Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 2 Ở đấy, Thế Tôn nói lên lời cảm hứng như sau:
Nếu trước, Ta không có,
Thời nay không có Ta,
Không tạo nhân sẽ có,
Tương lai sẽ không Ta.
Tỷ-kheo quyết tâm vậy,
Hạ phần kiết sử đoạn.
Vi-n 3 Ðược nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
—Như thế nào bạch Thế Tôn:
Nếu trước, Ta không có,
Thời nay không có Ta,
Không tạo nhân sẽ có,
Tương lai sẽ không Ta.
Tỷ-kheo quyết tâm vậy,
Hạ phần kiết sử đoạn?
Vi-n 4 —Ở đây, này Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh; không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc, quán thọ … quán tưởng … quán các hành … quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức.
Vi-n 5 Vị ấy không như thật biết rõ (pajànàti) sắc vô thường là sắc vô thường, không như thật biết rõ thọ vô thường là thọ vô thường, không như thật biết rõ tưởng vô thường là tưởng vô thường, không như thật biết rõ hành vô thường là hành vô thường, không như thật biết rõ thức vô thường là thức vô thường.
Vi-n 6 Không như thật biết rõ sắc khổ là sắc khổ, không như thật biết rõ thọ khổ … tưởng khổ … hành khổ … không như thật biết rõ thức khổ là thức khổ.
Vi-n 7 Không như thật biết rõ sắc vô ngã là sắc vô ngã, không như thật biết rõ thọ vô ngã … tưởng vô ngã … hành vô ngã … không như thật biết rõ thức vô ngã là thức vô ngã.
Vi-n 8 Không như thật biết rõ sắc hữu vi là sắc hữu vi, không như thật biết rõ thọ hữu vi … tưởng hữu vi … hành hữu vi … không như thật biết rõ thức hữu vi là thức hữu vi.
Vi-n 9 Không như thật biết rõ sắc sẽ biến diệt … thọ sẽ biến diệt … tưởng sẽ biết diệt … các hành sẽ biến diệt … không như thật biết rõ thức sẽ biến diệt.
Vi-n 10 Còn bậc Ða văn Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo thấy rõ các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, thấy rõ các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc, không quán thọ … không quán tưởng … không quán các hành … không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức.
Vi-n 11 Vị ấy như thật thấy rõ sắc vô thường là vô thường, thọ vô thường … tưởng vô thường … hành vô thường … thức vô thường là thức vô thường.
Vi-n 12 Vị ấy như thật thấy rõ sắc khổ là sắc khổ, thọ khổ … tưởng khổ … hành khổ … như thật thấy rõ thức khổ là thức khổ.
Vi-n 13 Vị ấy như thật thấy rõ sắc vô ngã là sắc vô ngã, thọ vô ngã … tưởng vô ngã … các hành vô ngã … thức vô ngã là thức vô ngã.
Vi-n 14 Vị ấy như thật thấy rõ sắc hữu vi là sắc hữu vi, thọ hữu vi … tưởng hữu vi … các hành hữu vi … thức hữu vi là thức hữu vi.
Vi-n 15 Vị ấy như thật thấy rõ sắc sẽ biến diệt là sắc sẽ biến diệt, thọ sẽ biến diệt … tưởng sẽ biến diệt … các hành sẽ biến diệt … thức sẽ biến diệt là thức sẽ biến diệt.
Vi-n 16 Do sắc biến diệt, thọ biến diệt, tưởng biến diệt, hành biến diệt, thức biến diệt, vị Tỷ-kheo nói lên lời cảm hứng:
Nếu trước, ta không có,
Thời nay không có ta,
Không tạo nhân sẽ có,
Tương lai sẽ không ta.
Tỷ-kheo quyết tâm vậy,
Hạ phần kiết sử đoạn.
Vi-n 17 —Dầu cho quyết tâm như vậy, bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo có thể cắt đứt hạ phần kiết sử. Nhưng bạch Thế Tôn, biết như thế nào, thấy như thế nào, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức?
