Vi-n 1 Tại Sāvatthi, Jetavana.
Vi-n 2 Ở đây … Thế Tôn nói:
Vi-n 3 —Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka nói với người đánh xe như sau:
“ —Này Mātali thân, hãy thắng ngàn con ngựa khéo huấn luyện vào cỗ xe. Chúng ta hãy đi đến vườn cảnh để ngắm cảnh”.
Vi-n 4 “ —Thưa vâng, Tôn giả”.
Này các Tỷ-kheo, người đánh xe Mātali vâng đáp Thiên chủ Sakka; sau khi thắng một ngàn con ngựa khéo huấn luyện vào cỗ xe, liền báo với Thiên chủ Sakka:
“ —Thưa Ngài, ngàn con ngựa khéo huấn luyện đã thắng vào cỗ xe. Nay Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là hợp thời!”
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka từ cung điện Vejayanta đi xuống, chắp tay và đảnh lễ các phương hướng.
Vi-n 6 Rồi này các Tỷ-kheo, người đánh xe Mātali nói lên những bài kệ với Thiên chủ Sakka:
Bậc Tam minh lễ Ngài,
Tất cả Sát-đế-lỵ
Ở trên cõi đất này,
Cũng đều đảnh lễ Ngài,
Kể cả bốn Thiên vương,
Bậc danh xưng Tam thập.
Dạ-xoa ấy tên gì,
Vị mà Ngài đảnh lễ,
Này Sakka?
Vi-n 7 (Sakka):
Bậc Tam minh lễ ta.
Tất cả Sát-đế-lỵ
Ở trên cõi đất này,
Cũng đều đảnh lễ ta,
Kể cả bốn Thiên vương,
Bậc danh xưng Tam thập.
(8)
Nhưng ta chỉ đảnh lễ,
Bậc thành tựu giới, luật,
Lâu ngày tu Thiền định,
Chơn chánh hành xuất gia,
Thành đạt và chứng được
Cứu cánh chơn Phạm hạnh.
Ngoài ra các gia chủ,
Làm công đức, giữ giới,
Nuôi dưỡng vợ đúng pháp,
Các cư sĩ như vậy,
Ta cũng sẽ đảnh lễ,
Hỡi này Mātali.
Vi-n 9 (Mātali):
Phải, tôi cũng được nghe,
Ở đời bậc tối thượng,
Sakka, Ngài đảnh lễ
Những vị Ngài đảnh lễ,
Tôi cũng đều đảnh lễ,
Ôi này Vāsava!
Vi-n 10 (Thế Tôn):
Maghavà nói vậy,
Vua Sujampati,
Ðảnh lễ các phương xong,
Lên xe dẫn đi đầu.
Sāvatthiyaṁ.
Tatra …pe… etadavoca:
“bhūtapubbaṁ, bhikkhave, sakko devānamindo mātaliṁ saṅgāhakaṁ āmantesi:
‘yojehi, samma mātali, sahassayuttaṁ ājaññarathaṁ. Uyyānabhūmiṁ gacchāma subhūmiṁ dassanāyā’ti.
‘Evaṁ, bhaddantavā’ti kho, bhikkhave, mātali saṅgāhako sakkassa devānamindassa paṭissutvā sahassayuttaṁ ājaññarathaṁ yojetvā sakkassa devānamindassa paṭivedesi:
‘yutto kho te, mārisa, sahassayutto ājaññaratho.
Yassadāni kālaṁ maññasī’ti.
Atha kho, bhikkhave, sakko devānamindo vejayantapāsādā orohanto añjaliṁ katvā sudaṁ puthuddisā namassati.
Atha kho, bhikkhave, mātali saṅgāhako sakkaṁ devānamindaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
‘Taṁ namassanti tevijjā,
sabbe bhummā ca khattiyā;
Cattāro ca mahārājā,
tidasā ca yasassino;
Atha ko nāma so yakkho,
yaṁ tvaṁ sakka namassasī’ti.
‘Maṁ namassanti tevijjā,
sabbe bhummā ca khattiyā;
Cattāro ca mahārājā,
tidasā ca yasassino.
Ahañca sīlasampanne,
cirarattasamāhite;
Sammāpabbajite vande,
brahmacariyaparāyane.
Ye gahaṭṭhā puññakarā,
sīlavanto upāsakā;
Dhammena dāraṁ posenti,
te namassāmi mātalī’ti.
‘Seṭṭhā hi kira lokasmiṁ,
ye tvaṁ sakka namassasi;
Ahampi te namassāmi,
ye namassasi vāsavā’ti.
Idaṁ vatvāna maghavā,
devarājā sujampati;
Puthuddisā namassitvā,
pamukho rathamāruhī”ti.
SC 1At Savatthī. There the Blessed One said this: “Bhikkhus, once in the past Sakka, lord of the devas, addressed his charioteer Matali thus: ‘Harness the chariot with its team of a thousand thoroughbreds, friend Matali. Let us go to the park grounds to see the beautiful scenery.’—‘Yes, your lordship,’ Matali the charioteer replied. Then he harnessed the chariot with its team of a thousand thoroughbreds and announced to Sakka, lord of the devas: ‘The chariot has been harnessed, dear sir. You may come at your own convenience.’
SC 2“Then, bhikkhus, Sakka, lord of the devas, descending from the Vejayanta Palace, raised his joined hands in reverential salutation, and worshipped the different quarters. Then Matali the charioteer addressed Sakka in verse:
SC 3 “‘These all humbly worship you—
Those versed in the Triple Veda,
All the khattiyas reigning on earth,
The Four Great Kings and the glorious Thirty—
So who, O Sakka, is that spirit
To whom you bow in worship?’
