn trưởng, hãy đến Sa-môn Gotama; sau khi đến, nói với Sa-môn Gotama như sau:
“—Bạch Thế Tôn, có phải Thế Tôn dùng nhiều phương tiện tán thán, thương kính các gia đình, tán thán bảo vệ các gia đình, tán thán từ mẫn với các gia đình”?
Này Thôn trưởng, được hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như sau:
“—Ðúng như vậy, này Thôn trưởng, Như Lai dùng nhiều phương tiện tán thán, thương kính các gia đình, tán thán sự bảo vệ, tán thán lòng từ mẫn”.
Thời ông hỏi Sa-môn Gotama:
“—Vậy vì sao, bạch Thế Tôn, Thế Tôn cùng đại chúng Tỷ-kheo lại du hành tại Nàlandà đói kém, khó để lo miệng sống, xương trắng đầy tràn, lúa chỉ còn cọng rạ? Như vậy, Thế Tôn thực hành tàn phá các gia đình, thực hành sự bất hạnh cho các gia đình, thực hành sự tổn hại cho các gia đình”.
Như vậy, này Thôn trưởng, bị ông hỏi với câu hỏi có hai đầu nhọn, Sa-môn Gotama không có thể nhổ ra, cũng như không có thể nuốt xuống.
Vi-n 7 —Thưa vâng, Tôn giả.
Thôn trưởng Asibandhakaputta vâng đáp Nigaṇṭha Nātaputta, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Nigaṇṭha Nātaputta, thân phía hữu hướng về người rồi đi đến Thế Tôn; sau khi đến, thôn trưởng đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 8 Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Asiband-hakaputta bạch Thế Tôn:
—Có phải, bạch Thế Tôn, Thế Tôn dùng nhiều phương tiện tán thán, thương kính các gia đình, tán thán sự bảo vệ, tán thán lòng từ mẫn?
—Ðúng vậy, này Thôn trưởng, Như Lai dùng nhiều phương tiện tán thán, thương kính các gia đình, tán thán sự bảo vệ, tán thán lòng từ mẫn.
—Vậy vì sao, bạch Thế Tôn, Thế Tôn cùng đại chúng Tỷ-kheo lại du hành tại Nàlandà đói kém, khó để lo miệng sống, xương trắng đầy tràn, lúa chỉ còn cọng rạ? Như vậy, Thế Tôn thực hành tàn phá các gia đình, thực hành bất hạnh cho các gia đình, thực hành tổn hại cho các gia đình.
Vi-n 9 —Này Thôn trưởng, Ta nhớ từ chín mươi mốt kiếp về trước, Ta không hề biết đã có làm hại một gia đình cho đến một bữa cơm nấu cúng dường. Các gia đình ấy đều rất giàu, tiền của nhiều, tài sản nhiều, vàng bạc nhiều, vật dụng nhiều, ngũ cốc nhiều. Tất cả tài sản ấy được thâu hoạch do bố thí, được thâu hoạch một cách chân thật, được thâu hoạch một cách tự chế.
Vi-n 10 Này Thôn trưởng, có tám nhân, có tám duyên làm tổn hại các gia đình. Do quốc vương, các gia đình đi đến tổn hại. Hay do trộm cướp, các gia đình đi đến tổn hại. Hay do lửa, các gia đình đi đến tổn hại. Hay do nước, các gia đình đi đến tổn hại. Hay họ tìm không được tiền của dấu cất. Hay do biếng nhác, họ bỏ bê công việc. Hay trong gia đình khởi lên kẻ phá hoại gia đình, người ấy phân tán, phá hoại, làm tổn hại (vikirati vidhamati viddhamseti). Và vô thường là thứ tám. Này Thôn trưởng, chính tám nhân, tám duyên này làm tổn hại các gia đình.