Vi-n 18 —Ở đây, này Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu hoảng sợ tại chỗ không có gì đáng hoảng sợ; kẻ vô văn phàm phu hoảng sợ như sau:
Nếu trước, ta không có,
Thời nay không có ta,
Không tạo nhân sẽ có.
Tương lai sẽ không ta.
Vi-n 19 Và vị Ða văn Thánh đệ tử, này Tỷ-kheo, không hoảng sợ tại chỗ không có gì đáng hoảng sợ; vị Ða văn Thánh đệ tử không có hoảng sợ như sau:
Nếu trước, ta không có,
Thời nay không có ta,
Không tạo nhân sẽ có,
Tương lai sẽ không ta.
Vi-n 20 Này Tỷ-kheo, do tham luyến sắc, thức có chân đứng được an trú. Với sắc là sở duyên, với sắc là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh.
Vi-n 21-33. Do tham luyến thọ … do tham luyến tưởng … do tham luyến hành … do tham luyến thức, này Tỷ-kheo, thức có chân đứng được an trú. Với hành là sở duyên, với hành là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh.
Vi-n 24 Này Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Ngoài sắc, ngoài thọ, ngoài tưởng, ngoài các hành, tôi sẽ chỉ rõ sự đến hay đi, sự diệt hay sanh, sự tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh của thức”, sự việc như vậy không xảy ra.
Vi-n 25 Này Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với sắc giới; do tham được đoạn tận, sở duyên được cắt đứt, chỗ y chỉ của thức không hiện hữu.
Vi-n 26 Này Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với thọ giới …
Vi-n 27 Này Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với tưởng giới …
Vi-n 28 Này Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với hành giới …
Vi-n 29 Này Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với thức giới, do tham được đoạn tận, sở duyên được cắt đứt, chỗ y chỉ của thức không hiện hữu.
Vi-n 30 Không có chỗ y chỉ như vậy thức không tăng trưởng, không có hành động, được giải thoát; do giải thoát nên được kiên trú; do kiên trú nên được tri túc; do tri túc nên không có ưu não; do không có ưu não nên tự mình cảm thấy tịch tịnh hoàn toàn. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Sāvatthinidānaṁ.
Tatra kho bhagavā udānaṁ udānesi:
“‘no cassaṁ, no ca me siyā, nābhavissa, na me bhavissatī’ti—
evaṁ adhimuccamāno bhikkhu chindeyya orambhāgiyāni saṁyojanānī”ti.
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“yathā kathaṁ pana, bhante, ‘no cassaṁ, no ca me siyā, nābhavissa, na me bhavissatī’ti—
evaṁ adhimuccamāno bhikkhu chindeyya orambhāgiyāni saṁyojanānī”ti?
“Idha, bhikkhu, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī …pe…
sappurisadhamme avinīto rūpaṁ attato samanupassati, rūpavantaṁ vā attānaṁ; attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ.
Vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ attato samanupassati, viññāṇavantaṁ vā attānaṁ; attani vā viññāṇaṁ, viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.
