Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 2 Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn …
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Trong tịnh xá của chúng con, bạch Thế Tôn, có một tân Tỷ-kheo ít người biết đến, bị bệnh hoạn, đau đớn, bị trọng bệnh. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn đi đến Tỷ-kheo ấy vì lòng từ mẫn.
Vi-n 4 Rồi Thế Tôn sau khi nghe tiếng “Mới”, nghe tiếng “Bệnh”, khi biết được: “Tỷ-kheo ấy ít được người biết đến” liền đi đến Tỷ-kheo ấy.
Vi-n 5 Tỷ-kheo ấy thấy đức Phật từ xa đi đến, sau khi thấy, liền gượng dậy trên giường.
Vi-n 6 Thế Tôn liền nói với Tỷ-kheo ấy:
—Thôi! Này Tỷ-kheo, Ông chớ có gượng dậy trên giường. Có những chỗ ngồi đã soạn sẵn, tại đấy Ta sẽ ngồi.
Rồi Thế Tôn ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn.
Vi-n 7 Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tỷ-kheo ấy:
—Này Tỷ-kheo, Ông có kham nhẫn được không? Ông có chịu đựng được không? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không tăng trưởng? Có phải có triệu chứng giảm thiểu, không phải tăng trưởng?
—Bạch Thế Tôn, con không thể kham nhẫn, không thể chịu đựng. Mãnh liệt là khổ thọ con cảm giác! Chúng tăng trưởng, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không phải giảm thiểu.
Vi-n 8 —Này Tỷ-kheo, mong rằng Ông không có gì nghi ngờ, không có gì hối hận.
—Bạch Thế Tôn, chắc chắn con không có gì nghi ngờ, không có gì hối hận.
Vi-n 9 —Nhưng đối với giới của mình, Ông có gì tự khiển trách không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 10 —Này Tỷ-kheo, nếu đối với giới của mình Ông không có gì để khiển trách, thời này Tỷ-kheo, Ông thế nào cũng có nghi ngờ đối với vấn đề gì, cũng có hối hận gì.
—Bạch Thế Tôn, con không hiểu pháp Thế Tôn dạy về mục đích thanh tịnh trì giới.
Vi-n 11 —Này Tỷ-kheo, nếu Ông không hiểu pháp Ta dạy về mục đích thanh tịnh trì giới, thời này Tỷ-kheo, Ông hiểu pháp Ta dạy như thế nào?
—Bạch Thế Tôn, con hiểu pháp do Thế Tôn dạy là tham và đoạn tham.
Vi-n 12 —Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Ông hiểu pháp Ta dạy là tham và đoạn tham. Với mục đích tham và đoạn tham, này Tỷ-kheo, là pháp Ta dạy.
Vi-n 13 Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo, mắt là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn …
—Tai … Mũi … Lưỡi … Thân … Ý là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 14 —Thấy vậy, này Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt … “ … không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 15 Thế Tôn thuyết như vậy, Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy. Và trong khi lời dạy này được nói lên, Tỷ-kheo ấy khởi lên pháp nhãn ly trần vô cấu: “Phàm cái gì sanh khởi, tất cả đều chịu sự đoạn diệt”.
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami …pe… ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“amukasmiṁ, bhante, vihāre aññataro bhikkhu navo appaññāto ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno.
Sādhu, bhante, bhagavā yena so bhikkhu tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā”ti.
Atha kho bhagavā navavādañca sutvā gilānavādañca, “appaññāto bhikkhū”ti iti viditvā yena so bhikkhu tenupasaṅkami.
Addasā kho so bhikkhu bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ.
Disvāna mañcake samadhosi.
Atha kho bhagavā taṁ bhikkhuṁ etadavoca:
“alaṁ, bhikkhu, mā tvaṁ mañcake samadhosi.
Santimāni āsanāni paññattāni, tatthāhaṁ nisīdissāmī”ti.
Nisīdi bhagavā paññatte āsane.
