Vi-n 1 Một thời, Tôn giả Anuruddha trú ở Sāvatthi, tại nhà làm bằng cây sāla.
Vi-n 2 Tại đây, Tôn giả Anuruddha gọi các Tỷ-kheo … nói như sau:
Vi-n 3 —Ví như, này chư Hiền, sông Hằng thiên về phương Ðông, hướng về phương Ðông, xuôi về phương Ðông. Rồi một số đông quần chúng đến, cầm cuốc, thúng và nói: “Chúng ta sẽ làm cho sông Hằng này thiên về phương Tây, hướng về phương Tây, xuôi về phương Tây”. Thưa chư Hiền, chư Hiền nghĩ thế nào, số đông quần chúng này có thể làm cho sông Hằng thiên về phương Tây, hướng về phương Tây, xuôi về phương Tây không?
—Thưa không, Hiền giả. Vì sao? Thưa Hiền giả, vì sông Hằng thiên về phương Ðông, hướng về phương Ðông, xuôi về phương Ðông, không dễ gì khiến cho thiên về phương Tây, hướng về phương Tây, xuôi về phương Tây được. Và quần chúng ấy chỉ mệt nhọc và tổn não mà thôi.
Vi-n 4 —Cũng vậy, này chư Hiền, Tỷ-kheo tu tập bốn niệm xứ, làm cho sung mãn bốn niệm xứ. Dầu cho vua chúa, hay đại thần, hay thân hữu, hay bạn bè, hay bà con huyết thống có thể đến dâng các tài vật và mời: “Hãy đến, này Người tốt kia, sao để các áo vàng này hành hạ Ông? Sao lại đi biểu diễn với đầu trọc và bình bát? Hãy hoàn tục, thọ hưởng các tài vật và làm các phước đức!”; Tỷ-kheo ấy, thưa chư Hiền, được tu tập bốn niệm xứ, được làm cho sung mãn bốn niệm xứ, có thể từ bỏ giới trở lui hoàn tục; sự kiện như vậy không xảy ra. Vì sao? Vì này chư Hiền, tâm người ấy đã lâu ngày thiên về viễn ly, hướng về viễn ly, xuôi về viễn ly, lại trở lại hoàn tục, sự kiện như vậy không xảy ra.
Vi-n 5 Và này chư Hiền, Tỷ-kheo tu tập bốn niệm xứ như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào? Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân … quán thọ trên các cảm thọ … quán tâm trên tâm … trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; như vậy, thưa chư Hiền, Tỷ-kheo tu tập bốn niệm xứ, làm cho sung mãn bốn niệm xứ.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā anuruddho sāvatthiyaṁ viharati salaḷāgāre.
Tatra kho āyasmā anuruddho bhikkhū āmantesi …pe… etadavoca:
“seyyathāpi, āvuso, gaṅgā nadī pācīnaninnā pācīnapoṇā pācīnapabbhārā.
Atha mahājanakāyo āgaccheyya kudālapiṭakaṁ ādāya:
‘mayaṁ imaṁ gaṅgānadiṁ pacchāninnaṁ karissāma pacchāpoṇaṁ pacchāpabbhāran’ti.
Taṁ kiṁ maññathāvuso, api nu so mahājanakāyo gaṅgānadiṁ pacchāninnaṁ kareyya pacchāpoṇaṁ pacchāpabbhāran”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Taṁ kissa hetu”?
“Gaṅgā, āvuso, nadī pācīnaninnā pācīnapoṇā pācīnapabbhārā.
Sā na sukarā pacchāninnaṁ kātuṁ pacchāpoṇaṁ pacchāpabbhāraṁ.
Yāvadeva ca pana so mahājanakāyo kilamathassa vighātassa bhāgī assā”ti.