So aniccaṁ rūpaṁ ‘aniccaṁ rūpan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti,
aniccaṁ vedanaṁ ‘aniccā vedanā’ti yathābhūtaṁ nappajānāti,
aniccaṁ saññaṁ ‘aniccā saññā’ti yathābhūtaṁ nappajānāti,
anicce saṅkhāre ‘aniccā saṅkhārā’ti yathābhūtaṁ nappajānāti,
aniccaṁ viññāṇaṁ ‘aniccaṁ viññāṇan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Dukkhaṁ rūpaṁ ‘dukkhaṁ rūpan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti,
dukkhaṁ vedanaṁ …
dukkhaṁ saññaṁ …
dukkhe saṅkhāre …
dukkhaṁ viññāṇaṁ ‘dukkhaṁ viññāṇan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Anattaṁ rūpaṁ ‘anattā rūpan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti,
anattaṁ vedanaṁ ‘anattā vedanā’ti yathābhūtaṁ nappajānāti,
anattaṁ saññaṁ ‘anattā saññā’ti yathābhūtaṁ nappajānāti,
anatte saṅkhāre ‘anattā saṅkhārā’ti yathābhūtaṁ nappajānāti,
anattaṁ viññāṇaṁ ‘anattā viññāṇan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Saṅkhataṁ rūpaṁ ‘saṅkhataṁ rūpan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti,
saṅkhataṁ vedanaṁ …
saṅkhataṁ saññaṁ …
saṅkhate saṅkhāre …
saṅkhataṁ viññāṇaṁ ‘saṅkhataṁ viññāṇan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Rūpaṁ vibhavissatīti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Vedanā vibhavissati …
saññā vibhavissati …
saṅkhārā vibhavissanti …
viññāṇaṁ vibhavissatīti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Sutavā ca kho, bhikkhu, ariyasāvako ariyānaṁ dassāvī ariyadhammassa kovido ariyadhamme suvinīto sappurisānaṁ dassāvī sappurisadhammassa kovido sappurisadhamme suvinīto
na rūpaṁ attato samanupassati …pe…
na vedanaṁ …
na saññaṁ …
na saṅkhāre …
na viññāṇaṁ attato samanupassati.
So aniccaṁ rūpaṁ ‘aniccaṁ rūpan’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Aniccaṁ vedanaṁ …
aniccaṁ saññaṁ …
anicce saṅkhāre …
aniccaṁ viññāṇaṁ ‘aniccaṁ viññāṇan’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Dukkhaṁ rūpaṁ …pe… dukkhaṁ viññāṇaṁ …
anattaṁ rūpaṁ …pe… anattaṁ viññāṇaṁ …
saṅkhataṁ rūpaṁ …pe… saṅkhataṁ viññāṇaṁ ‘saṅkhataṁ viññāṇan’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Rūpaṁ vibhavissatīti yathābhūtaṁ pajānāti.
Vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ vibhavissatīti yathābhūtaṁ pajānāti.
So rūpassa vibhavā, vedanāya vibhavā, saññāya vibhavā, saṅkhārānaṁ vibhavā, viññāṇassa vibhavā, evaṁ kho, bhikkhu,
‘no cassaṁ, no ca me siyā, nābhavissa, na me bhavissatī’ti—
evaṁ adhimuccamāno bhikkhu chindeyya orambhāgiyāni saṁyojanānī”ti.
“‘Evaṁ adhimuccamāno,’ bhante, ‘bhikkhu chindeyya orambhāgiyāni saṁyojanānī’ti.
Kathaṁ pana, bhante, jānato kathaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hotī”ti?
“Idha, bhikkhu, assutavā puthujjano atasitāye ṭhāne tāsaṁ āpajjati.
Tāso heso bhikkhu assutavato puthujjanassa:
‘no cassaṁ, no ca me siyā, nābhavissa, na me bhavissatī’ti.
Sutavā ca kho, bhikkhu, ariyasāvako atasitāye ṭhāne na tāsaṁ āpajjati.
Na heso, bhikkhu, tāso sutavato ariyasāvakassa:
‘no cassaṁ, no ca me siyā, nābhavissa, na me bhavissatī’ti.
Rūpupayaṁ vā, bhikkhu, viññāṇaṁ tiṭṭhamānaṁ tiṭṭheyya, rūpārammaṇaṁ rūpappatiṭṭhaṁ nandūpasecanaṁ vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjeyya.
Vedanupayaṁ vā, bhikkhu …
saññupayaṁ vā, bhikkhu …
saṅkhārupayaṁ vā, bhikkhu, viññāṇaṁ tiṭṭhamānaṁ tiṭṭheyya, saṅkhārārammaṇaṁ saṅkhārappatiṭṭhaṁ nandūpasecanaṁ vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjeyya.