Nisajja kho bhagavā taṁ bhikkhuṁ etadavoca:
“kacci te, bhikkhu, khamanīyaṁ, kacci yāpanīyaṁ, kacci dukkhā vedanā paṭikkamanti no abhikkamanti, paṭikkamosānaṁ paññāyati no abhikkamo”ti?
“Na me, bhante, khamanīyaṁ, na yāpanīyaṁ, bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti no paṭikkamanti, abhikkamosānaṁ paññāyati no paṭikkamo”ti.
“Kacci te, bhikkhu, na kiñci kukkuccaṁ, na koci vippaṭisāro”ti?
“Taggha me, bhante, anappakaṁ kukkuccaṁ, anappako vippaṭisāro”ti.
“Kacci pana taṁ, bhikkhu, attā sīlato upavadatī”ti?
“Na kho maṁ, bhante, attā sīlato upavadatī”ti.
“No ce kira te, bhikkhu, attā sīlato upavadati, atha kiñca te kukkuccaṁ ko ca vippaṭisāro”ti?
“Na khvāhaṁ, bhante, sīlavisuddhatthaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmī”ti.
“No ce kira tvaṁ, bhikkhu, sīlavisuddhatthaṁ mayā dhammaṁ desitaṁ ājānāsi, atha kimatthaṁ carahi tvaṁ, bhikkhu, mayā dhammaṁ desitaṁ ājānāsī”ti?
“Rāgavirāgatthaṁ khvāhaṁ, bhante, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmī”ti.
“Sādhu sādhu, bhikkhu.
Sādhu kho tvaṁ, bhikkhu, rāgavirāgatthaṁ mayā dhammaṁ desitaṁ ājānāsi.
Rāgavirāgattho hi, bhikkhu, mayā dhammo desito.
Taṁ kiṁ maññasi, bhikkhu,
cakkhu niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“ …pe…
Sotaṁ …
ghānaṁ …
jivhā …
kāyo …
mano nicco vā anicco vā”ti?
“Anicco, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Evaṁ passaṁ, bhikkhu, sutavā ariyasāvako cakkhusmimpi nibbindati, sotasmimpi nibbindati …pe… manasmimpi nibbindati.
Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati; vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti …pe… nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamano so bhikkhu bhagavato bhāsitaṁ abhinandi.
Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṁ bhaññamāne tassa bhikkhuno virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi:
“yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
Paṭhamaṁ.
SC 1At Savatthi. Then a certain bhikkhu approached the Blessed One, paid homage to him, sat down to one side, and said to him: “Venerable sir, in such and such a dwelling there is a certain newly ordained bhikkhu, not well known, who is sick, afflicted, gravely ill. It would be good, venerable sir, if the Blessed One would approach that bhikkhu out of compassion.”
SC 2Then, when the Blessed One heard the words “newly ordained” and “sick,” and understood that he was not a well-known bhikkhu, he went to him. That bhikkhu saw the Blessed One coming in the distance and stirred on his bed. The Blessed One said to him: “Enough, bhikkhu, do not stir on your bed. There are these seats ready, I will sit down there.”
SC 3The Blessed One then sat down on the appointed seat and said to that bhikkhu: “I hope you are bearing up, bhikkhu, I hope you are getting better. I hope that your painful feelings are subsiding and not increasing, and that their subsiding, not their increase, is to be discerned.”
SC 4“Venerable sir, I am not bearing up, I am not getting better. Strong painful feelings are increasing in me, not subsiding, and their increase, not their subsiding, is to be discerned.”
SC 5“I hope then, bhikkhu, that you are not troubled by remorse and regret.”
SC 6“Indeed, venerable sir, I have quite a lot of remorse and regret.” sn.iv.47
SC 7“I hope, bhikkhu, that you have nothing for which to reproach yourself in regard to virtue.”
SC 8“I have nothing, venerable sir, for which to reproach myself in regard to virtue.”
