S.i,190Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi, Pubbārāma (Ðông Viên), Migāra—màtu pàsàda (Lộc Mẫu giảng đường), cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, tất cả đều chứng quả A-la-hán.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Thế Tôn, nhân ngày trăng tròn Bố-tát Tự tứ, Ngài ngồi giữa trời, xung quanh chúng Tỷ-kheo đoanh vây.
Vi-n 3 Rồi Thế Tôn, sau khi nhìn quanh chúng Tỷ-kheo im lặng, liền bảo các Tỷ-kheo:
Vi-n 4 —Này các Tỷ-kheo, nay Ta mời các Ông nói lên, các Ông có điều gì chỉ trích Ta hay không, về thân hay về lời nói?
Vi-n 5 Ðược nghe như vậy, Tôn giả Sāriputta từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay vái chào Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, chúng con không có chỉ trích gì Thế Tôn về thân hay về lời nói. Bạch Thế Tôn, con đường chưa sanh khởi, Thế Tôn làm cho sanh khởi; con đường chưa được rõ biết, Thế Tôn làm cho rõ biết; con đường chưa được thuyết giảng, Thế Tôn thuyết giảng. Thế Tôn biết đạo, hiểu đạo, thiện xảo về đạo; và bạch Thế Tôn, các đệ tử nay là những vị sống hành đạo, và sẽ thành tựu (những pháp ấy) về sau. Và bạch Thế Tôn, con xin mời Thế Tôn nói lên, Thế Tôn có điều gì chỉ trích con hay không, về thân hay về lời nói?
Vi-n 6 —Này Sāriputta, Ta không có gì chỉ trích Ông về thân, hay về lời nói. Này Sāriputta, Ông là bậc Ðại trí. Này Sāriputta, Ông là bậc Quảng trí. Này Sāriputta, Ông là bậc Tốc trí. Này Sāriputta, Ông là bậc Tiệp trí. Này Sāriputta, Ông là bậc Nhuệ trí. Này Sāriputta, Ông là bậc Thể nhập trí. Này Sāriputta, ví như trưởng tử, con vua Chuyển luân vương, chơn chánh vận chuyển bánh xe đã được vua cha vận chuyển. Cũng vậy, này Sāriputta, Ông chơn chánh chuyển vận pháp luân vô thượng đã được Ta chuyển vận.
Vi-n 7 —Bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn không có gì chỉ trích con về thân hay về lời nói, vậy bạch Thế Tôn, đối với khoảng năm trăm Tỷ-kheo này, Thế Tôn có gì chỉ trích hay không, về thân hay về lời nói?
Vi-n 8 —Này Sāriputta, đối với khoảng năm trăm Tỷ-kheo này, Ta không có gì chỉ trích về thân hay về lời nói. Này Sāriputta, trong khoảng năm trăm Tỷ-kheo này, sáu mươi Tỷ-kheo là bậc Tam minh, sáu mươi Tỷ—kheo là bậc chứng được sáu Thắng trí, sáu mươi Tỷ-kheo là bậc Câu giải thoát, và các vị còn lại là bậc Tuệ giải thoát.
Vi-n 9 Rồi Tôn giả Vangìsa từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay vái chào Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
Vi-n 10 —Bạch Thế Tôn, một vấn đề đến với con. Bạch Thiện Thệ, một vấn đề đến với con.
Vi-n 11 Thế Tôn nói:
—Này Vangìsa, hãy nói lên vấn đề ấy!
Vi-n 12 Rồi Tôn giả Vangìsa trước mặt Thế Tôn nói lên những bài kệ tán thán thích ứng:
Nay ngày rằm thanh tịnh,
Năm trăm Tỷ-kheo họp,
Bậc Thánh cắt kiết phược,
Vô phiền, đoạn tái sanh.
Như vua Chuyển luân vương,
Ðại thần hầu xung quanh,
Du hành khắp bốn phương,
Ðất này đến hải biên.
Như vậy, các đệ tử,
Ðã chứng được Tam minh,
Sát hại được tử thần,
Những vị này hầu hạ,
Bậc thắng trận chiến trường,
Chủ lữ hành vô thượng.
Tất cả con Thế Tôn,
Không ai là vô dụng,
Xin chí thành đảnh lễ,
Bậc nhổ tên khát ái,
Xin tâm thành cung kính,
Bậc dòng họ mặt trời.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati pubbārāme migāramātupāsāde mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi sabbeheva arahantehi.
Tena kho pana samayena bhagavā tadahuposathe pannarase pavāraṇāya bhikkhusaṅghaparivuto abbhokāse nisinno hoti.
Atha kho bhagavā tuṇhībhūtaṁ bhikkhusaṅghaṁ anuviloketvā bhikkhū āmantesi:
“handa dāni, bhikkhave, pavāremi vo.
