Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tôn giả Tissa, cháu trai Thế Tôn, nói với một số đông Tỷ-kheo:
—Này chư Hiền, thân ta như bị say vì vị ngọt (nặng nề và bại hoại). Ta không thấy rõ các phương hướng. Ta không phân biệt được các pháp. Thụy miên, hôn trầm xâm chiếm tâm ta và tồn tại. Ta sống Phạm hạnh không còn thoải mái, và ta nghi ngờ đối với các pháp.
Vi-n 3 Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 4 Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Tôn giả Tissa, cháu trai Thế Tôn, có nói với một số đông Tỷ-kheo: “Này chư Hiền, thân ta như bị say vì vị ngọt (nặng nề và bại hoại). Ta không thấy rõ các phương hướng. Ta không phân biệt được các pháp. Thụy miên, hôn trầm xâm chiếm tâm ta và tồn tại. Ta sống Phạm hạnh không còn thoải mái, và ta nghi ngờ đối với các pháp”.
Vi-n 5 Rồi Thế Tôn gọi một Tỷ-kheo:
—Ðến đây, này Tỷ-kheo! Hãy nhân danh Ta, gọi Tỷ-kheo Tissa: “Hiền giả Tissa, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả!”
Vi-n 6 —Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tôn giả Tissa; sau khi đến, nói với Tôn giả Tissa:
—Hiền giả Tissa! Bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả.
Vi-n 7 —Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn giả Tissa vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 8 Thế Tôn nói với Tôn giả Tissa đang ngồi một bên:
—Có thật chăng, này Tissa, Ông đã nói như sau cho một số đông Tỷ-kheo: “Này chư Hiền, thân ta như bị say vì vị ngọt … và ta nghi ngờ đối với các pháp”?
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Vi-n 9 —Ông nghĩ thế nào, này Tissa? Ðối với người chưa ly tham, chưa ly dục, chưa ly ái, chưa ly khát, chưa ly nhiệt tình, chưa ly khát ái đối với sắc, thời khi sắc ấy biến hoại, đổi khác, có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Vi-n 10-13. —Lành thay, lành thay, này Tissa! Như vậy là phải, này Tissa! Như người chưa ly tham đối với sắc … đối với thọ … đối với tưởng … Như người chưa ly tham đối với các hành, thời khi các hành ấy biến hoại, đổi khác, có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Vi-n 14 —Lành thay, lành thay, này Tissa! Như vậy là phải, này Tissa! Như người chưa ly tham đối với thức, người chưa ly tham, chưa ly dục, chưa ly ái, chưa ly khát, chưa ly nhiệt tình, chưa ly khát ái đối với thức, thời khi thức ấy biến hoại, đổi khác, có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Vi-n 15 —Lành thay, lành thay, này Tissa! Như vậy là phải, này Tissa, đối với người chưa ly tham đối với thức.
Vi-n 16 Này Tissa, Ông nghĩ thế nào, đối với người đã ly tham, đã ly dục, đã ly ái, đã ly khát, đã ly khát ái, đã ly nhiệt tình, đã ly khát ái đối với sắc, thời khi sắc ấy biến hoại, đổi khác, sầu, bi, khổ, ưu, não có khởi lên không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 17 —Lành thay, lành thay, này Tissa! Như vậy là phải, này Tissa, đối với người đã ly tham đối với sắc. Ðối với người đã ly tham, đã ly dục, đã ly ái, đã ly khát, đã ly khát ái, đã ly nhiệt tình, đã ly khát ái đối với thọ … đối với tưởng … đối với các hành … Như người đã ly tham đối với các hành, người đã ly tham, đã ly dục, đã ly ái, đã ly khát, đã ly khát ái đối với thức, thời khi thức ấy biến hoại, đổi khác, sầu, bi, khổ, ưu, não có khởi lên không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 18 —Lành thay, lành thay, này Tissa! Như vậy là phải, này Tissa, đối với người đã ly tham đối với thức.
Vi-n 19 Này Tissa, Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
Vi-n 20-23. —Thọ … tưởng … các hành … thức là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
Vi-n 24-25. —Do vậy … thấy vậy … ” … không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.
