Vi-n 1 Tại Sāvatthi.
Vi-n 2 —Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật sự thế giới này bị hãm trong khổ não, bị sanh, bị già, bị chết, bị đoạn diệt và bị tái sanh; và từ nơi đau khổ này, không biết sự xuất ly, thoát khỏi già, chết; từ nơi đau khổ này, không biết khi nào được biết đến sự xuất ly già, chết”.
Vi-n 3 Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Cái gì có mặt, già, chết có mặt? Do duyên gì, già, chết sanh khởi?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ, Ta phát sinh minh kiến như sau: “Do sanh có mặt nên già, chết có mặt. Do duyên sanh nên già, chết sanh khởi”.
Vi-n 4-13. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Cái gì có mặt, sanh mới có mặt … hữu … thủ … ái … thọ … xúc … sáu xứ … danh sắc … thức … hành … Do duyên gì hành sanh khởi?”
Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy về vấn đề này, nhờ trí tuệ, Ta phát sanh minh kiến như sau: “Do vô minh có mặt nên hành có mặt. Do duyên vô minh nên hành sanh khởi”.
Vi-n 14 Như vậy vô minh duyên hành, hành duyên thức … (như trên) … hữu duyên sanh, sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Vi-n 15 “Tập khởi, tập khởi”, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, chính nơi Ta, nhãn khởi lên, trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.
Vi-n 16 Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Cái gì không có mặt, già, chết không có mặt? Do cái gì diệt, nên già, chết diệt?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy về vấn đề này, nhờ trí tuệ, Ta phát sanh minh kiến như sau: “Do sanh không có mặt nên già, chết không có mặt. Do sanh diệt nên già, chết diệt”.
Vi-n 17 Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Cái gì không có mặt, sanh không có mặt..hữu..thủ..ái..thọ..xúc..sáu xứ … danh sắc..thức..hành … Do cái gì diệt, hành diệt?”
Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy về vấn đề này, nhờ trí tuệ, Ta phát sanh minh kiến như sau: “Do vô minh không có mặt nên hành không có mặt. Do duyên vô minh diệt nên hành diệt”.
Vi-n 27 Như vậy, vô minh diệt hành diệt; hành diệt, thức diệt … Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
Vi-n 28 “Ðoạn diệt, đoạn diệt”, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, chính nơi Ta nhãn khởi lên, trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.
“Pubbeva me, bhikkhave, sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattasseva sato etadahosi:
‘kicchaṁ vatāyaṁ loko āpanno jāyati ca jīyati ca mīyati ca cavati ca upapajjati ca.
Atha ca panimassa dukkhassa nissaraṇaṁ nappajānāti jarāmaraṇassa.
Kudāssu nāma imassa dukkhassa nissaraṇaṁ paññāyissati jarāmaraṇassā’ti?
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi:
‘kimhi nu kho sati jarāmaraṇaṁ hoti, kiṁpaccayā jarāmaraṇan’ti?
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo:
‘jātiyā kho sati jarāmaraṇaṁ hoti, jātipaccayā jarāmaraṇan’ti.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi:
‘kimhi nu kho sati jāti hoti …pe…
bhavo …
upādānaṁ …
taṇhā …
vedanā …
phasso …
saḷāyatanaṁ …
nāmarūpaṁ …
viññāṇaṁ …
saṅkhārā honti, kiṁpaccayā saṅkhārā’ti?
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo:
‘avijjāya kho sati saṅkhārā honti, avijjāpaccayā saṅkhārā’ti.
Iti hidaṁ avijjāpaccayā saṅkhārā;
saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
‘Samudayo, samudayo’ti kho me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṁ udapādi, ñāṇaṁ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi:
‘kimhi nu kho asati jarāmaraṇaṁ na hoti, kissa nirodhā jarāmaraṇanirodho’ti?