Na ca me kiñci garahatha kāyikaṁ vā vācasikaṁ vā”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā sāriputto uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca:
“na kho mayaṁ, bhante, bhagavato kiñci garahāma kāyikaṁ vā vācasikaṁ vā.
Bhagavā hi, bhante, anuppannassa maggassa uppādetā, asañjātassa maggassa sañjanetā, anakkhātassa maggassa akkhātā, maggaññū maggavidū maggakovido.
Maggānugā ca, bhante, etarahi sāvakā viharanti pacchā samannāgatā;
ahañca kho, bhante, bhagavantaṁ pavāremi.
Na ca me bhagavā kiñci garahati kāyikaṁ vā vācasikaṁ vā”ti.
“Na khvāhaṁ te, sāriputta, kiñci garahāmi kāyikaṁ vā vācasikaṁ vā.
Paṇḍito tvaṁ, sāriputta, mahāpañño tvaṁ, sāriputta, puthupañño tvaṁ, sāriputta, hāsapañño tvaṁ, sāriputta, javanapañño tvaṁ, sāriputta, tikkhapañño tvaṁ, sāriputta, nibbedhikapañño tvaṁ, sāriputta.
Seyyathāpi, sāriputta, rañño cakkavattissa jeṭṭhaputto pitarā pavattitaṁ cakkaṁ sammadeva anuppavatteti;
evameva kho tvaṁ, sāriputta, mayā anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavattitaṁ sammadeva anuppavattesī”ti.
“No ce kira me, bhante, bhagavā kiñci garahati kāyikaṁ vā vācasikaṁ vā.
Imesaṁ pana, bhante, bhagavā pañcannaṁ bhikkhusatānaṁ na kiñci garahati kāyikaṁ vā vācasikaṁ vā”ti.
“Imesampi khvāhaṁ, sāriputta, pañcannaṁ bhikkhusatānaṁ na kiñci garahāmi kāyikaṁ vā vācasikaṁ vā.
Imesañhi, sāriputta, pañcannaṁ bhikkhusatānaṁ saṭṭhi bhikkhū tevijjā, saṭṭhi bhikkhū chaḷabhiññā, saṭṭhi bhikkhū ubhatobhāgavimuttā, atha itare paññāvimuttā”ti.
Atha kho āyasmā vaṅgīso uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca:
“paṭibhāti maṁ, bhagavā, paṭibhāti maṁ, sugatā”ti.
“Paṭibhātu taṁ, vaṅgīsā”ti bhagavā avoca.
Atha kho āyasmā vaṅgīso bhagavantaṁ sammukhā sāruppāhi gāthāhi abhitthavi:
“Ajja pannarase visuddhiyā,
Bhikkhū pañcasatā samāgatā;
Saṁyojanabandhanacchidā,
Anīghā khīṇapunabbhavā isī.
Cakkavattī yathā rājā,
amaccaparivārito;
Samantā anupariyeti,
sāgarantaṁ mahiṁ imaṁ.
Evaṁ vijitasaṅgāmaṁ,
satthavāhaṁ anuttaraṁ;
Sāvakā payirupāsanti,
tevijjā maccuhāyino.
Sabbe bhagavato puttā,
palāpettha na vijjati;
Taṇhāsallassa hantāraṁ,
vande ādiccabandhunan”ti.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in the stilt longhouse of Migāra’s mother in the Eastern Monastery, together with a large Saṅgha of around five hundred monks, all of whom were perfected ones.
Now, at that time it was the sabbath—the full moon on the fifteenth day—and the Buddha was sitting in the open surrounded by the Saṅgha of monks for the invitation to admonish.
Then the Buddha looked around the Saṅgha of monks, who were silent. He addressed them:
“Come now, monks, I invite you all:
Is there anything I’ve done by way of body or speech that you would criticize?”
When he had spoken, Venerable Sāriputta got up from his seat, arranged his robe over one shoulder, raised his joined palms toward the Buddha, and said:
“There is nothing, sir, that you’ve done by way of body or speech that we would criticize.
For the Blessed One gave rise to the unarisen path, gave birth to the unborn path, and explained the unexplained path. He is the knower of the path, the discoverer of the path, the expert on the path.
And now the disciples live following the path; they acquire it later.
And sir, I invite the Blessed One.
Is there anything I’ve done by way of body or speech that you would criticize?”
“There is nothing, Sāriputta, that you’ve done by way of body or speech that I would criticize.
Sāriputta, you are astute. You have great wisdom, widespread wisdom, laughing wisdom, swift wisdom, sharp wisdom, penetrating wisdom.
A wheel-turning monarch’s oldest son rightly keeps wielding the power set in motion by his father.