Vi-n 26 Ví như, này Tissa, có hai người. Một người không giỏi về đường sá, một người giỏi về đường sá. Trong hai người ấy, người không giỏi về đường sá này hỏi người giỏi về đường sá kia về con đường. Người ấy trả lời: “Hãy đi, này Bạn, đây là con đường. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy một thời gian, Bạn sẽ thấy con đường ấy chia làm hai. Ở đây, hãy bỏ con đường phía trái, và lấy con đường phía mặt. Rồi đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một khu rừng rậm. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một đầm nước lớn. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một vực nước sâu. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một khoảnh đất bằng khả ái!”
Vi-n 27 Ðây là ví dụ của Ta dùng, này Tissa, để nêu rõ ý nghĩa. Và ý nghĩa như sau:
Vi-n 28 Người không giỏi về đường sá, này Tissa, là ví cho kẻ phàm phu. Người giỏi về đường sá, này Tissa, là ví cho Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.
Vi-n 29 Con đường chia làm hai, này Tissa, là ví cho trạng thái nghi hoặc. Con đường tay trái, này Tissa, là ví cho con đường tà đạo tám ngành, tức là tà tri kiến … tà định. Con đường tay mặt, này Tissa, là ví cho con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến … chánh định.
Vi-n 30 Khu rừng rậm, này Tissa, là ví cho vô minh. Các đầm nước thấp, này Tissa, là ví cho các dục. Vực nước sâu, này Tissa, là ví cho phẫn nộ, ưu não. Khoảnh đất bằng phẳng khả ái, này Tissa, là ví cho Niết-bàn.
Vi-n 31 Hãy hoan hỷ, này Tissa! Hãy hoan hỷ, này Tissa! Ta giáo giới (cho Ông), Ta giúp đỡ (cho Ông), Ta giảng dạy (cho Ông).
Vi-n 32 Thế Tôn thuyết giảng như vậy, Tôn giả Tissa hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Sāvatthinidānaṁ.
Tena kho pana samayena āyasmā tisso bhagavato pitucchāputto sambahulānaṁ bhikkhūnaṁ evamāroceti:
“api me, āvuso, madhurakajāto viya kāyo; disāpi me na pakkhāyanti; dhammāpi maṁ na paṭibhanti; thinamiddhañca me cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati; anabhirato ca brahmacariyaṁ carāmi; hoti ca me dhammesu vicikicchā”ti.
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“āyasmā, bhante, tisso bhagavato pitucchāputto sambahulānaṁ bhikkhūnaṁ evamāroceti:
‘api me, āvuso, madhurakajāto viya kāyo; disāpi me na pakkhāyanti; dhammāpi maṁ na paṭibhanti; thinamiddhañca me cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati; anabhirato ca brahmacariyaṁ carāmi; hoti ca me dhammesu vicikicchā’”ti.
Atha kho bhagavā aññataraṁ bhikkhuṁ āmantesi:
“ehi tvaṁ, bhikkhu, mama vacanena tissaṁ bhikkhuṁ āmantehī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato paṭissutvā yenāyasmā tisso tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ tissaṁ etadavoca:
“satthā taṁ, āvuso tissa, āmantetī”ti.
“Evamāvuso”ti kho āyasmā tisso tassa bhikkhuno paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ tissaṁ bhagavā etadavoca:
“saccaṁ kira tvaṁ, tissa, sambahulānaṁ bhikkhūnaṁ evamārocesi:
‘api me, āvuso, madhurakajāto viya kāyo …pe… hoti ca me dhammesu vicikicchā’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññasi, tissa,
rūpe avigatarāgassa avigatacchandassa avigatapemassa avigatapipāsassa avigatapariḷāhassa avigatataṇhassa, tassa rūpassa vipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Sādhu sādhu, tissa.
Evañhetaṁ, tissa, hoti.
Yathā taṁ rūpe avigatarāgassa …
vedanāya …
saññāya …
saṅkhāresu avigatarāgassa …pe…
tesaṁ saṅkhārānaṁ vipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Sādhu sādhu, tissa.
Evañhetaṁ, tissa, hoti.