Sakka:
SC 4 “‘These all humbly worship me—
Those versed in the Triple Veda,
All the khattiyas reigning on earth,
The Four Great Kings and the glorious Thirty—
SC 5 But I worship those endowed with virtue,
Those long trained in concentration,
Those who have properly gone forth
With the holy life their destination.
SC 6 “‘I worship as well, O Matali,
Those householders making merit,
The lay followers possessed of virtue
Who righteously maintain a wife.’
Matali:
SC 7 “‘Those whom you worship, my lord Sakka,
Are indeed the best in the world.
I too will worship them—
Those whom you worship, Vasava.’
The Blessed One:
SC 8 “Having given this explanation,
Having worshipped the different quarters,
The deva-king Maghava, Suja’s husband,
The chief, climbed into his chariot.” sn.i.235
Vi-n 1 Tại Sāvatthi, Jetavana.
Vi-n 2 Ở đây … Thế Tôn nói:
Vi-n 3 —Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka nói với người đánh xe như sau:
“ —Này Mātali thân, hãy thắng ngàn con ngựa khéo huấn luyện vào cỗ xe. Chúng ta hãy đi đến vườn cảnh để ngắm cảnh”.
Vi-n 4 “ —Thưa vâng, Tôn giả”.
Này các Tỷ-kheo, người đánh xe Mātali vâng đáp Thiên chủ Sakka; sau khi thắng một ngàn con ngựa khéo huấn luyện vào cỗ xe, liền báo với Thiên chủ Sakka:
“ —Thưa Ngài, ngàn con ngựa khéo huấn luyện đã thắng vào cỗ xe. Nay Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là hợp thời!”
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka từ cung điện Vejayanta đi xuống, chắp tay và đảnh lễ các phương hướng.
Vi-n 6 Rồi này các Tỷ-kheo, người đánh xe Mātali nói lên những bài kệ với Thiên chủ Sakka:
Bậc Tam minh lễ Ngài,
Tất cả Sát-đế-lỵ
Ở trên cõi đất này,
Cũng đều đảnh lễ Ngài,
Kể cả bốn Thiên vương,
Bậc danh xưng Tam thập.
Dạ-xoa ấy tên gì,
Vị mà Ngài đảnh lễ,
Này Sakka?
Vi-n 7 (Sakka):
Bậc Tam minh lễ ta.
Tất cả Sát-đế-lỵ
Ở trên cõi đất này,
Cũng đều đảnh lễ ta,
Kể cả bốn Thiên vương,
Bậc danh xưng Tam thập.
(8)
Nhưng ta chỉ đảnh lễ,
Bậc thành tựu giới, luật,
Lâu ngày tu Thiền định,
Chơn chánh hành xuất gia,
Thành đạt và chứng được
Cứu cánh chơn Phạm hạnh.
Ngoài ra các gia chủ,
Làm công đức, giữ giới,
Nuôi dưỡng vợ đúng pháp,
Các cư sĩ như vậy,
Ta cũng sẽ đảnh lễ,
Hỡi này Mātali.
Vi-n 9 (Mātali):
Phải, tôi cũng được nghe,
Ở đời bậc tối thượng,
Sakka, Ngài đảnh lễ
Những vị Ngài đảnh lễ,
Tôi cũng đều đảnh lễ,
Ôi này Vāsava!
Vi-n 10 (Thế Tôn):
Maghavà nói vậy,
Vua Sujampati,
Ðảnh lễ các phương xong,
Lên xe dẫn đi đầu.
Sāvatthiyaṁ.
Tatra …pe… etadavoca:
“bhūtapubbaṁ, bhikkhave, sakko devānamindo mātaliṁ saṅgāhakaṁ āmantesi:
‘yojehi, samma mātali, sahassayuttaṁ ājaññarathaṁ. Uyyānabhūmiṁ gacchāma subhūmiṁ dassanāyā’ti.
‘Evaṁ, bhaddantavā’ti kho, bhikkhave, mātali saṅgāhako sakkassa devānamindassa paṭissutvā sahassayuttaṁ ājaññarathaṁ yojetvā sakkassa devānamindassa paṭivedesi:
‘yutto kho te, mārisa, sahassayutto ājaññaratho.
Yassadāni kālaṁ maññasī’ti.
Atha kho, bhikkhave, sakko devānamindo vejayantapāsādā orohanto añjaliṁ katvā sudaṁ puthuddisā namassati.
Atha kho, bhikkhave, mātali saṅgāhako sakkaṁ devānamindaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
‘Taṁ namassanti tevijjā,
sabbe bhummā ca khattiyā;
Cattāro ca mahārājā,
tidasā ca yasassino;
Atha ko nāma so yakkho,
yaṁ tvaṁ sakka namassasī’ti.
‘Maṁ namassanti tevijjā,
sabbe bhummā ca khattiyā;
Cattāro ca mahārājā,
tidasā ca yasassino.
Ahañca sīlasampanne,
cirarattasamāhite;
Sammāpabbajite vande,
brahmacariyaparāyane.
Ye gahaṭṭhā puññakarā,
sīlavanto upāsakā;
Dhammena dāraṁ posenti,
te namassāmi mātalī’ti.
‘Seṭṭhā hi kira lokasmiṁ,
ye tvaṁ sakka namassasi;
Ahampi te namassāmi,
ye namassasi vāsavā’ti.
Idaṁ vatvāna maghavā,
devarājā sujampati;
Puthuddisā namassitvā,
pamukho rathamāruhī”ti.