Yo, bhikkhu, evaṁ vadeyya:
‘ahamaññatra rūpā, aññatra vedanāya, aññatra saññāya, aññatra saṅkhārehi viññāṇassa āgatiṁ vā gatiṁ vā cutiṁ vā upapattiṁ vā vuddhiṁ vā virūḷhiṁ vā vepullaṁ vā paññāpessāmī’ti, netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Rūpadhātuyā ce, bhikkhu, bhikkhuno rāgo pahīno hoti. Rāgassa pahānā vocchijjatārammaṇaṁ patiṭṭhā viññāṇassa na hoti.
Vedanādhātuyā ce, bhikkhu, bhikkhuno …
saññādhātuyā ce, bhikkhu, bhikkhuno …
saṅkhāradhātuyā ce, bhikkhu, bhikkhuno …
viññāṇadhātuyā ce, bhikkhu, bhikkhuno rāgo pahīno hoti. Rāgassa pahānā vocchijjatārammaṇaṁ patiṭṭhā viññāṇassa na hoti.
Tadappatiṭṭhitaṁ viññāṇaṁ avirūḷhaṁ anabhisaṅkhacca vimuttaṁ.
Vimuttattā ṭhitaṁ. Ṭhitattā santusitaṁ. Santusitattā na paritassati. Aparitassaṁ paccattaññeva parinibbāyati.
‘Khīṇā jāti …pe… nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
Evaṁ kho, bhikkhu, jānato evaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hotī”ti.
Tatiyaṁ.
SC 1At Savatthi. There the Blessed One uttered this inspired utterance: “‘It might not be, and it might not be for me; it will not be, and it will not be for me’: sn.iii.56 resolving thus, a bhikkhu can cut off the lower fetters.”
SC 2When this was said, a certain bhikkhu said to the Blessed One: “But how, venerable sir, can a bhikkhu, resolving thus: ‘It might not be, and it might not be for me; it will not be, and it will not be for me,’ cut off the lower fetters?”
SC 3“Here, bhikkhu, the uninstructed worldling, who is not a seer of the noble ones … regards form as self … or self as in consciousness.
SC 4“He does not understand as it really is impermanent form as ‘impermanent form’ … impermanent feeling as ‘impermanent feeling’ … impermanent perception as ‘impermanent perception’ … impermanent volitional formations as ‘impermanent volitional formations’ … impermanent consciousness as ‘impermanent consciousness.’
SC 5“He does not understand as it really is painful form as ‘painful form’ … painful feeling as ‘painful feeling’ … painful perception as ‘painful perception’ … painful volitional formations as ‘painful volitional formations’ … painful consciousness as ‘painful consciousness.’
SC 6“He does not understand as it really is selfless form as ‘selfless form’ … selfless feeling as ‘selfless feeling’ … selfless perception as ‘selfless perception’ … selfless volitional formations as ‘selfless volitional formations’ … selfless consciousness as ‘selfless consciousness.’
SC 7“He does not understand as it really is conditioned form as ‘conditioned form’ … conditioned feeling as ‘conditioned feeling’ … conditioned perception as ‘conditioned perception’ … conditioned volitional formations as ‘conditioned volitional formations’ … conditioned consciousness as ‘conditioned consciousness.’
SC 8“He does not understand as it really is: ‘Form will be exterminated’ … ‘Feeling will be exterminated’ … ‘Perception will be exterminated’ … ‘Volitional formations will be exterminated’ … ‘Consciousness will be exterminated.’ sn.iii.57
SC 9“The instructed noble disciple, bhikkhu, who is a seer of the noble ones … does not regard form as self … or self as in consciousness.
SC 10“He understands as it really is impermanent form as ‘impermanent form’ … impermanent consciousness as ‘impermanent consciousness.’
SC 11“He understands as it really is painful form as ‘painful form’ … painful consciousness as ‘painful consciousness.’
SC 12“He understands as it really is selfless form as ‘selfless form’ … selfless consciousness as ‘selfless consciousness.’