Vi-n 11 Này Thôn trưởng, vì rằng tám nhân này, tám duyên này có mặt, có hiện hữu, nếu ai nói về Ta như sau: “Thế Tôn thực hành tàn phá các gia đình, thực hành bất hạnh cho các gia đình, thực hành tổn hại cho các gia đình; thời này Thôn trưởng, nếu người ấy không bỏ lời nói ấy, không bỏ tâm ấy, không từ bỏ kiến ấy, chắc chắn (yathàhatam) người ấy sẽ bị ném vào địa ngục như vậy.
Vi-n 12 Khi được nói vậy, thôn trưởng Asiband-hakaputta bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! … từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena nāḷandā tadavasari.
Tatra sudaṁ bhagavā nāḷandāyaṁ viharati pāvārikambavane.
Tena kho pana samayena nāḷandā dubbhikkhā hoti dvīhitikā setaṭṭhikā salākāvuttā.
Tena kho pana samayena nigaṇṭho nāṭaputto nāḷandāyaṁ paṭivasati mahatiyā nigaṇṭhaparisāya saddhiṁ.
Atha kho asibandhakaputto gāmaṇi nigaṇṭhasāvako yena nigaṇṭho nāṭaputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho asibandhakaputtaṁ gāmaṇiṁ nigaṇṭho nāṭaputto etadavoca:
“ehi tvaṁ, gāmaṇi, samaṇassa gotamassa vādaṁ āropehi.
Evaṁ te kalyāṇo kittisaddo abbhuggacchissati:
‘asibandhakaputtena gāmaṇinā samaṇassa gotamassa evaṁmahiddhikassa evaṁmahānubhāvassa vādo āropito’”ti.
“Kathaṁ panāhaṁ, bhante, samaṇassa gotamassa evaṁmahiddhikassa evaṁmahānubhāvassa vādaṁ āropessāmī”ti?
“Ehi tvaṁ, gāmaṇi, yena samaṇo gotamo tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā samaṇaṁ gotamaṁ evaṁ vadehi:
‘nanu, bhante, bhagavā anekapariyāyena kulānaṁ anuddayaṁ vaṇṇeti, anurakkhaṁ vaṇṇeti, anukampaṁ vaṇṇetī’ti?
Sace kho, gāmaṇi, samaṇo gotamo evaṁ puṭṭho evaṁ byākaroti:
‘evaṁ, gāmaṇi, tathāgato anekapariyāyena kulānaṁ anuddayaṁ vaṇṇeti, anurakkhaṁ vaṇṇeti, anukampaṁ vaṇṇetī’ti, tamenaṁ tvaṁ evaṁ vadeyyāsi:
‘atha kiñcarahi, bhante, bhagavā dubbhikkhe dvīhitike setaṭṭhike salākāvutte mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ cārikaṁ carati?
Ucchedāya bhagavā kulānaṁ paṭipanno, anayāya bhagavā kulānaṁ paṭipanno, upaghātāya bhagavā kulānaṁ paṭipanno’ti.
Imaṁ kho te, gāmaṇi, samaṇo gotamo ubhatokoṭikaṁ pañhaṁ puṭṭho neva sakkhati uggilituṁ, neva sakkhati ogilitun”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho asibandhakaputto gāmaṇi nigaṇṭhassa nāṭaputtassa paṭissutvā uṭṭhāyāsanā nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho asibandhakaputto gāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:
“Nanu, bhante, bhagavā anekapariyāyena kulānaṁ anuddayaṁ vaṇṇeti, anurakkhaṁ vaṇṇeti, anukampaṁ vaṇṇetī”ti?
“Evaṁ, gāmaṇi, tathāgato anekapariyāyena kulānaṁ anuddayaṁ vaṇṇeti, anurakkhaṁ vaṇṇeti, anukampaṁ vaṇṇetī”ti.
“Atha kiñcarahi, bhante, bhagavā dubbhikkhe dvīhitike setaṭṭhike salākāvutte mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ cārikaṁ carati?
Ucchedāya bhagavā kulānaṁ paṭipanno, anayāya bhagavā kulānaṁ paṭipanno, upaghātāya bhagavā kulānaṁ paṭipanno”ti.