Yathā taṁ saṅkhāresu anigatarāgassa, viññāṇe avigatarāgassa avigatacchandassa avigatapemassa avigatapipāsassa avigatapariḷāhassa avigatataṇhassa, tassa viññāṇassa vipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Sādhu sādhu, tissa.
Evañhetaṁ, tissa, hoti.
Yathā taṁ viññāṇe avigatarāgassa.
Taṁ kiṁ maññasi, tissa,
rūpe vigatarāgassa vigatacchandassa vigatapemassa vigatapipāsassa vigatapariḷāhassa vigatataṇhassa, tassa rūpassa vipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu sādhu, tissa.
Evañhetaṁ, tissa, hoti.
Yathā taṁ rūpe vigatarāgassa …
vedanāya …
saññāya …
saṅkhāresu vigatarāgassa …
viññāṇe vigatarāgassa vigatacchandassa vigatapemassa vigatapipāsassa vigatapariḷāhassa vigatataṇhassa tassa viññāṇassa vipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu sādhu, tissa.
Evañhetaṁ, tissa, hoti.
Yathā taṁ viññāṇe vigatarāgassa.
Taṁ kiṁ maññasi, tissa,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Tasmātiha …pe…
evaṁ passaṁ …pe…
nāparaṁ itthattāyāti pajānāti.
Seyyathāpi, tissa, dve purisā—
eko puriso amaggakusalo, eko puriso maggakusalo.
Tamenaṁ so amaggakusalo puriso amuṁ maggakusalaṁ purisaṁ maggaṁ puccheyya.
So evaṁ vadeyya:
‘ehi, bho purisa, ayaṁ maggo.
Tena muhuttaṁ gaccha.
Tena muhuttaṁ gantvā dakkhissasi dvedhāpathaṁ, tattha vāmaṁ muñcitvā dakkhiṇaṁ gaṇhāhi.
Tena muhuttaṁ gaccha.
Tena muhuttaṁ gantvā dakkhissasi tibbaṁ vanasaṇḍaṁ.
Tena muhuttaṁ gaccha.
Tena muhuttaṁ gantvā dakkhissasi mahantaṁ ninnaṁ pallalaṁ.
Tena muhuttaṁ gaccha.
Tena muhuttaṁ gantvā dakkhissasi sobbhaṁ papātaṁ.
Tena muhuttaṁ gaccha.
Tena muhuttaṁ gantvā dakkhissasi samaṁ bhūmibhāgaṁ ramaṇīyan’ti.
Upamā kho myāyaṁ, tissa, katā atthassa viññāpanāya.
Ayaṁ cevettha attho:
‘puriso amaggakusalo’ti kho, tissa, puthujjanassetaṁ adhivacanaṁ.
‘Puriso maggakusalo’ti kho, tissa, tathāgatassetaṁ adhivacanaṁ arahato sammāsambuddhassa.
‘Dvedhāpatho’ti kho, tissa, vicikicchāyetaṁ adhivacanaṁ.
‘Vāmo maggo’ti kho, tissa, aṭṭhaṅgikassetaṁ micchāmaggassa adhivacanaṁ, seyyathidaṁ—
micchādiṭṭhiyā …pe… micchāsamādhissa.
‘Dakkhiṇo maggo’ti kho, tissa, ariyassetaṁ aṭṭhaṅgikassa maggassa adhivacanaṁ, seyyathidaṁ—
sammādiṭṭhiyā …pe… sammāsamādhissa.
‘Tibbo vanasaṇḍo’ti kho, tissa, avijjāyetaṁ adhivacanaṁ.
‘Mahantaṁ ninnaṁ pallalan’ti kho, tissa, kāmānametaṁ adhivacanaṁ.
‘Sobbho papāto’ti kho, tissa, kodhūpāyāsassetaṁ adhivacanaṁ.
‘Samo bhūmibhāgo ramaṇīyo’ti kho, tissa, nibbānassetaṁ adhivacanaṁ.
Abhirama, tissa, abhirama, tissa.
Ahamovādena ahamanuggahena ahamanusāsaniyā”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamano āyasmā tisso bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Dutiyaṁ.