SC 13“He understands as it really is conditioned form as ‘conditioned form’ … conditioned consciousness as ‘conditioned consciousness. ’
SC 14“He understands as it really is: ‘Form will be exterminated’ … ‘Feeling will be exterminated’ … ‘Perception will be exterminated’ … ‘Volitional formations will be exterminated’ … ‘Consciousness will be exterminated.’
SC 15“With the extermination of form, feeling, perception, volitional formations, and consciousness, that bhikkhu, resolving thus: ‘It might not be, and it might not be for me; it will not be, and it will not be for me,’ can cut off the lower fetters.”
SC 16“Resolving thus, venerable sir, a bhikkhu can cut off the lower fetters. But how should one know, how should one see, for the immediate destruction of the taints to occur?”
SC 17“Here, bhikkhu, the uninstructed worldling becomes frightened over an unfrightening matter. For this is frightening to the uninstructed worldling: ‘It might not be, and it might not be for me; it will not be, and it will not be for me.’ But the instructed noble disciple does not become frightened over an unfrightening matter. For this is not frightening to the noble disciple: ‘It might not be, and it might not be for me; it will not be, and it will not be for me.’ sn.iii.58
SC 18“Consciousness, bhikkhu, while standing, might stand engaged with form … engaged with feeling … engaged with perception … engaged with volitional formations; based upon volitional formations, established upon volitional formations, with a sprinkling of delight, it might come to growth, increase, and expansion.
SC 19“Bhikkhu, though someone might say: ‘Apart from form, apart from feeling, apart from perception, apart from volitional formations, I will make known the coming and going of consciousness, its passing away and rebirth, its growth, increase, and expansion’—that is impossible.
SC 20“Bhikkhu, if a bhikkhu has abandoned lust for the form element, with the abandoning of lust the basis is cut off: there is no support for the establishing of consciousness. If he has abandoned lust for the feeling element … for the perception element … for the volitional formations element … for the consciousness element, with the abandoning of lust the basis is cut off: there is no support for the establishing of consciousness.
SC 21“When that consciousness is unestablished, not coming to growth, nongenerative, it is liberated. By being liberated, it is steady; by being steady, it is content; by being content, he is not agitated. Being unagitated, he personally attains Nibbāna. He understands: ‘Destroyed is birth, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this state of being.’
SC 22“It is, bhikkhu, for one who knows thus, for one who sees thus, that the immediate destruction of the taints occurs.”
Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 2 Ở đấy, Thế Tôn nói lên lời cảm hứng như sau:
Nếu trước, Ta không có,
Thời nay không có Ta,
Không tạo nhân sẽ có,
Tương lai sẽ không Ta.
Tỷ-kheo quyết tâm vậy,
Hạ phần kiết sử đoạn.
Vi-n 3 Ðược nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
—Như thế nào bạch Thế Tôn:
Nếu trước, Ta không có,
Thời nay không có Ta,
Không tạo nhân sẽ có,
Tương lai sẽ không Ta.
Tỷ-kheo quyết tâm vậy,
Hạ phần kiết sử đoạn?
Vi-n 4 —Ở đây, này Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh; không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc, quán thọ … quán tưởng … quán các hành … quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức.
Vi-n 5 Vị ấy không như thật biết rõ (pajànàti) sắc vô thường là sắc vô thường, không như thật biết rõ thọ vô thường là thọ vô thường, không như thật biết rõ tưởng vô thường là tưởng vô thường, không như thật biết rõ hành vô thường là hành vô thường, không như thật biết rõ thức vô thường là thức vô thường.
Vi-n 6 Không như thật biết rõ sắc khổ là sắc khổ, không như thật biết rõ thọ khổ … tưởng khổ … hành khổ … không như thật biết rõ thức khổ là thức khổ.
Vi-n 7 Không như thật biết rõ sắc vô ngã là sắc vô ngã, không như thật biết rõ thọ vô ngã … tưởng vô ngã … hành vô ngã … không như thật biết rõ thức vô ngã là thức vô ngã.