“Ito so, gāmaṇi, ekanavutikappe yamahaṁ anussarāmi, nābhijānāmi kiñci kulaṁ pakkabhikkhānuppadānamattena upahatapubbaṁ.
Atha kho yāni tāni kulāni aḍḍhāni mahaddhanāni mahābhogāni pahūtajātarūparajatāni pahūtavittūpakaraṇāni pahūtadhanadhaññāni, sabbāni tāni dānasambhūtāni ceva saccasambhūtāni ca sāmaññasambhūtāni ca.
Aṭṭha kho, gāmaṇi, hetū, aṭṭha paccayā kulānaṁ upaghātāya.
Rājato vā kulāni upaghātaṁ gacchanti, corato vā kulāni upaghātaṁ gacchanti, aggito vā kulāni upaghātaṁ gacchanti, udakato vā kulāni upaghātaṁ gacchanti, nihitaṁ vā ṭhānā vigacchati, duppayuttā vā kammantā vipajjanti, kule vā kulaṅgāroti uppajjati, yo te bhoge vikirati vidhamati viddhaṁseti, aniccatāyeva aṭṭhamīti.
Ime kho, gāmaṇi, aṭṭha hetū, aṭṭha paccayā kulānaṁ upaghātāya.
Imesu kho, gāmaṇi, aṭṭhasu hetūsu, aṭṭhasu paccayesu saṁvijjamānesu yo maṁ evaṁ vadeyya:
‘ucchedāya bhagavā kulānaṁ paṭipanno, anayāya bhagavā kulānaṁ paṭipanno, upaghātāya bhagavā kulānaṁ paṭipanno’ti,
taṁ, gāmaṇi, vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye”ti.
Evaṁ vutte, asibandhakaputto gāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante …pe…
upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Navamaṁ.
At one time the Buddha was wandering in the land of the Kosalans together with a large Saṅgha of mendicants when he arrived at Nāḷandā.
There he stayed near Nāḷandā in Pāvārika’s mango grove.
Now at that time Nāḷandā was undergoing famine and scarcity, with crops blighted and turned to straw.
At that time the Jain ascetic of the Ñātika clan was residing at Nāḷandā together with a large assembly of Jain ascetics.
Then Asibandhaka’s son the chief, who was a disciple of the Jains, went up to the Jain Ñātika, bowed, and sat down to one side. The Jain Ñātika said to him:
“Come, chief, refute the ascetic Gotama’s doctrine.
Then you will get a good reputation:
‘Asibandhaka’s son the chief refuted the doctrine of the ascetic Gotama, so mighty and powerful!’”
“But sir, how am I to do this?”
“Here, brahmin, go to the ascetic Gotama and say to him:
‘Sir, don’t you in many ways praise kindness, protection, and sympathy for families?’
When he’s asked this, if he answers:
‘Indeed I do, chief,’ say this to him:
‘So what then are you doing, wandering together with this large Saṅgha of mendicants during a time of famine and scarcity, with crops blighted and turned to straw?
The Buddha is practicing to annihilate, collapse, and ruin families!’
When you put this dilemma to him, the Buddha won’t be able to either spit it out or swallow it down.”
“Yes, sir,” replied Asibandhaka’s son. He got up from his seat, bowed, and respectfully circled the Jain Ñātika, keeping him on his right. Then he went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, don’t you in many ways praise kindness, protection, and sympathy for families?”
“Indeed I do, chief.”
“So what then are you doing, wandering together with this large Saṅgha of mendicants during a time of famine and scarcity, with crops blighted and turned to straw?
The Buddha is practicing to annihilate, collapse, and ruin families!”
“Well, chief, I recollect ninety-one eons back but I’m not aware of any family that’s been ruined merely by offering some cooked almsfood.
Rather, rich, affluent, and wealthy families—with lots of gold and silver, lots of property and assets, and lots of money and grain—all acquired their wealth because of giving, truth, and restraint.
