Vi-n 1 …
Vi-n 2 Rồi chiến đấu sư Yodhàjivo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, chiến đấu sư bạch Thế Tôn:
—Con được nghe, bạch Thế Tôn, các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các chiến đấu viên, nói rằng: “Vị chiến đấu viên nào trong chiến trường, hăng say, tinh tấn; do hăng hay tinh tấn như vậy, bị người khác tàn sát, đánh bại; vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên tên là Saràjità”. Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?
—Thôi vừa rồi, này Chiến đấu sư. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này.
Vi-n 4 Lần thứ hai …
Vi-n 5 Lần thứ ba, chiến đấu sư bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con được nghe các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các chiến đấu viên, nói rằng: “Vị chiến đấu viên nào trong chiến trường hăng say, tinh tấn; do hăng say, tinh tấn như vậy, bị người khác tàn sát, đánh bại, vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên tên là Saràjità”. Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?
—Thật sự, Ta đã không chấp nhận và nói rằng: “Thôi vừa rồi, này Chiến đấu sư. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này”. Tuy vậy, Ta sẽ trả lời.
Vi-n 6 Này Chiến đấu sư, đối với chiến đấu viên nào trong chiến trường hăng say, tinh tấn, tâm của vị ấy trước đó phải có những ý nghĩ thấp kém, ác ý, ác nguyện như sau: “Mong rằng các loài hữu tình ấy bị giết, bị bắt, bị tàn sát, bị tàn hại!”, hay: “Mong họ chớ có tồn tại!” Do vị ấy hăng hái, tinh tấn như vậy, nếu vị ấy bị người khác tàn sát, đánh bại, thời người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào địa ngục tên là Saràjità. Nếu người ấy có tà kiến như sau: “Vị chiến đấu viên nào giữa chiến trường hăng say, tinh tấn; do hăng say, tinh tấn như vậy, bị người khác tàn sát, đánh bại, vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên tên là Saràjità”. Như vậy là tà kiến. Ai rơi vào tà kiến này, này Chiến đấu sư, Ta nói rằng, người ấy chỉ có một trong hai sanh thú: Một là địa ngục, hai là súc sanh.
Vi-n 7 Khi được nói vậy, vị chiến đấu sư phát khóc, rơi nước mắt.
—Chính vì vậy, này Chiến đấu sư, Ta không chấp nhận và nói: “Thôi vừa rồi, này Chiến đấu sư. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này”.
—Bạch Thế Tôn, con khóc không phải vì Thế Tôn đã nói như vậy. Nhưng, bạch Thế Tôn, vì con đã bị các Ðạo sư, các Tổ sư, các chiến đấu viên thuở trước đã lâu ngày lừa dối con, dối trá con, dắt dẫn con lầm lạc, nói rằng: “Ai là người chiến đấu viên giữa các chiến trường hăng say, tinh tấn; do hăng say, tinh tấn như vậy, bị người khác tàn sát, đánh bại, vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên tên là Saràjità”.
Vi-n 8 Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! … Từ nay cho đến mệnh chung con trọn đời quy ngưỡng!
Atha kho yodhājīvo gāmaṇi yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā …pe… ekamantaṁ nisinno kho yodhājīvo gāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:
“sutaṁ metaṁ, bhante, pubbakānaṁ ācariyapācariyānaṁ yodhājīvānaṁ bhāsamānānaṁ:
‘yo so yodhājīvo saṅgāme ussahati vāyamati, tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare hananti pariyāpādenti, so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā parajitānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī’ti.
Idha bhagavā kimāhā”ti?
“Alaṁ, gāmaṇi, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī”ti.
Dutiyampi kho …pe…
tatiyampi kho yodhājīvo gāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:
“sutaṁ metaṁ, bhante, pubbakānaṁ ācariyapācariyānaṁ yodhājīvānaṁ bhāsamānānaṁ:
‘yo so yodhājīvo saṅgāme ussahati vāyamati, tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare hananti pariyāpādenti, so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā parajitānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī’ti.
Idha bhagavā kimāhā”ti?
“Addhā kho tyāhaṁ, gāmaṇi, na labhāmi:
‘alaṁ, gāmaṇi, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī’ti.
Api ca tyāhaṁ byākarissāmi.
Yo so, gāmaṇi, yodhājīvo saṅgāme ussahati vāyamati, tassa taṁ cittaṁ pubbe gahitaṁ dukkaṭaṁ duppaṇihitaṁ:
‘ime sattā haññantu vā bajjhantu vā ucchijjantu vā vinassantu vā mā vā ahesuṁ iti vā’ti.
Tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare hananti pariyāpādenti;
so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā parajito nāma nirayo tattha upapajjatīti.
Sace kho panassa evaṁ diṭṭhi hoti:
‘yo so yodhājīvo saṅgāme ussahati vāyamati tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare hananti pariyāpādenti, so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā parajitānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī’ti, sāssa hoti micchādiṭṭhi.
Micchādiṭṭhikassa kho panāhaṁ, gāmaṇi, purisapuggalassa dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—
nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā”ti.
Evaṁ vutte, yodhājīvo gāmaṇi parodi, assūni pavattesi.
“Etaṁ kho tyāhaṁ, gāmaṇi, nālatthaṁ:
‘alaṁ, gāmaṇi, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī’”ti.
“Nāhaṁ, bhante, etaṁ rodāmi yaṁ maṁ bhagavā evamāha;
api cāhaṁ, bhante, pubbakehi ācariyapācariyehi yodhājīvehi dīgharattaṁ nikato vañcito paluddho:
‘yo so yodhājīvo saṅgāme ussahati vāyamati, tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare hananti pariyāpādenti, so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā parajitānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī’”ti.
“Abhikkantaṁ, bhante …pe…
ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Tatiyaṁ.
Then Dustin the warrior chief went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, I have heard that the warriors of the past who were tutors of tutors said:
‘Suppose a warrior, while striving and struggling in battle, is killed and finished off by his foes. When his body breaks up, after death, he’s reborn in the company of the gods of the fallen.’
What does the Buddha say about this?”
“Enough, chief, let it be. Don’t ask me that.”
For a second time …
And for a third time Dustin the warrior chief said to the Buddha:
“Sir, I have heard that the warriors of the past who were tutors of tutors said:
‘Suppose a warrior, while striving and struggling in battle, is killed and finished off by his foes. When his body breaks up, after death, he’s reborn in the company of the gods of the fallen.’
What does the Buddha say about this?”
“Clearly, chief, I’m not getting through to you when I say:
‘Enough, chief, let it be. Don’t ask me that.’
Nevertheless, I will answer you.
When a warrior strives and struggles in battle, their mind is already low, degraded, and misdirected as they think:
‘May these sentient beings be killed, slaughtered, slain, destroyed, or annihilated!’
His foes kill him and finish him off, and
when his body breaks up, after death, he’s reborn in the hell called ‘The Fallen’.
But if you have such a view:
‘Suppose a warrior, while striving and struggling in battle, is killed and finished off by his foes. When his body breaks up, after death, he’s reborn in the company of the gods of the fallen.’ This is your wrong view.
An individual with wrong view is reborn in one of two places, I say:
hell or the animal realm.”
When he said this, Dustin the warrior chief cried and burst out in tears.
“This is what I didn’t get through to you when I said:
‘Enough, chief, let it be. Don’t ask me that.’”
“Sir, I’m not crying because of what the Buddha said.
But sir, for a long time I’ve been cheated, tricked, and deceived by the warriors of the past who were tutors of tutors, who said:
‘Suppose a warrior, while striving and struggling in battle, is killed and finished off by his foes. When his body breaks up, after death, he’s reborn in the company of the gods of the fallen.’
Excellent, sir! Excellent! …
From this day forth, may the Buddha remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Vi-n 1 …
Vi-n 2 Rồi chiến đấu sư Yodhàjivo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, chiến đấu sư bạch Thế Tôn:
—Con được nghe, bạch Thế Tôn, các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các chiến đấu viên, nói rằng: “Vị chiến đấu viên nào trong chiến trường, hăng say, tinh tấn; do hăng hay tinh tấn như vậy, bị người khác tàn sát, đánh bại; vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên tên là Saràjità”. Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?
—Thôi vừa rồi, này Chiến đấu sư. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này.
Vi-n 4 Lần thứ hai …
Vi-n 5 Lần thứ ba, chiến đấu sư bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con được nghe các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các chiến đấu viên, nói rằng: “Vị chiến đấu viên nào trong chiến trường hăng say, tinh tấn; do hăng say, tinh tấn như vậy, bị người khác tàn sát, đánh bại, vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên tên là Saràjità”. Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?
—Thật sự, Ta đã không chấp nhận và nói rằng: “Thôi vừa rồi, này Chiến đấu sư. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này”. Tuy vậy, Ta sẽ trả lời.