Vi-n 8 Không như thật biết rõ sắc hữu vi là sắc hữu vi, không như thật biết rõ thọ hữu vi … tưởng hữu vi … hành hữu vi … không như thật biết rõ thức hữu vi là thức hữu vi.
Vi-n 9 Không như thật biết rõ sắc sẽ biến diệt … thọ sẽ biến diệt … tưởng sẽ biết diệt … các hành sẽ biến diệt … không như thật biết rõ thức sẽ biến diệt.
Vi-n 10 Còn bậc Ða văn Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo thấy rõ các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, thấy rõ các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc, không quán thọ … không quán tưởng … không quán các hành … không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức.
Vi-n 11 Vị ấy như thật thấy rõ sắc vô thường là vô thường, thọ vô thường … tưởng vô thường … hành vô thường … thức vô thường là thức vô thường.
Vi-n 12 Vị ấy như thật thấy rõ sắc khổ là sắc khổ, thọ khổ … tưởng khổ … hành khổ … như thật thấy rõ thức khổ là thức khổ.
Vi-n 13 Vị ấy như thật thấy rõ sắc vô ngã là sắc vô ngã, thọ vô ngã … tưởng vô ngã … các hành vô ngã … thức vô ngã là thức vô ngã.
Vi-n 14 Vị ấy như thật thấy rõ sắc hữu vi là sắc hữu vi, thọ hữu vi … tưởng hữu vi … các hành hữu vi … thức hữu vi là thức hữu vi.
Vi-n 15 Vị ấy như thật thấy rõ sắc sẽ biến diệt là sắc sẽ biến diệt, thọ sẽ biến diệt … tưởng sẽ biến diệt … các hành sẽ biến diệt … thức sẽ biến diệt là thức sẽ biến diệt.
Vi-n 16 Do sắc biến diệt, thọ biến diệt, tưởng biến diệt, hành biến diệt, thức biến diệt, vị Tỷ-kheo nói lên lời cảm hứng:
Nếu trước, ta không có,
Thời nay không có ta,
Không tạo nhân sẽ có,
Tương lai sẽ không ta.
Tỷ-kheo quyết tâm vậy,
Hạ phần kiết sử đoạn.
Vi-n 17 —Dầu cho quyết tâm như vậy, bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo có thể cắt đứt hạ phần kiết sử. Nhưng bạch Thế Tôn, biết như thế nào, thấy như thế nào, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức?
Vi-n 18 —Ở đây, này Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu hoảng sợ tại chỗ không có gì đáng hoảng sợ; kẻ vô văn phàm phu hoảng sợ như sau:
Nếu trước, ta không có,
Thời nay không có ta,
Không tạo nhân sẽ có.
Tương lai sẽ không ta.
Vi-n 19 Và vị Ða văn Thánh đệ tử, này Tỷ-kheo, không hoảng sợ tại chỗ không có gì đáng hoảng sợ; vị Ða văn Thánh đệ tử không có hoảng sợ như sau:
Nếu trước, ta không có,
Thời nay không có ta,
Không tạo nhân sẽ có,
Tương lai sẽ không ta.
Vi-n 20 Này Tỷ-kheo, do tham luyến sắc, thức có chân đứng được an trú. Với sắc là sở duyên, với sắc là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh.
Vi-n 21-33. Do tham luyến thọ … do tham luyến tưởng … do tham luyến hành … do tham luyến thức, này Tỷ-kheo, thức có chân đứng được an trú. Với hành là sở duyên, với hành là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh.
Vi-n 24 Này Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Ngoài sắc, ngoài thọ, ngoài tưởng, ngoài các hành, tôi sẽ chỉ rõ sự đến hay đi, sự diệt hay sanh, sự tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh của thức”, sự việc như vậy không xảy ra.
Vi-n 25 Này Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với sắc giới; do tham được đoạn tận, sở duyên được cắt đứt, chỗ y chỉ của thức không hiện hữu.