Chief, there are eight causes and reasons for the ruin of families.
Their ruin stems from rulers, bandits, fire, or flood. Or they lose their savings. Or their business fails due to not applying themselves to work. Or a wastrel is born into the family who squanders and fritters away their wealth. And impermanence is the eighth.
These are the eight causes and reasons for the ruin of families.
Given that these eight reasons are found, suppose someone says this:
‘The Buddha is practicing to annihilate, collapse, and ruin families!’
Unless they give up that speech and that thought, and let go of that view, they will be placed in hell as if delivered there.”
When he said this, Asibandhaka’s son the chief said to the Buddha,
“Excellent, sir! Excellent! …
From this day forth, may the Buddha remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn du hành ở giữa dân tộc Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo và đi đến Nàlandà. Tại đây, Thế Tôn trú ở Nàlandà, tại rừng Pàvarikamba.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Nàlandà đang bị đói kém, khó để lo miệng sống (dviihitikà), xương trắng đầy tràn, lúa chỉ còn cọng rạ (sālākāvuttā).
Vi-n 3 Lúc bấy giờ Nigaṇṭha Nātaputta sống ở Nàlandà với đại chúng Nigaṇṭha.
Vi-n 4 Rồi Thôn trưởng Asibandhakaputta, đệ tử của Nigaṇṭha Nātaputta, đi đến Nigaṇṭha Nātaputta; sau khi đến đảnh lễ Nigaṇṭha Nātaputta rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 5 Nigaṇṭha Nàtaputtta nói với thôn trưởng Asibandhakaputta đang ngồi một bên:
—Hãy đến, này Thôn trưởng, hãy đến cật vấn Sa-môn Gotama. Như vậy, tiếng đồn tốt đẹp sẽ được lan khắp về Ông: “Sa-môn Gotama, một vị có thần lực như vậy, có uy lực như vậy, đã bị thôn trưởng Asibandhakaputta cật vấn!”
—Thưa Tôn giả, làm thế nào con có thể cật vấn Sa-môn Gotama, một vị có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy?
Vi-n 6 —Hãy đến, này Thôn trưởng, hãy đến Sa-môn Gotama; sau khi đến, nói với Sa-môn Gotama như sau:
“—Bạch Thế Tôn, có phải Thế Tôn dùng nhiều phương tiện tán thán, thương kính các gia đình, tán thán bảo vệ các gia đình, tán thán từ mẫn với các gia đình”?
Này Thôn trưởng, được hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như sau:
“—Ðúng như vậy, này Thôn trưởng, Như Lai dùng nhiều phương tiện tán thán, thương kính các gia đình, tán thán sự bảo vệ, tán thán lòng từ mẫn”.
Thời ông hỏi Sa-môn Gotama:
“—Vậy vì sao, bạch Thế Tôn, Thế Tôn cùng đại chúng Tỷ-kheo lại du hành tại Nàlandà đói kém, khó để lo miệng sống, xương trắng đầy tràn, lúa chỉ còn cọng rạ? Như vậy, Thế Tôn thực hành tàn phá các gia đình, thực hành sự bất hạnh cho các gia đình, thực hành sự tổn hại cho các gia đình”.
Như vậy, này Thôn trưởng, bị ông hỏi với câu hỏi có hai đầu nhọn, Sa-môn Gotama không có thể nhổ ra, cũng như không có thể nuốt xuống.
Vi-n 7 —Thưa vâng, Tôn giả.
Thôn trưởng Asibandhakaputta vâng đáp Nigaṇṭha Nātaputta, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Nigaṇṭha Nātaputta, thân phía hữu hướng về người rồi đi đến Thế Tôn; sau khi đến, thôn trưởng đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 8 Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Asiband-hakaputta bạch Thế Tôn:
—Có phải, bạch Thế Tôn, Thế Tôn dùng nhiều phương tiện tán thán, thương kính các gia đình, tán thán sự bảo vệ, tán thán lòng từ mẫn?