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo:
‘jātiyā kho asati jarāmaraṇaṁ na hoti, jātinirodhā jarāmaraṇanirodho’ti.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi:
‘kimhi nu kho asati jāti na hoti …pe…
bhavo …
upādānaṁ …
taṇhā …
vedanā …
phasso …
saḷāyatanaṁ …
nāmarūpaṁ …
viññāṇaṁ …
saṅkhārā na honti, kissa nirodhā saṅkhāranirodho’ti?
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo:
‘avijjāya kho asati saṅkhārā na honti, avijjānirodhā saṅkhāranirodho’ti.
Iti hidaṁ avijjānirodhā saṅkhāranirodho;
saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti.
‘Nirodho, nirodho’ti kho me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṁ udapādi, ñāṇaṁ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādī”ti.
Dasamo.
Buddhavaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Desanā vibhaṅgapaṭipadā ca,
Vipassī sikhī ca vessabhū;
Kakusandho koṇāgamano kassapo,
Mahāsakyamuni ca gotamoti.
“Mendicants, before my awakening—when I was still unawakened but intent on awakening—I thought:
‘Alas, this world has fallen into trouble. It’s born, grows old, dies, passes away, and is reborn,
yet it doesn’t understand how to escape from this suffering, from old age and death.
Oh, when will an escape be found from this suffering, from old age and death?’
Then it occurred to me:
‘When what exists is there old age and death? What is a requirement for old age and death?’
Then, through rational application of mind, I penetrated with wisdom:
‘When rebirth exists there’s old age and death. Rebirth is a requirement for old age and death.’
Then it occurred to me:
‘When what exists is there rebirth? …
continued existence …
grasping …
craving …
feeling …
contact …
the six sense fields …
name and form …
consciousness …
‘When what exists are there choices? What is a requirement for choices?’
Then, through rational application of mind, I penetrated with wisdom:
‘When ignorance exists there are choices. Ignorance is a requirement for choices.’
And so, ignorance is a requirement for choices.
Choices are a requirement for consciousness. …
That is how this entire mass of suffering originates.
‘Origination, origination.’ Such was the vision, knowledge, wisdom, realization, and light that arose in me regarding teachings not learned before from another.
Then it occurred to me:
‘When what doesn’t exist is there no old age and death? When what ceases do old age and death cease?’
Then, through rational application of mind, I penetrated with wisdom:
‘When rebirth doesn’t exist there’s no old age and death. When rebirth ceases, old age and death cease.’
Then it occurred to me:
‘When what doesn’t exist is there no rebirth? …
continued existence …
grasping …
craving …
feeling …
contact …
the six sense fields …
name and form …
consciousness …
‘When what doesn’t exist are there no choices? When what ceases do choices cease?’
Then, through rational application of mind, I penetrated with wisdom:
‘When ignorance doesn’t exist there are no choices. When ignorance ceases, choices cease.’
And so, when ignorance ceases, choices cease.
When choices cease, consciousness ceases. …
That is how this entire mass of suffering ceases.
‘Cessation, cessation.’ Such was the vision, knowledge, wisdom, realization, and light that arose in me regarding teachings not learned before from another.”
Vi-n 1 Tại Sāvatthi.
Vi-n 2 —Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật sự thế giới này bị hãm trong khổ não, bị sanh, bị già, bị chết, bị đoạn diệt và bị tái sanh; và từ nơi đau khổ này, không biết sự xuất ly, thoát khỏi già, chết; từ nơi đau khổ này, không biết khi nào được biết đến sự xuất ly già, chết”.
Vi-n 3 Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Cái gì có mặt, già, chết có mặt? Do duyên gì, già, chết sanh khởi?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ, Ta phát sinh minh kiến như sau: “Do sanh có mặt nên già, chết có mặt. Do duyên sanh nên già, chết sanh khởi”.
Vi-n 4-13. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Cái gì có mặt, sanh mới có mặt … hữu … thủ … ái … thọ … xúc … sáu xứ … danh sắc … thức … hành … Do duyên gì hành sanh khởi?”
Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy về vấn đề này, nhờ trí tuệ, Ta phát sanh minh kiến như sau: “Do vô minh có mặt nên hành có mặt. Do duyên vô minh nên hành sanh khởi”.
Vi-n 14 Như vậy vô minh duyên hành, hành duyên thức … (như trên) … hữu duyên sanh, sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Vi-n 15 “Tập khởi, tập khởi”, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, chính nơi Ta, nhãn khởi lên, trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.
Vi-n 16 Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Cái gì không có mặt, già, chết không có mặt? Do cái gì diệt, nên già, chết diệt?” Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy về vấn đề này, nhờ trí tuệ, Ta phát sanh minh kiến như sau: “Do sanh không có mặt nên già, chết không có mặt. Do sanh diệt nên già, chết diệt”.
Vi-n 17 Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Cái gì không có mặt, sanh không có mặt..hữu..thủ..ái..thọ..xúc..sáu xứ … danh sắc..thức..hành … Do cái gì diệt, hành diệt?”
Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi như lý tư duy về vấn đề này, nhờ trí tuệ, Ta phát sanh minh kiến như sau: “Do vô minh không có mặt nên hành không có mặt. Do duyên vô minh diệt nên hành diệt”.
Vi-n 27 Như vậy, vô minh diệt hành diệt; hành diệt, thức diệt … Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
Vi-n 28 “Ðoạn diệt, đoạn diệt”, này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, chính nơi Ta nhãn khởi lên, trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.
“Pubbeva me, bhikkhave, sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattasseva sato etadahosi:
‘kicchaṁ vatāyaṁ loko āpanno jāyati ca jīyati ca mīyati ca cavati ca upapajjati ca.
Atha ca panimassa dukkhassa nissaraṇaṁ nappajānāti jarāmaraṇassa.
Kudāssu nāma imassa dukkhassa nissaraṇaṁ paññāyissati jarāmaraṇassā’ti?
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi:
‘kimhi nu kho sati jarāmaraṇaṁ hoti, kiṁpaccayā jarāmaraṇan’ti?
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo:
‘jātiyā kho sati jarāmaraṇaṁ hoti, jātipaccayā jarāmaraṇan’ti.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi:
‘kimhi nu kho sati jāti hoti …pe…
bhavo …
upādānaṁ …
taṇhā …
vedanā …
phasso …
saḷāyatanaṁ …
nāmarūpaṁ …
viññāṇaṁ …
saṅkhārā honti, kiṁpaccayā saṅkhārā’ti?
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo:
‘avijjāya kho sati saṅkhārā honti, avijjāpaccayā saṅkhārā’ti.
Iti hidaṁ avijjāpaccayā saṅkhārā;
saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
‘Samudayo, samudayo’ti kho me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṁ udapādi, ñāṇaṁ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi:
‘kimhi nu kho asati jarāmaraṇaṁ na hoti, kissa nirodhā jarāmaraṇanirodho’ti?
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo:
‘jātiyā kho asati jarāmaraṇaṁ na hoti, jātinirodhā jarāmaraṇanirodho’ti.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi:
‘kimhi nu kho asati jāti na hoti …pe…
bhavo …
upādānaṁ …
taṇhā …
vedanā …
phasso …
saḷāyatanaṁ …
nāmarūpaṁ …
viññāṇaṁ …
saṅkhārā na honti, kissa nirodhā saṅkhāranirodho’ti?
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo:
‘avijjāya kho asati saṅkhārā na honti, avijjānirodhā saṅkhāranirodho’ti.
Iti hidaṁ avijjānirodhā saṅkhāranirodho;
saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti.
‘Nirodho, nirodho’ti kho me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṁ udapādi, ñāṇaṁ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādī”ti.
Dasamo.
Buddhavaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Desanā vibhaṅgapaṭipadā ca,
Vipassī sikhī ca vessabhū;
Kakusandho koṇāgamano kassapo,
Mahāsakyamuni ca gotamoti.