Vi-n 26 Này Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với thọ giới …
Vi-n 27 Này Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với tưởng giới …
Vi-n 28 Này Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với hành giới …
Vi-n 29 Này Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với thức giới, do tham được đoạn tận, sở duyên được cắt đứt, chỗ y chỉ của thức không hiện hữu.
Vi-n 30 Không có chỗ y chỉ như vậy thức không tăng trưởng, không có hành động, được giải thoát; do giải thoát nên được kiên trú; do kiên trú nên được tri túc; do tri túc nên không có ưu não; do không có ưu não nên tự mình cảm thấy tịch tịnh hoàn toàn. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Sāvatthinidānaṁ.
Tatra kho bhagavā udānaṁ udānesi:
“‘no cassaṁ, no ca me siyā, nābhavissa, na me bhavissatī’ti—
evaṁ adhimuccamāno bhikkhu chindeyya orambhāgiyāni saṁyojanānī”ti.
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“yathā kathaṁ pana, bhante, ‘no cassaṁ, no ca me siyā, nābhavissa, na me bhavissatī’ti—
evaṁ adhimuccamāno bhikkhu chindeyya orambhāgiyāni saṁyojanānī”ti?
“Idha, bhikkhu, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī …pe…
sappurisadhamme avinīto rūpaṁ attato samanupassati, rūpavantaṁ vā attānaṁ; attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ.
Vedanaṁ …
saññaṁ …
saṅkhāre …
viññāṇaṁ attato samanupassati, viññāṇavantaṁ vā attānaṁ; attani vā viññāṇaṁ, viññāṇasmiṁ vā attānaṁ.
So aniccaṁ rūpaṁ ‘aniccaṁ rūpan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti,
aniccaṁ vedanaṁ ‘aniccā vedanā’ti yathābhūtaṁ nappajānāti,
aniccaṁ saññaṁ ‘aniccā saññā’ti yathābhūtaṁ nappajānāti,
anicce saṅkhāre ‘aniccā saṅkhārā’ti yathābhūtaṁ nappajānāti,
aniccaṁ viññāṇaṁ ‘aniccaṁ viññāṇan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Dukkhaṁ rūpaṁ ‘dukkhaṁ rūpan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti,
dukkhaṁ vedanaṁ …
dukkhaṁ saññaṁ …
dukkhe saṅkhāre …
dukkhaṁ viññāṇaṁ ‘dukkhaṁ viññāṇan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Anattaṁ rūpaṁ ‘anattā rūpan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti,
anattaṁ vedanaṁ ‘anattā vedanā’ti yathābhūtaṁ nappajānāti,
anattaṁ saññaṁ ‘anattā saññā’ti yathābhūtaṁ nappajānāti,
anatte saṅkhāre ‘anattā saṅkhārā’ti yathābhūtaṁ nappajānāti,
anattaṁ viññāṇaṁ ‘anattā viññāṇan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Saṅkhataṁ rūpaṁ ‘saṅkhataṁ rūpan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti,
saṅkhataṁ vedanaṁ …
saṅkhataṁ saññaṁ …
saṅkhate saṅkhāre …
saṅkhataṁ viññāṇaṁ ‘saṅkhataṁ viññāṇan’ti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Rūpaṁ vibhavissatīti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Vedanā vibhavissati …
saññā vibhavissati …
saṅkhārā vibhavissanti …
viññāṇaṁ vibhavissatīti yathābhūtaṁ nappajānāti.
Sutavā ca kho, bhikkhu, ariyasāvako ariyānaṁ dassāvī ariyadhammassa kovido ariyadhamme suvinīto sappurisānaṁ dassāvī sappurisadhammassa kovido sappurisadhamme suvinīto
na rūpaṁ attato samanupassati …pe…
na vedanaṁ …
na saññaṁ …
na saṅkhāre …
na viññāṇaṁ attato samanupassati.
