Vi-n 1 … Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2 —Ví như, này các Tỷ-kheo, bốn người bắn cung dõng mãnh, lão luyện, thuần tay, thiện xảo về cung thuật, đứng tại bốn phương.
Vi-n 3 Rồi một người đến và nói rằng: “Ta sẽ nắm bắt và đem lại những mũi tên được bắn đi bốn phương, trước khi chúng rơi xuống đất, do bốn người bắn cung này bắn đi, những người dõng mãnh, lão luyện, thuần tay, thiện xảo về cung thuật”.
Vi-n 4 —Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Như vậy có vừa đủ chăng để gọi người nhanh nhẹn ấy đầy đủ với sự nhanh nhẹn tối thượng?
Vi-n 5 —Bạch Thế Tôn, nếu chỉ từ một người bắn cung dõng mãnh, lão luyện, thuần tay, thiện xảo về cung thuật, có thể nắm bắt và đem lại một mũi tên được bắn đi, như vậy là vừa đủ để gọi người nhanh nhẹn ấy, đầy đủ với sự nhanh nhẹn tối thượng. Còn nói gì từ bốn người bắn tên, dõng mãnh, lão luyện, thuần tay, thiện xảo về cung thuật!
Vi-n 6 —Và như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự nhanh nhẹn của người ấy. Và như vậy là sự nhanh nhẹn của mặt trăng, mặt trời, còn nhanh hơn sự nhanh nhẹn trước. Và như vậy, này các Tỷ-kheo là sự nhanh nhẹn của người ấy, và như vậy là sự nhanh nhẹn của mặt trăng, mặt trời, và như vậy là sự nhanh nhẹn của các chư Thiên chạy trước mặt trăng, mặt trời. Còn nhanh nhẹn hơn là sự biến diệt của thọ hành (thọ mạng của các sự vật).
Vi-n 7 Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: “Chúng tôi sẽ sống không phóng dật”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Seyyathāpi, bhikkhave, cattāro daḷhadhammā dhanuggahā susikkhitā katahatthā katūpāsanā catuddisā ṭhitā assu.
Atha puriso āgaccheyya:
‘ahaṁ imesaṁ catunnaṁ daḷhadhammānaṁ dhanuggahānaṁ susikkhitānaṁ katahatthānaṁ katūpāsanānaṁ catuddisā kaṇḍe khitte appatiṭṭhite pathaviyaṁ gahetvā āharissāmī’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
‘javano puriso paramena javena samannāgato’ti alaṁvacanāyā”ti?
“Ekassa cepi, bhante, daḷhadhammassa dhanuggahassa susikkhitassa katahatthassa katūpāsanassa kaṇḍaṁ khittaṁ appatiṭṭhitaṁ pathaviyaṁ gahetvā āhareyya:
‘javano puriso paramena javena samannāgato’ti alaṁvacanāya, ko pana vādo catunnaṁ daḷhadhammānaṁ dhanuggahānaṁ susikkhitānaṁ katahatthānaṁ katūpāsanānan”ti?
“Yathā ca, bhikkhave, tassa purisassa javo, yathā ca candimasūriyānaṁ javo, tato sīghataro.
Yathā ca, bhikkhave, tassa purisassa javo yathā ca candimasūriyānaṁ javo yathā ca yā devatā candimasūriyānaṁ purato dhāvanti tāsaṁ devatānaṁ javo, (…) tato sīghataraṁ āyusaṅkhārā khīyanti.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘appamattā viharissāmā’ti.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Chaṭṭhaṁ.
At Sāvatthī.
“Mendicants, suppose there were four well-trained expert archers with strong bows standing in the four quarters.
And a man came along and thought,
‘When these four well-trained expert archers shoot arrows in four quarters, I’ll catch them before they reach the ground, and then I’ll bring them back.’
What do you think, mendicants?
Are they qualified to be called ‘a speedster endowed with super-speed’?”