—Ðúng vậy, này Thôn trưởng, Như Lai dùng nhiều phương tiện tán thán, thương kính các gia đình, tán thán sự bảo vệ, tán thán lòng từ mẫn.
—Vậy vì sao, bạch Thế Tôn, Thế Tôn cùng đại chúng Tỷ-kheo lại du hành tại Nàlandà đói kém, khó để lo miệng sống, xương trắng đầy tràn, lúa chỉ còn cọng rạ? Như vậy, Thế Tôn thực hành tàn phá các gia đình, thực hành bất hạnh cho các gia đình, thực hành tổn hại cho các gia đình.
Vi-n 9 —Này Thôn trưởng, Ta nhớ từ chín mươi mốt kiếp về trước, Ta không hề biết đã có làm hại một gia đình cho đến một bữa cơm nấu cúng dường. Các gia đình ấy đều rất giàu, tiền của nhiều, tài sản nhiều, vàng bạc nhiều, vật dụng nhiều, ngũ cốc nhiều. Tất cả tài sản ấy được thâu hoạch do bố thí, được thâu hoạch một cách chân thật, được thâu hoạch một cách tự chế.
Vi-n 10 Này Thôn trưởng, có tám nhân, có tám duyên làm tổn hại các gia đình. Do quốc vương, các gia đình đi đến tổn hại. Hay do trộm cướp, các gia đình đi đến tổn hại. Hay do lửa, các gia đình đi đến tổn hại. Hay do nước, các gia đình đi đến tổn hại. Hay họ tìm không được tiền của dấu cất. Hay do biếng nhác, họ bỏ bê công việc. Hay trong gia đình khởi lên kẻ phá hoại gia đình, người ấy phân tán, phá hoại, làm tổn hại (vikirati vidhamati viddhamseti). Và vô thường là thứ tám. Này Thôn trưởng, chính tám nhân, tám duyên này làm tổn hại các gia đình.
Vi-n 11 Này Thôn trưởng, vì rằng tám nhân này, tám duyên này có mặt, có hiện hữu, nếu ai nói về Ta như sau: “Thế Tôn thực hành tàn phá các gia đình, thực hành bất hạnh cho các gia đình, thực hành tổn hại cho các gia đình; thời này Thôn trưởng, nếu người ấy không bỏ lời nói ấy, không bỏ tâm ấy, không từ bỏ kiến ấy, chắc chắn (yathàhatam) người ấy sẽ bị ném vào địa ngục như vậy.
Vi-n 12 Khi được nói vậy, thôn trưởng Asiband-hakaputta bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! … từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena nāḷandā tadavasari.
Tatra sudaṁ bhagavā nāḷandāyaṁ viharati pāvārikambavane.
Tena kho pana samayena nāḷandā dubbhikkhā hoti dvīhitikā setaṭṭhikā salākāvuttā.
Tena kho pana samayena nigaṇṭho nāṭaputto nāḷandāyaṁ paṭivasati mahatiyā nigaṇṭhaparisāya saddhiṁ.
Atha kho asibandhakaputto gāmaṇi nigaṇṭhasāvako yena nigaṇṭho nāṭaputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho asibandhakaputtaṁ gāmaṇiṁ nigaṇṭho nāṭaputto etadavoca:
“ehi tvaṁ, gāmaṇi, samaṇassa gotamassa vādaṁ āropehi.
Evaṁ te kalyāṇo kittisaddo abbhuggacchissati:
‘asibandhakaputtena gāmaṇinā samaṇassa gotamassa evaṁmahiddhikassa evaṁmahānubhāvassa vādo āropito’”ti.
“Kathaṁ panāhaṁ, bhante, samaṇassa gotamassa evaṁmahiddhikassa evaṁmahānubhāvassa vādaṁ āropessāmī”ti?
“Ehi tvaṁ, gāmaṇi, yena samaṇo gotamo tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā samaṇaṁ gotamaṁ evaṁ vadehi:
‘nanu, bhante, bhagavā anekapariyāyena kulānaṁ anuddayaṁ vaṇṇeti, anurakkhaṁ vaṇṇeti, anukampaṁ vaṇṇetī’ti?