So aniccaṁ rūpaṁ ‘aniccaṁ rūpan’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Aniccaṁ vedanaṁ …
aniccaṁ saññaṁ …
anicce saṅkhāre …
aniccaṁ viññāṇaṁ ‘aniccaṁ viññāṇan’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Dukkhaṁ rūpaṁ …pe… dukkhaṁ viññāṇaṁ …
anattaṁ rūpaṁ …pe… anattaṁ viññāṇaṁ …
saṅkhataṁ rūpaṁ …pe… saṅkhataṁ viññāṇaṁ ‘saṅkhataṁ viññāṇan’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Rūpaṁ vibhavissatīti yathābhūtaṁ pajānāti.
Vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ vibhavissatīti yathābhūtaṁ pajānāti.
So rūpassa vibhavā, vedanāya vibhavā, saññāya vibhavā, saṅkhārānaṁ vibhavā, viññāṇassa vibhavā, evaṁ kho, bhikkhu,
‘no cassaṁ, no ca me siyā, nābhavissa, na me bhavissatī’ti—
evaṁ adhimuccamāno bhikkhu chindeyya orambhāgiyāni saṁyojanānī”ti.
“‘Evaṁ adhimuccamāno,’ bhante, ‘bhikkhu chindeyya orambhāgiyāni saṁyojanānī’ti.
Kathaṁ pana, bhante, jānato kathaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hotī”ti?
“Idha, bhikkhu, assutavā puthujjano atasitāye ṭhāne tāsaṁ āpajjati.
Tāso heso bhikkhu assutavato puthujjanassa:
‘no cassaṁ, no ca me siyā, nābhavissa, na me bhavissatī’ti.
Sutavā ca kho, bhikkhu, ariyasāvako atasitāye ṭhāne na tāsaṁ āpajjati.
Na heso, bhikkhu, tāso sutavato ariyasāvakassa:
‘no cassaṁ, no ca me siyā, nābhavissa, na me bhavissatī’ti.
Rūpupayaṁ vā, bhikkhu, viññāṇaṁ tiṭṭhamānaṁ tiṭṭheyya, rūpārammaṇaṁ rūpappatiṭṭhaṁ nandūpasecanaṁ vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjeyya.
Vedanupayaṁ vā, bhikkhu …
saññupayaṁ vā, bhikkhu …
saṅkhārupayaṁ vā, bhikkhu, viññāṇaṁ tiṭṭhamānaṁ tiṭṭheyya, saṅkhārārammaṇaṁ saṅkhārappatiṭṭhaṁ nandūpasecanaṁ vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjeyya.
Yo, bhikkhu, evaṁ vadeyya:
‘ahamaññatra rūpā, aññatra vedanāya, aññatra saññāya, aññatra saṅkhārehi viññāṇassa āgatiṁ vā gatiṁ vā cutiṁ vā upapattiṁ vā vuddhiṁ vā virūḷhiṁ vā vepullaṁ vā paññāpessāmī’ti, netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Rūpadhātuyā ce, bhikkhu, bhikkhuno rāgo pahīno hoti. Rāgassa pahānā vocchijjatārammaṇaṁ patiṭṭhā viññāṇassa na hoti.
Vedanādhātuyā ce, bhikkhu, bhikkhuno …
saññādhātuyā ce, bhikkhu, bhikkhuno …
saṅkhāradhātuyā ce, bhikkhu, bhikkhuno …
viññāṇadhātuyā ce, bhikkhu, bhikkhuno rāgo pahīno hoti. Rāgassa pahānā vocchijjatārammaṇaṁ patiṭṭhā viññāṇassa na hoti.
Tadappatiṭṭhitaṁ viññāṇaṁ avirūḷhaṁ anabhisaṅkhacca vimuttaṁ.
Vimuttattā ṭhitaṁ. Ṭhitattā santusitaṁ. Santusitattā na paritassati. Aparitassaṁ paccattaññeva parinibbāyati.
‘Khīṇā jāti …pe… nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
Evaṁ kho, bhikkhu, jānato evaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hotī”ti.
Tatiyaṁ.