“Evameva kho, āvuso, bhikkhuṁ cattāro satipaṭṭhāne bhāventaṁ cattāro satipaṭṭhāne bahulīkarontaṁ rājāno vā rājamahāmattā vā mittā vā amaccā vā ñātī vā sālohitā vā bhogehi abhihaṭṭhuṁ pavāreyyuṁ:
‘ehambho purisa, kiṁ te ime kāsāvā anudahanti?
Kiṁ muṇḍo kapālamanusañcarasi?
Ehi hīnāyāvattitvā bhoge ca bhuñjassu puññāni ca karohī’ti.
So vata, āvuso, bhikkhu cattāro satipaṭṭhāne bhāvento cattāro satipaṭṭhāne bahulīkaronto sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Taṁ kissa hetu?
Yañhi taṁ, āvuso, cittaṁ dīgharattaṁ vivekaninnaṁ vivekapoṇaṁ vivekapabbhāraṁ taṁ vata hīnāyāvattissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Kathañcāvuso, bhikkhu cattāro satipaṭṭhāne bhāveti, cattāro satipaṭṭhāne bahulīkarotīti?
Idhāvuso, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati …pe…
vedanāsu …pe…
citte …pe…
dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu cattāro satipaṭṭhāne bhāveti, cattāro satipaṭṭhāne bahulīkarotī”ti.
Aṭṭhamaṁ.
At one time Venerable Anuruddha was staying near Sāvatthī in the frankincense-tree hut.
There Venerable Anuruddha addressed the mendicants:
“Reverends, suppose that, although the Ganges river slants, slopes, and inclines to the east,
a large crowd were to come along with a spade and basket, saying:
‘We’ll make this Ganges river slant, slope, and incline to the west!’
What do you think, reverends? Would they succeed?”
“No, reverend.
Why is that?
The Ganges river slants, slopes, and inclines to the east.
It’s not easy to make it slant, slope, and incline to the west.
That large crowd will eventually get weary and frustrated.”
“In the same way, while a mendicant develops and cultivates the four kinds of mindfulness meditation, if rulers or their chief ministers, friends or colleagues, relatives or family should invite them to accept wealth, saying:
‘Please, my friend, why let these ocher robes torment you?
Why follow the practice of shaving your head and carrying an alms bowl?
Come, return to a lesser life, enjoy wealth, and make merit!’
It is quite impossible for a mendicant who is developing and cultivating the four kinds of mindfulness meditation to resign the training and return to a lesser life.
Why is that?
Because for a long time that mendicant’s mind has slanted, sloped, and inclined to seclusion. So it’s impossible for them to return to a lesser life.
And how does a mendicant develop and cultivate the four kinds of mindfulness meditation?
It’s when a mendicant meditates by observing an aspect of the body …
feelings …
mind …
principles—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world.
That’s how a mendicant develops and cultivates the four kinds of mindfulness meditation.”
Vi-n 1 Một thời, Tôn giả Anuruddha trú ở Sāvatthi, tại nhà làm bằng cây sāla.
Vi-n 2 Tại đây, Tôn giả Anuruddha gọi các Tỷ-kheo … nói như sau:
Vi-n 3 —Ví như, này chư Hiền, sông Hằng thiên về phương Ðông, hướng về phương Ðông, xuôi về phương Ðông. Rồi một số đông quần chúng đến, cầm cuốc, thúng và nói: “Chúng ta sẽ làm cho sông Hằng này thiên về phương Tây, hướng về phương Tây, xuôi về phương Tây”. Thưa chư Hiền, chư Hiền nghĩ thế nào, số đông quần chúng này có thể làm cho sông Hằng thiên về phương Tây, hướng về phương Tây, xuôi về phương Tây không?
—Thưa không, Hiền giả. Vì sao? Thưa Hiền giả, vì sông Hằng thiên về phương Ðông, hướng về phương Ðông, xuôi về phương Ðông, không dễ gì khiến cho thiên về phương Tây, hướng về phương Tây, xuôi về phương Tây được. Và quần chúng ấy chỉ mệt nhọc và tổn não mà thôi.