Vi-n 6 Này Chiến đấu sư, đối với chiến đấu viên nào trong chiến trường hăng say, tinh tấn, tâm của vị ấy trước đó phải có những ý nghĩ thấp kém, ác ý, ác nguyện như sau: “Mong rằng các loài hữu tình ấy bị giết, bị bắt, bị tàn sát, bị tàn hại!”, hay: “Mong họ chớ có tồn tại!” Do vị ấy hăng hái, tinh tấn như vậy, nếu vị ấy bị người khác tàn sát, đánh bại, thời người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào địa ngục tên là Saràjità. Nếu người ấy có tà kiến như sau: “Vị chiến đấu viên nào giữa chiến trường hăng say, tinh tấn; do hăng say, tinh tấn như vậy, bị người khác tàn sát, đánh bại, vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên tên là Saràjità”. Như vậy là tà kiến. Ai rơi vào tà kiến này, này Chiến đấu sư, Ta nói rằng, người ấy chỉ có một trong hai sanh thú: Một là địa ngục, hai là súc sanh.
Vi-n 7 Khi được nói vậy, vị chiến đấu sư phát khóc, rơi nước mắt.
—Chính vì vậy, này Chiến đấu sư, Ta không chấp nhận và nói: “Thôi vừa rồi, này Chiến đấu sư. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này”.
—Bạch Thế Tôn, con khóc không phải vì Thế Tôn đã nói như vậy. Nhưng, bạch Thế Tôn, vì con đã bị các Ðạo sư, các Tổ sư, các chiến đấu viên thuở trước đã lâu ngày lừa dối con, dối trá con, dắt dẫn con lầm lạc, nói rằng: “Ai là người chiến đấu viên giữa các chiến trường hăng say, tinh tấn; do hăng say, tinh tấn như vậy, bị người khác tàn sát, đánh bại, vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên tên là Saràjità”.
Vi-n 8 Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! … Từ nay cho đến mệnh chung con trọn đời quy ngưỡng!
Atha kho yodhājīvo gāmaṇi yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā …pe… ekamantaṁ nisinno kho yodhājīvo gāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:
“sutaṁ metaṁ, bhante, pubbakānaṁ ācariyapācariyānaṁ yodhājīvānaṁ bhāsamānānaṁ:
‘yo so yodhājīvo saṅgāme ussahati vāyamati, tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare hananti pariyāpādenti, so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā parajitānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī’ti.
Idha bhagavā kimāhā”ti?
“Alaṁ, gāmaṇi, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī”ti.
Dutiyampi kho …pe…
tatiyampi kho yodhājīvo gāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:
“sutaṁ metaṁ, bhante, pubbakānaṁ ācariyapācariyānaṁ yodhājīvānaṁ bhāsamānānaṁ:
‘yo so yodhājīvo saṅgāme ussahati vāyamati, tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare hananti pariyāpādenti, so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā parajitānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī’ti.
Idha bhagavā kimāhā”ti?
“Addhā kho tyāhaṁ, gāmaṇi, na labhāmi:
‘alaṁ, gāmaṇi, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī’ti.
Api ca tyāhaṁ byākarissāmi.
Yo so, gāmaṇi, yodhājīvo saṅgāme ussahati vāyamati, tassa taṁ cittaṁ pubbe gahitaṁ dukkaṭaṁ duppaṇihitaṁ:
‘ime sattā haññantu vā bajjhantu vā ucchijjantu vā vinassantu vā mā vā ahesuṁ iti vā’ti.
Tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare hananti pariyāpādenti;
so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā parajito nāma nirayo tattha upapajjatīti.
Sace kho panassa evaṁ diṭṭhi hoti:
‘yo so yodhājīvo saṅgāme ussahati vāyamati tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare hananti pariyāpādenti, so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā parajitānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī’ti, sāssa hoti micchādiṭṭhi.
Micchādiṭṭhikassa kho panāhaṁ, gāmaṇi, purisapuggalassa dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—
nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā”ti.
Evaṁ vutte, yodhājīvo gāmaṇi parodi, assūni pavattesi.
“Etaṁ kho tyāhaṁ, gāmaṇi, nālatthaṁ:
‘alaṁ, gāmaṇi, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī’”ti.
“Nāhaṁ, bhante, etaṁ rodāmi yaṁ maṁ bhagavā evamāha;
api cāhaṁ, bhante, pubbakehi ācariyapācariyehi yodhājīvehi dīgharattaṁ nikato vañcito paluddho:
‘yo so yodhājīvo saṅgāme ussahati vāyamati, tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare hananti pariyāpādenti, so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā parajitānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī’”ti.
“Abhikkantaṁ, bhante …pe…
ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Tatiyaṁ.