SC 1At Savatthi. Now on that occasion the Venerable Tissa, the Blessed One’s paternal cousin, informed a number of bhikkhus: “Friends, my body seems as if it has been drugged, I have become disoriented, the teachings are no longer clear to me. Sloth and torpor persist obsessing my mind. I am leading the holy life dissatisfied, and I have doubt about the teachings.”
SC 2Then a number of bhikkhus approached the Blessed One, paid homage to him, sat down to one side, and reported this matter to him. The Blessed One then addressed a certain bhikkhu thus: “Come, bhikkhu, tell the bhikkhu Tissa in my name that the Teacher calls him.”
SC 3“Yes, venerable sir,” that bhikkhu replied, and he went to the Venerable Tissa and told him: “The Teacher calls you, friend Tissa.”
SC 4“Yes, friend,” the Venerable Tissa replied, and he approached the Blessed One, paid homage to him, and sat down to one side. The Blessed One then said to him: “Is it true, Tissa, sn.iii.107 that you informed a number of bhikkhus thus: ‘Friends, my body seems as if it were drugged … and I have doubt about the teachings’?”
“Yes, venerable sir.”
SC 5“What do you think, Tissa, if one is not devoid of lust for form, not devoid of desire, affection, thirst, passion, and craving for it, then with the change and alteration of that form, do sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair arise within?”
“Yes, venerable sir.”
SC 6“Good, good, Tissa! So it is, Tissa, with one who is not devoid of lust for form. If one is not devoid of lust for feeling … for perception … for volitional formations … for consciousness, not devoid of desire, sn.iii.108 affection, thirst, passion, and craving for it, then with the change and alteration of that consciousness, do sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair arise within?”
“Yes, venerable sir.”
SC 7“Good, good, Tissa! So it is, Tissa, with one who is not devoid of lust for consciousness. If one is devoid of lust for form, devoid of desire, affection, thirst, passion, and craving for it, then with the change and alteration of that form, do sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair arise within?”
“No, venerable sir.”
SC 8“Good, good, Tissa! So it is, Tissa, with one who is devoid of lust for form. If one is devoid of lust for feeling … for perception … for volitional formations … for consciousness, devoid of desire, affection, thirst, passion, and craving for it, then with the change and alteration of that consciousness, do sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair arise within?”
“No, venerable sir.”
SC 9“Good, good, Tissa! So it is, Tissa, with one who is devoid of lust for consciousness. What do you think, Tissa, is form permanent or impermanent?”—“Impermanent, venerable sir.”…—“Therefore … Seeing thus … He understands: ‘… there is no more for this state of being.’
SC 10“Suppose, Tissa, there were two men: one unskilled in the path, the other skilled in the path. The man unskilled in the path would ask the skilled man a question about the path, and the latter would say: ‘Come, good man, this is the path. Go along it a little way and you will see a fork in the road. Avoid the left-hand branch and take the right-hand branch. Go a little further and you will see a dense thicket. Go a little further and you will see a vast marshy swamp. Go a little further and you will see a steep precipice. Go a little further and you will see a delightful expanse of level ground.’
SC 11“I have made up this simile, Tissa, in order to convey a meaning. This here is the meaning: ‘The man unskilled in the path’: this is a designation for the worldling. ‘The man skilled in the path’: this is a designation for the Tathagata, the Arahant, the Perfectly Enlightened One. ‘The forked road’: this is a designation for doubt. sn.iii.109 ‘The left-hand branch’: this is a designation for the wrong eightfold path; that is, wrong view … wrong concentration. ‘The right-hand branch’: this is a designation for the Noble Eightfold Path; that is, right view … right concentration. ‘The dense thicket’: this is a designation for ignorance. ‘The vast marshy swamp’: this is a designation for sensual pleasures. ‘The steep precipice’: this is a designation for despair due to anger. ‘The delightful expanse of level ground’: this is a designation for Nibbāna.
SC 12“Rejoice, Tissa! Rejoice, Tissa! I am here to exhort, I am here to assist, I am here to instruct!”
SC 13This is what the Blessed One said. Elated, the Venerable Tissa delighted in the Blessed One’s statement.
Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tôn giả Tissa, cháu trai Thế Tôn, nói với một số đông Tỷ-kheo:
—Này chư Hiền, thân ta như bị say vì vị ngọt (nặng nề và bại hoại). Ta không thấy rõ các phương hướng. Ta không phân biệt được các pháp. Thụy miên, hôn trầm xâm chiếm tâm ta và tồn tại. Ta sống Phạm hạnh không còn thoải mái, và ta nghi ngờ đối với các pháp.
Vi-n 3 Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 4 Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Tôn giả Tissa, cháu trai Thế Tôn, có nói với một số đông Tỷ-kheo: “Này chư Hiền, thân ta như bị say vì vị ngọt (nặng nề và bại hoại). Ta không thấy rõ các phương hướng. Ta không phân biệt được các pháp. Thụy miên, hôn trầm xâm chiếm tâm ta và tồn tại. Ta sống Phạm hạnh không còn thoải mái, và ta nghi ngờ đối với các pháp”.
Vi-n 5 Rồi Thế Tôn gọi một Tỷ-kheo:
—Ðến đây, này Tỷ-kheo! Hãy nhân danh Ta, gọi Tỷ-kheo Tissa: “Hiền giả Tissa, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả!”
Vi-n 6 —Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tôn giả Tissa; sau khi đến, nói với Tôn giả Tissa:
—Hiền giả Tissa! Bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả.
Vi-n 7 —Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn giả Tissa vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 8 Thế Tôn nói với Tôn giả Tissa đang ngồi một bên:
—Có thật chăng, này Tissa, Ông đã nói như sau cho một số đông Tỷ-kheo: “Này chư Hiền, thân ta như bị say vì vị ngọt … và ta nghi ngờ đối với các pháp”?
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Vi-n 9 —Ông nghĩ thế nào, này Tissa? Ðối với người chưa ly tham, chưa ly dục, chưa ly ái, chưa ly khát, chưa ly nhiệt tình, chưa ly khát ái đối với sắc, thời khi sắc ấy biến hoại, đổi khác, có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Vi-n 10-13. —Lành thay, lành thay, này Tissa! Như vậy là phải, này Tissa! Như người chưa ly tham đối với sắc … đối với thọ … đối với tưởng … Như người chưa ly tham đối với các hành, thời khi các hành ấy biến hoại, đổi khác, có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Vi-n 14 —Lành thay, lành thay, này Tissa! Như vậy là phải, này Tissa! Như người chưa ly tham đối với thức, người chưa ly tham, chưa ly dục, chưa ly ái, chưa ly khát, chưa ly nhiệt tình, chưa ly khát ái đối với thức, thời khi thức ấy biến hoại, đổi khác, có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Vi-n 15 —Lành thay, lành thay, này Tissa! Như vậy là phải, này Tissa, đối với người chưa ly tham đối với thức.
Vi-n 16 Này Tissa, Ông nghĩ thế nào, đối với người đã ly tham, đã ly dục, đã ly ái, đã ly khát, đã ly khát ái, đã ly nhiệt tình, đã ly khát ái đối với sắc, thời khi sắc ấy biến hoại, đổi khác, sầu, bi, khổ, ưu, não có khởi lên không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 17 —Lành thay, lành thay, này Tissa! Như vậy là phải, này Tissa, đối với người đã ly tham đối với sắc. Ðối với người đã ly tham, đã ly dục, đã ly ái, đã ly khát, đã ly khát ái, đã ly nhiệt tình, đã ly khát ái đối với thọ … đối với tưởng … đối với các hành … Như người đã ly tham đối với các hành, người đã ly tham, đã ly dục, đã ly ái, đã ly khát, đã ly khát ái đối với thức, thời khi thức ấy biến hoại, đổi khác, sầu, bi, khổ, ưu, não có khởi lên không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 18 —Lành thay, lành thay, này Tissa! Như vậy là phải, này Tissa, đối với người đã ly tham đối với thức.
Vi-n 19 Này Tissa, Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
Vi-n 20-23. —Thọ … tưởng … các hành … thức là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
Vi-n 24-25. —Do vậy … thấy vậy … ” … không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.