Sace kho, gāmaṇi, samaṇo gotamo evaṁ puṭṭho evaṁ byākaroti:
‘evaṁ, gāmaṇi, tathāgato anekapariyāyena kulānaṁ anuddayaṁ vaṇṇeti, anurakkhaṁ vaṇṇeti, anukampaṁ vaṇṇetī’ti, tamenaṁ tvaṁ evaṁ vadeyyāsi:
‘atha kiñcarahi, bhante, bhagavā dubbhikkhe dvīhitike setaṭṭhike salākāvutte mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ cārikaṁ carati?
Ucchedāya bhagavā kulānaṁ paṭipanno, anayāya bhagavā kulānaṁ paṭipanno, upaghātāya bhagavā kulānaṁ paṭipanno’ti.
Imaṁ kho te, gāmaṇi, samaṇo gotamo ubhatokoṭikaṁ pañhaṁ puṭṭho neva sakkhati uggilituṁ, neva sakkhati ogilitun”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho asibandhakaputto gāmaṇi nigaṇṭhassa nāṭaputtassa paṭissutvā uṭṭhāyāsanā nigaṇṭhaṁ nāṭaputtaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho asibandhakaputto gāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:
“Nanu, bhante, bhagavā anekapariyāyena kulānaṁ anuddayaṁ vaṇṇeti, anurakkhaṁ vaṇṇeti, anukampaṁ vaṇṇetī”ti?
“Evaṁ, gāmaṇi, tathāgato anekapariyāyena kulānaṁ anuddayaṁ vaṇṇeti, anurakkhaṁ vaṇṇeti, anukampaṁ vaṇṇetī”ti.
“Atha kiñcarahi, bhante, bhagavā dubbhikkhe dvīhitike setaṭṭhike salākāvutte mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ cārikaṁ carati?
Ucchedāya bhagavā kulānaṁ paṭipanno, anayāya bhagavā kulānaṁ paṭipanno, upaghātāya bhagavā kulānaṁ paṭipanno”ti.
“Ito so, gāmaṇi, ekanavutikappe yamahaṁ anussarāmi, nābhijānāmi kiñci kulaṁ pakkabhikkhānuppadānamattena upahatapubbaṁ.
Atha kho yāni tāni kulāni aḍḍhāni mahaddhanāni mahābhogāni pahūtajātarūparajatāni pahūtavittūpakaraṇāni pahūtadhanadhaññāni, sabbāni tāni dānasambhūtāni ceva saccasambhūtāni ca sāmaññasambhūtāni ca.
Aṭṭha kho, gāmaṇi, hetū, aṭṭha paccayā kulānaṁ upaghātāya.
Rājato vā kulāni upaghātaṁ gacchanti, corato vā kulāni upaghātaṁ gacchanti, aggito vā kulāni upaghātaṁ gacchanti, udakato vā kulāni upaghātaṁ gacchanti, nihitaṁ vā ṭhānā vigacchati, duppayuttā vā kammantā vipajjanti, kule vā kulaṅgāroti uppajjati, yo te bhoge vikirati vidhamati viddhaṁseti, aniccatāyeva aṭṭhamīti.
Ime kho, gāmaṇi, aṭṭha hetū, aṭṭha paccayā kulānaṁ upaghātāya.
Imesu kho, gāmaṇi, aṭṭhasu hetūsu, aṭṭhasu paccayesu saṁvijjamānesu yo maṁ evaṁ vadeyya:
‘ucchedāya bhagavā kulānaṁ paṭipanno, anayāya bhagavā kulānaṁ paṭipanno, upaghātāya bhagavā kulānaṁ paṭipanno’ti,
taṁ, gāmaṇi, vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye”ti.
Evaṁ vutte, asibandhakaputto gāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante …pe…
upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Navamaṁ.