“If he could catch an arrow shot by just one well-trained expert archer before it reaches the ground and bring it back,
he’d be qualified to be called ‘a speedster endowed with super-speed’. How much more so arrows shot by four archers!”
“As fast as that man is, the sun and moon are faster.
As fast as that man is, as fast as the sun and moon are, and as fast as the deities that run before the sun and moon are, the waning of the life forces is faster.
So you should train like this:
‘We will stay diligent.’
That’s how you should train.”
Vi-n 1 … Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2 —Ví như, này các Tỷ-kheo, bốn người bắn cung dõng mãnh, lão luyện, thuần tay, thiện xảo về cung thuật, đứng tại bốn phương.
Vi-n 3 Rồi một người đến và nói rằng: “Ta sẽ nắm bắt và đem lại những mũi tên được bắn đi bốn phương, trước khi chúng rơi xuống đất, do bốn người bắn cung này bắn đi, những người dõng mãnh, lão luyện, thuần tay, thiện xảo về cung thuật”.
Vi-n 4 —Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Như vậy có vừa đủ chăng để gọi người nhanh nhẹn ấy đầy đủ với sự nhanh nhẹn tối thượng?
Vi-n 5 —Bạch Thế Tôn, nếu chỉ từ một người bắn cung dõng mãnh, lão luyện, thuần tay, thiện xảo về cung thuật, có thể nắm bắt và đem lại một mũi tên được bắn đi, như vậy là vừa đủ để gọi người nhanh nhẹn ấy, đầy đủ với sự nhanh nhẹn tối thượng. Còn nói gì từ bốn người bắn tên, dõng mãnh, lão luyện, thuần tay, thiện xảo về cung thuật!
Vi-n 6 —Và như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự nhanh nhẹn của người ấy. Và như vậy là sự nhanh nhẹn của mặt trăng, mặt trời, còn nhanh hơn sự nhanh nhẹn trước. Và như vậy, này các Tỷ-kheo là sự nhanh nhẹn của người ấy, và như vậy là sự nhanh nhẹn của mặt trăng, mặt trời, và như vậy là sự nhanh nhẹn của các chư Thiên chạy trước mặt trăng, mặt trời. Còn nhanh nhẹn hơn là sự biến diệt của thọ hành (thọ mạng của các sự vật).
Vi-n 7 Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: “Chúng tôi sẽ sống không phóng dật”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Seyyathāpi, bhikkhave, cattāro daḷhadhammā dhanuggahā susikkhitā katahatthā katūpāsanā catuddisā ṭhitā assu.
Atha puriso āgaccheyya:
‘ahaṁ imesaṁ catunnaṁ daḷhadhammānaṁ dhanuggahānaṁ susikkhitānaṁ katahatthānaṁ katūpāsanānaṁ catuddisā kaṇḍe khitte appatiṭṭhite pathaviyaṁ gahetvā āharissāmī’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
‘javano puriso paramena javena samannāgato’ti alaṁvacanāyā”ti?
“Ekassa cepi, bhante, daḷhadhammassa dhanuggahassa susikkhitassa katahatthassa katūpāsanassa kaṇḍaṁ khittaṁ appatiṭṭhitaṁ pathaviyaṁ gahetvā āhareyya:
‘javano puriso paramena javena samannāgato’ti alaṁvacanāya, ko pana vādo catunnaṁ daḷhadhammānaṁ dhanuggahānaṁ susikkhitānaṁ katahatthānaṁ katūpāsanānan”ti?
“Yathā ca, bhikkhave, tassa purisassa javo, yathā ca candimasūriyānaṁ javo, tato sīghataro.
Yathā ca, bhikkhave, tassa purisassa javo yathā ca candimasūriyānaṁ javo yathā ca yā devatā candimasūriyānaṁ purato dhāvanti tāsaṁ devatānaṁ javo, (…) tato sīghataraṁ āyusaṅkhārā khīyanti.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘appamattā viharissāmā’ti.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Chaṭṭhaṁ.