In the same way, Sāriputta rightly keeps rolling the supreme Wheel of Dhamma that was rolled forth by me.”
“Since it seems I have done nothing worthy of the Blessed One’s criticism,
is there anything these five hundred monks have done by way of body or speech that you would criticize?”
“There is nothing, Sāriputta, that these five hundred monks have done by way of body or speech that I would criticize.
For of these five hundred monks, sixty have the three knowledges, sixty have the six direct knowledges, sixty are freed both ways, and the rest are freed by wisdom.”
Then Venerable Vaṅgīsa got up from his seat, arranged his robe over one shoulder, raised his joined palms toward the Buddha, and said,
“I feel inspired to speak, Blessed One! I feel inspired to speak, Holy One!”
“Then speak as you feel inspired,” said the Buddha.
Then Vaṅgīsa extolled the Buddha in his presence with fitting verses:
“Today, on the fifteenth day sabbath,
five hundred monks have gathered together to purify their precepts.
These untroubled sages have cut off their fetters and bonds,
they will not be reborn again.
Just as a wheel-turning monarch
surrounded by ministers
travels all around this
land girt by sea.
So disciples with the three knowledges,
conquerors of death,
revere the winner of the battle,
the unsurpassed caravan leader.
All are sons of the Blessed One—
there is no rubbish here.
I bow to the Kinsman of the Sun,
destroyer of the dart of craving.”
S.i,190Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi, Pubbārāma (Ðông Viên), Migāra—màtu pàsàda (Lộc Mẫu giảng đường), cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, tất cả đều chứng quả A-la-hán.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Thế Tôn, nhân ngày trăng tròn Bố-tát Tự tứ, Ngài ngồi giữa trời, xung quanh chúng Tỷ-kheo đoanh vây.
Vi-n 3 Rồi Thế Tôn, sau khi nhìn quanh chúng Tỷ-kheo im lặng, liền bảo các Tỷ-kheo:
Vi-n 4 —Này các Tỷ-kheo, nay Ta mời các Ông nói lên, các Ông có điều gì chỉ trích Ta hay không, về thân hay về lời nói?
Vi-n 5 Ðược nghe như vậy, Tôn giả Sāriputta từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay vái chào Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, chúng con không có chỉ trích gì Thế Tôn về thân hay về lời nói. Bạch Thế Tôn, con đường chưa sanh khởi, Thế Tôn làm cho sanh khởi; con đường chưa được rõ biết, Thế Tôn làm cho rõ biết; con đường chưa được thuyết giảng, Thế Tôn thuyết giảng. Thế Tôn biết đạo, hiểu đạo, thiện xảo về đạo; và bạch Thế Tôn, các đệ tử nay là những vị sống hành đạo, và sẽ thành tựu (những pháp ấy) về sau. Và bạch Thế Tôn, con xin mời Thế Tôn nói lên, Thế Tôn có điều gì chỉ trích con hay không, về thân hay về lời nói?
Vi-n 6 —Này Sāriputta, Ta không có gì chỉ trích Ông về thân, hay về lời nói. Này Sāriputta, Ông là bậc Ðại trí. Này Sāriputta, Ông là bậc Quảng trí. Này Sāriputta, Ông là bậc Tốc trí. Này Sāriputta, Ông là bậc Tiệp trí. Này Sāriputta, Ông là bậc Nhuệ trí. Này Sāriputta, Ông là bậc Thể nhập trí. Này Sāriputta, ví như trưởng tử, con vua Chuyển luân vương, chơn chánh vận chuyển bánh xe đã được vua cha vận chuyển. Cũng vậy, này Sāriputta, Ông chơn chánh chuyển vận pháp luân vô thượng đã được Ta chuyển vận.
Vi-n 7 —Bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn không có gì chỉ trích con về thân hay về lời nói, vậy bạch Thế Tôn, đối với khoảng năm trăm Tỷ-kheo này, Thế Tôn có gì chỉ trích hay không, về thân hay về lời nói?
Vi-n 8 —Này Sāriputta, đối với khoảng năm trăm Tỷ-kheo này, Ta không có gì chỉ trích về thân hay về lời nói. Này Sāriputta, trong khoảng năm trăm Tỷ-kheo này, sáu mươi Tỷ-kheo là bậc Tam minh, sáu mươi Tỷ—kheo là bậc chứng được sáu Thắng trí, sáu mươi Tỷ-kheo là bậc Câu giải thoát, và các vị còn lại là bậc Tuệ giải thoát.
Vi-n 9 Rồi Tôn giả Vangìsa từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay vái chào Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
Vi-n 10 —Bạch Thế Tôn, một vấn đề đến với con. Bạch Thiện Thệ, một vấn đề đến với con.