SC 9“Then, bhikkhu, if you have nothing for which to reproach yourself in regard to virtue, why are you troubled by remorse and regret?”
SC 10“I understand, venerable sir, that it is not for the sake of purification of virtue that the Dhamma has been taught by the Blessed One.”
SC 11“If, bhikkhu, you understand that the Dhamma has not been taught by me for the sake of purification of virtue, then for what purpose do you understand the Dhamma to have been taught by me?”
SC 12“Venerable sir, I understand the Dhamma to have been taught by the Blessed One for the sake of the fading away of lust.”
SC 13“Good, good, bhikkhu! It is good that you understand the Dhamma to have been taught by me for the sake of the fading away of lust. For the Dhamma is taught by me for the sake of the fading away of lust.
SC 14“What do you think, bhikkhu, is the eye permanent or impermanent?”—“Impermanent, venerable sir.”… “Is the ear … the mind permanent or impermanent?”—“Impermanent, venerable sir.”—“Is what is impermanent suffering or happiness?”—“Suffering, venerable sir.”—“Is what is impermanent, suffering, and subject to change fit to be regarded thus: ‘This is mine, this I am, this is my self’?”—“No, venerable sir.”
SC 15“Seeing thus … He understands: ‘… there is no more for this state of being.’”
SC 16This is what the Blessed One said. Elated, that bhikkhu delighted in the Blessed One’s statement. And while this discourse was being spoken, there arose in that bhikkhu the dust-free, stainless vision of the Dhamma: “Whatever is subject to origination is all subject to cessation.”
Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 2 Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn …
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Trong tịnh xá của chúng con, bạch Thế Tôn, có một tân Tỷ-kheo ít người biết đến, bị bệnh hoạn, đau đớn, bị trọng bệnh. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn đi đến Tỷ-kheo ấy vì lòng từ mẫn.
Vi-n 4 Rồi Thế Tôn sau khi nghe tiếng “Mới”, nghe tiếng “Bệnh”, khi biết được: “Tỷ-kheo ấy ít được người biết đến” liền đi đến Tỷ-kheo ấy.
Vi-n 5 Tỷ-kheo ấy thấy đức Phật từ xa đi đến, sau khi thấy, liền gượng dậy trên giường.
Vi-n 6 Thế Tôn liền nói với Tỷ-kheo ấy:
—Thôi! Này Tỷ-kheo, Ông chớ có gượng dậy trên giường. Có những chỗ ngồi đã soạn sẵn, tại đấy Ta sẽ ngồi.
Rồi Thế Tôn ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn.
Vi-n 7 Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tỷ-kheo ấy:
—Này Tỷ-kheo, Ông có kham nhẫn được không? Ông có chịu đựng được không? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không tăng trưởng? Có phải có triệu chứng giảm thiểu, không phải tăng trưởng?
—Bạch Thế Tôn, con không thể kham nhẫn, không thể chịu đựng. Mãnh liệt là khổ thọ con cảm giác! Chúng tăng trưởng, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không phải giảm thiểu.
Vi-n 8 —Này Tỷ-kheo, mong rằng Ông không có gì nghi ngờ, không có gì hối hận.
—Bạch Thế Tôn, chắc chắn con không có gì nghi ngờ, không có gì hối hận.
Vi-n 9 —Nhưng đối với giới của mình, Ông có gì tự khiển trách không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 10 —Này Tỷ-kheo, nếu đối với giới của mình Ông không có gì để khiển trách, thời này Tỷ-kheo, Ông thế nào cũng có nghi ngờ đối với vấn đề gì, cũng có hối hận gì.
—Bạch Thế Tôn, con không hiểu pháp Thế Tôn dạy về mục đích thanh tịnh trì giới.
Vi-n 11 —Này Tỷ-kheo, nếu Ông không hiểu pháp Ta dạy về mục đích thanh tịnh trì giới, thời này Tỷ-kheo, Ông hiểu pháp Ta dạy như thế nào?