Vi-n 26 Ví như, này Tissa, có hai người. Một người không giỏi về đường sá, một người giỏi về đường sá. Trong hai người ấy, người không giỏi về đường sá này hỏi người giỏi về đường sá kia về con đường. Người ấy trả lời: “Hãy đi, này Bạn, đây là con đường. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy một thời gian, Bạn sẽ thấy con đường ấy chia làm hai. Ở đây, hãy bỏ con đường phía trái, và lấy con đường phía mặt. Rồi đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một khu rừng rậm. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một đầm nước lớn. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một vực nước sâu. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một khoảnh đất bằng khả ái!”
Vi-n 27 Ðây là ví dụ của Ta dùng, này Tissa, để nêu rõ ý nghĩa. Và ý nghĩa như sau:
Vi-n 28 Người không giỏi về đường sá, này Tissa, là ví cho kẻ phàm phu. Người giỏi về đường sá, này Tissa, là ví cho Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.
Vi-n 29 Con đường chia làm hai, này Tissa, là ví cho trạng thái nghi hoặc. Con đường tay trái, này Tissa, là ví cho con đường tà đạo tám ngành, tức là tà tri kiến … tà định. Con đường tay mặt, này Tissa, là ví cho con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến … chánh định.
Vi-n 30 Khu rừng rậm, này Tissa, là ví cho vô minh. Các đầm nước thấp, này Tissa, là ví cho các dục. Vực nước sâu, này Tissa, là ví cho phẫn nộ, ưu não. Khoảnh đất bằng phẳng khả ái, này Tissa, là ví cho Niết-bàn.
Vi-n 31 Hãy hoan hỷ, này Tissa! Hãy hoan hỷ, này Tissa! Ta giáo giới (cho Ông), Ta giúp đỡ (cho Ông), Ta giảng dạy (cho Ông).
Vi-n 32 Thế Tôn thuyết giảng như vậy, Tôn giả Tissa hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Sāvatthinidānaṁ.
Tena kho pana samayena āyasmā tisso bhagavato pitucchāputto sambahulānaṁ bhikkhūnaṁ evamāroceti:
“api me, āvuso, madhurakajāto viya kāyo; disāpi me na pakkhāyanti; dhammāpi maṁ na paṭibhanti; thinamiddhañca me cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati; anabhirato ca brahmacariyaṁ carāmi; hoti ca me dhammesu vicikicchā”ti.
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“āyasmā, bhante, tisso bhagavato pitucchāputto sambahulānaṁ bhikkhūnaṁ evamāroceti:
‘api me, āvuso, madhurakajāto viya kāyo; disāpi me na pakkhāyanti; dhammāpi maṁ na paṭibhanti; thinamiddhañca me cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati; anabhirato ca brahmacariyaṁ carāmi; hoti ca me dhammesu vicikicchā’”ti.
Atha kho bhagavā aññataraṁ bhikkhuṁ āmantesi:
“ehi tvaṁ, bhikkhu, mama vacanena tissaṁ bhikkhuṁ āmantehī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato paṭissutvā yenāyasmā tisso tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ tissaṁ etadavoca:
“satthā taṁ, āvuso tissa, āmantetī”ti.
“Evamāvuso”ti kho āyasmā tisso tassa bhikkhuno paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ tissaṁ bhagavā etadavoca:
“saccaṁ kira tvaṁ, tissa, sambahulānaṁ bhikkhūnaṁ evamārocesi:
‘api me, āvuso, madhurakajāto viya kāyo …pe… hoti ca me dhammesu vicikicchā’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññasi, tissa,
rūpe avigatarāgassa avigatacchandassa avigatapemassa avigatapipāsassa avigatapariḷāhassa avigatataṇhassa, tassa rūpassa vipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Sādhu sādhu, tissa.
Evañhetaṁ, tissa, hoti.
Yathā taṁ rūpe avigatarāgassa …
vedanāya …
saññāya …
saṅkhāresu avigatarāgassa …pe…
tesaṁ saṅkhārānaṁ vipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Sādhu sādhu, tissa.
Evañhetaṁ, tissa, hoti.