Vi-n 4 —Cũng vậy, này chư Hiền, Tỷ-kheo tu tập bốn niệm xứ, làm cho sung mãn bốn niệm xứ. Dầu cho vua chúa, hay đại thần, hay thân hữu, hay bạn bè, hay bà con huyết thống có thể đến dâng các tài vật và mời: “Hãy đến, này Người tốt kia, sao để các áo vàng này hành hạ Ông? Sao lại đi biểu diễn với đầu trọc và bình bát? Hãy hoàn tục, thọ hưởng các tài vật và làm các phước đức!”; Tỷ-kheo ấy, thưa chư Hiền, được tu tập bốn niệm xứ, được làm cho sung mãn bốn niệm xứ, có thể từ bỏ giới trở lui hoàn tục; sự kiện như vậy không xảy ra. Vì sao? Vì này chư Hiền, tâm người ấy đã lâu ngày thiên về viễn ly, hướng về viễn ly, xuôi về viễn ly, lại trở lại hoàn tục, sự kiện như vậy không xảy ra.
Vi-n 5 Và này chư Hiền, Tỷ-kheo tu tập bốn niệm xứ như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào? Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân … quán thọ trên các cảm thọ … quán tâm trên tâm … trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; như vậy, thưa chư Hiền, Tỷ-kheo tu tập bốn niệm xứ, làm cho sung mãn bốn niệm xứ.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā anuruddho sāvatthiyaṁ viharati salaḷāgāre.
Tatra kho āyasmā anuruddho bhikkhū āmantesi …pe… etadavoca:
“seyyathāpi, āvuso, gaṅgā nadī pācīnaninnā pācīnapoṇā pācīnapabbhārā.
Atha mahājanakāyo āgaccheyya kudālapiṭakaṁ ādāya:
‘mayaṁ imaṁ gaṅgānadiṁ pacchāninnaṁ karissāma pacchāpoṇaṁ pacchāpabbhāran’ti.
Taṁ kiṁ maññathāvuso, api nu so mahājanakāyo gaṅgānadiṁ pacchāninnaṁ kareyya pacchāpoṇaṁ pacchāpabbhāran”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Taṁ kissa hetu”?
“Gaṅgā, āvuso, nadī pācīnaninnā pācīnapoṇā pācīnapabbhārā.
Sā na sukarā pacchāninnaṁ kātuṁ pacchāpoṇaṁ pacchāpabbhāraṁ.
Yāvadeva ca pana so mahājanakāyo kilamathassa vighātassa bhāgī assā”ti.
“Evameva kho, āvuso, bhikkhuṁ cattāro satipaṭṭhāne bhāventaṁ cattāro satipaṭṭhāne bahulīkarontaṁ rājāno vā rājamahāmattā vā mittā vā amaccā vā ñātī vā sālohitā vā bhogehi abhihaṭṭhuṁ pavāreyyuṁ:
‘ehambho purisa, kiṁ te ime kāsāvā anudahanti?
Kiṁ muṇḍo kapālamanusañcarasi?
Ehi hīnāyāvattitvā bhoge ca bhuñjassu puññāni ca karohī’ti.
So vata, āvuso, bhikkhu cattāro satipaṭṭhāne bhāvento cattāro satipaṭṭhāne bahulīkaronto sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Taṁ kissa hetu?
Yañhi taṁ, āvuso, cittaṁ dīgharattaṁ vivekaninnaṁ vivekapoṇaṁ vivekapabbhāraṁ taṁ vata hīnāyāvattissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Kathañcāvuso, bhikkhu cattāro satipaṭṭhāne bhāveti, cattāro satipaṭṭhāne bahulīkarotīti?
Idhāvuso, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati …pe…
vedanāsu …pe…
citte …pe…
dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Evaṁ kho, āvuso, bhikkhu cattāro satipaṭṭhāne bhāveti, cattāro satipaṭṭhāne bahulīkarotī”ti.
Aṭṭhamaṁ.