—Bạch Thế Tôn, con hiểu pháp do Thế Tôn dạy là tham và đoạn tham.
Vi-n 12 —Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo! Ông hiểu pháp Ta dạy là tham và đoạn tham. Với mục đích tham và đoạn tham, này Tỷ-kheo, là pháp Ta dạy.
Vi-n 13 Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo, mắt là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn …
—Tai … Mũi … Lưỡi … Thân … Ý là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 14 —Thấy vậy, này Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt … “ … không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 15 Thế Tôn thuyết như vậy, Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy. Và trong khi lời dạy này được nói lên, Tỷ-kheo ấy khởi lên pháp nhãn ly trần vô cấu: “Phàm cái gì sanh khởi, tất cả đều chịu sự đoạn diệt”.
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami …pe… ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“amukasmiṁ, bhante, vihāre aññataro bhikkhu navo appaññāto ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno.
Sādhu, bhante, bhagavā yena so bhikkhu tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā”ti.
Atha kho bhagavā navavādañca sutvā gilānavādañca, “appaññāto bhikkhū”ti iti viditvā yena so bhikkhu tenupasaṅkami.
Addasā kho so bhikkhu bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ.
Disvāna mañcake samadhosi.
Atha kho bhagavā taṁ bhikkhuṁ etadavoca:
“alaṁ, bhikkhu, mā tvaṁ mañcake samadhosi.
Santimāni āsanāni paññattāni, tatthāhaṁ nisīdissāmī”ti.
Nisīdi bhagavā paññatte āsane.
Nisajja kho bhagavā taṁ bhikkhuṁ etadavoca:
“kacci te, bhikkhu, khamanīyaṁ, kacci yāpanīyaṁ, kacci dukkhā vedanā paṭikkamanti no abhikkamanti, paṭikkamosānaṁ paññāyati no abhikkamo”ti?
“Na me, bhante, khamanīyaṁ, na yāpanīyaṁ, bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti no paṭikkamanti, abhikkamosānaṁ paññāyati no paṭikkamo”ti.
“Kacci te, bhikkhu, na kiñci kukkuccaṁ, na koci vippaṭisāro”ti?
“Taggha me, bhante, anappakaṁ kukkuccaṁ, anappako vippaṭisāro”ti.
“Kacci pana taṁ, bhikkhu, attā sīlato upavadatī”ti?
“Na kho maṁ, bhante, attā sīlato upavadatī”ti.
“No ce kira te, bhikkhu, attā sīlato upavadati, atha kiñca te kukkuccaṁ ko ca vippaṭisāro”ti?
“Na khvāhaṁ, bhante, sīlavisuddhatthaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmī”ti.
“No ce kira tvaṁ, bhikkhu, sīlavisuddhatthaṁ mayā dhammaṁ desitaṁ ājānāsi, atha kimatthaṁ carahi tvaṁ, bhikkhu, mayā dhammaṁ desitaṁ ājānāsī”ti?
“Rāgavirāgatthaṁ khvāhaṁ, bhante, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmī”ti.
“Sādhu sādhu, bhikkhu.
Sādhu kho tvaṁ, bhikkhu, rāgavirāgatthaṁ mayā dhammaṁ desitaṁ ājānāsi.
Rāgavirāgattho hi, bhikkhu, mayā dhammo desito.
Taṁ kiṁ maññasi, bhikkhu,
cakkhu niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“ …pe…
Sotaṁ …
ghānaṁ …
jivhā …
kāyo …
mano nicco vā anicco vā”ti?
“Anicco, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Evaṁ passaṁ, bhikkhu, sutavā ariyasāvako cakkhusmimpi nibbindati, sotasmimpi nibbindati …pe… manasmimpi nibbindati.
Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati; vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti …pe… nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamano so bhikkhu bhagavato bhāsitaṁ abhinandi.
Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṁ bhaññamāne tassa bhikkhuno virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi:
“yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
Paṭhamaṁ.