Vi-n 11 Thế Tôn nói:
—Này Vangìsa, hãy nói lên vấn đề ấy!
Vi-n 12 Rồi Tôn giả Vangìsa trước mặt Thế Tôn nói lên những bài kệ tán thán thích ứng:
Nay ngày rằm thanh tịnh,
Năm trăm Tỷ-kheo họp,
Bậc Thánh cắt kiết phược,
Vô phiền, đoạn tái sanh.
Như vua Chuyển luân vương,
Ðại thần hầu xung quanh,
Du hành khắp bốn phương,
Ðất này đến hải biên.
Như vậy, các đệ tử,
Ðã chứng được Tam minh,
Sát hại được tử thần,
Những vị này hầu hạ,
Bậc thắng trận chiến trường,
Chủ lữ hành vô thượng.
Tất cả con Thế Tôn,
Không ai là vô dụng,
Xin chí thành đảnh lễ,
Bậc nhổ tên khát ái,
Xin tâm thành cung kính,
Bậc dòng họ mặt trời.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati pubbārāme migāramātupāsāde mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi sabbeheva arahantehi.
Tena kho pana samayena bhagavā tadahuposathe pannarase pavāraṇāya bhikkhusaṅghaparivuto abbhokāse nisinno hoti.
Atha kho bhagavā tuṇhībhūtaṁ bhikkhusaṅghaṁ anuviloketvā bhikkhū āmantesi:
“handa dāni, bhikkhave, pavāremi vo.
Na ca me kiñci garahatha kāyikaṁ vā vācasikaṁ vā”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā sāriputto uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca:
“na kho mayaṁ, bhante, bhagavato kiñci garahāma kāyikaṁ vā vācasikaṁ vā.
Bhagavā hi, bhante, anuppannassa maggassa uppādetā, asañjātassa maggassa sañjanetā, anakkhātassa maggassa akkhātā, maggaññū maggavidū maggakovido.
Maggānugā ca, bhante, etarahi sāvakā viharanti pacchā samannāgatā;
ahañca kho, bhante, bhagavantaṁ pavāremi.
Na ca me bhagavā kiñci garahati kāyikaṁ vā vācasikaṁ vā”ti.
“Na khvāhaṁ te, sāriputta, kiñci garahāmi kāyikaṁ vā vācasikaṁ vā.
Paṇḍito tvaṁ, sāriputta, mahāpañño tvaṁ, sāriputta, puthupañño tvaṁ, sāriputta, hāsapañño tvaṁ, sāriputta, javanapañño tvaṁ, sāriputta, tikkhapañño tvaṁ, sāriputta, nibbedhikapañño tvaṁ, sāriputta.
Seyyathāpi, sāriputta, rañño cakkavattissa jeṭṭhaputto pitarā pavattitaṁ cakkaṁ sammadeva anuppavatteti;
evameva kho tvaṁ, sāriputta, mayā anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavattitaṁ sammadeva anuppavattesī”ti.
“No ce kira me, bhante, bhagavā kiñci garahati kāyikaṁ vā vācasikaṁ vā.
Imesaṁ pana, bhante, bhagavā pañcannaṁ bhikkhusatānaṁ na kiñci garahati kāyikaṁ vā vācasikaṁ vā”ti.
“Imesampi khvāhaṁ, sāriputta, pañcannaṁ bhikkhusatānaṁ na kiñci garahāmi kāyikaṁ vā vācasikaṁ vā.
Imesañhi, sāriputta, pañcannaṁ bhikkhusatānaṁ saṭṭhi bhikkhū tevijjā, saṭṭhi bhikkhū chaḷabhiññā, saṭṭhi bhikkhū ubhatobhāgavimuttā, atha itare paññāvimuttā”ti.
Atha kho āyasmā vaṅgīso uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca:
“paṭibhāti maṁ, bhagavā, paṭibhāti maṁ, sugatā”ti.
“Paṭibhātu taṁ, vaṅgīsā”ti bhagavā avoca.
Atha kho āyasmā vaṅgīso bhagavantaṁ sammukhā sāruppāhi gāthāhi abhitthavi:
“Ajja pannarase visuddhiyā,
Bhikkhū pañcasatā samāgatā;
Saṁyojanabandhanacchidā,
Anīghā khīṇapunabbhavā isī.
Cakkavattī yathā rājā,
amaccaparivārito;
Samantā anupariyeti,
sāgarantaṁ mahiṁ imaṁ.
Evaṁ vijitasaṅgāmaṁ,
satthavāhaṁ anuttaraṁ;
Sāvakā payirupāsanti,
tevijjā maccuhāyino.
Sabbe bhagavato puttā,
palāpettha na vijjati;
Taṇhāsallassa hantāraṁ,
vande ādiccabandhunan”ti.