Yathā taṁ saṅkhāresu anigatarāgassa, viññāṇe avigatarāgassa avigatacchandassa avigatapemassa avigatapipāsassa avigatapariḷāhassa avigatataṇhassa, tassa viññāṇassa vipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Sādhu sādhu, tissa.
Evañhetaṁ, tissa, hoti.
Yathā taṁ viññāṇe avigatarāgassa.
Taṁ kiṁ maññasi, tissa,
rūpe vigatarāgassa vigatacchandassa vigatapemassa vigatapipāsassa vigatapariḷāhassa vigatataṇhassa, tassa rūpassa vipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu sādhu, tissa.
Evañhetaṁ, tissa, hoti.
Yathā taṁ rūpe vigatarāgassa …
vedanāya …
saññāya …
saṅkhāresu vigatarāgassa …
viññāṇe vigatarāgassa vigatacchandassa vigatapemassa vigatapipāsassa vigatapariḷāhassa vigatataṇhassa tassa viññāṇassa vipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu sādhu, tissa.
Evañhetaṁ, tissa, hoti.
Yathā taṁ viññāṇe vigatarāgassa.
Taṁ kiṁ maññasi, tissa,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Tasmātiha …pe…
evaṁ passaṁ …pe…
nāparaṁ itthattāyāti pajānāti.
Seyyathāpi, tissa, dve purisā—
eko puriso amaggakusalo, eko puriso maggakusalo.
Tamenaṁ so amaggakusalo puriso amuṁ maggakusalaṁ purisaṁ maggaṁ puccheyya.
So evaṁ vadeyya:
‘ehi, bho purisa, ayaṁ maggo.
Tena muhuttaṁ gaccha.
Tena muhuttaṁ gantvā dakkhissasi dvedhāpathaṁ, tattha vāmaṁ muñcitvā dakkhiṇaṁ gaṇhāhi.
Tena muhuttaṁ gaccha.
Tena muhuttaṁ gantvā dakkhissasi tibbaṁ vanasaṇḍaṁ.
Tena muhuttaṁ gaccha.
Tena muhuttaṁ gantvā dakkhissasi mahantaṁ ninnaṁ pallalaṁ.
Tena muhuttaṁ gaccha.
Tena muhuttaṁ gantvā dakkhissasi sobbhaṁ papātaṁ.
Tena muhuttaṁ gaccha.
Tena muhuttaṁ gantvā dakkhissasi samaṁ bhūmibhāgaṁ ramaṇīyan’ti.
Upamā kho myāyaṁ, tissa, katā atthassa viññāpanāya.
Ayaṁ cevettha attho:
‘puriso amaggakusalo’ti kho, tissa, puthujjanassetaṁ adhivacanaṁ.
‘Puriso maggakusalo’ti kho, tissa, tathāgatassetaṁ adhivacanaṁ arahato sammāsambuddhassa.
‘Dvedhāpatho’ti kho, tissa, vicikicchāyetaṁ adhivacanaṁ.
‘Vāmo maggo’ti kho, tissa, aṭṭhaṅgikassetaṁ micchāmaggassa adhivacanaṁ, seyyathidaṁ—
micchādiṭṭhiyā …pe… micchāsamādhissa.
‘Dakkhiṇo maggo’ti kho, tissa, ariyassetaṁ aṭṭhaṅgikassa maggassa adhivacanaṁ, seyyathidaṁ—
sammādiṭṭhiyā …pe… sammāsamādhissa.
‘Tibbo vanasaṇḍo’ti kho, tissa, avijjāyetaṁ adhivacanaṁ.
‘Mahantaṁ ninnaṁ pallalan’ti kho, tissa, kāmānametaṁ adhivacanaṁ.
‘Sobbho papāto’ti kho, tissa, kodhūpāyāsassetaṁ adhivacanaṁ.
‘Samo bhūmibhāgo ramaṇīyo’ti kho, tissa, nibbānassetaṁ adhivacanaṁ.
Abhirama, tissa, abhirama, tissa.
Ahamovādena ahamanuggahena ahamanusāsaniyā”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamano āyasmā tisso bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Dutiyaṁ.