Vi-n 1-2. Sāvatthi … nói như sau:
Vi-n 3 —Ðịnh niệm hơi thở vô, hơi thở ra, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn thời có quả lớn, có lợi ích lớn. Và này các Tỷ-kheo, tu tập định niệm hơi thở vô, hơi thở ra như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào thời có quả lớn, có lợi ích lớn?
Vi-n 4-10. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến căn nhà trống … “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.
Vi-n 11 Ðịnh niệm hơi thở vô, hơi thở ra, này các Tỷ-kheo, tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy thời có quả lớn, có lợi ích lớn.
Vi-n 12 Này các Tỷ-kheo, Ta trước khi giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, khi còn là Bồ-tát, Ta trú nhiều với trú này. Này các Tỷ-kheo, do Ta trú nhiều với trú này, thân Ta và con mắt không có mệt nhọc; và tâm Ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Vi-n 13 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Mong rằng thân và mắt khỏi bị mệt mỏi, và mong rằng tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”, thời định niệm hơi thở vô và hơi thở ra này cần phải khéo tác ý.
Vi-n 14 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Mong rằng các niệm, các tư duy của ta được đoạn tận”, thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này phải được khéo tác ý.
Vi-n 15 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Mong rằng ta sẽ trú với tưởng nhàm chán đối với các pháp không nhàm chán”, thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này cần phải được khéo tác ý.
Vi-n 16 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Mong rằng ta sẽ trú với tưởng không nhàm chán đối với các pháp nhàm chán”, thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này cần phải được khéo tác ý.
Vi-n 17 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Tôi sẽ trú với tưởng nhàm chán đối với các pháp không nhàm chán và nhàm chán”, thời định niệm …
Vi-n 18 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Tôi sẽ trú với tưởng không nhàm chán đối với các pháp nhàm chán và không nhàm chán”, thời định niệm …
Vi-n 19 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Mong rằng sau khi từ bỏ cả hai không nhàm chán và nhàm chán, tôi sẽ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác”, thời định niệm …
Vi-n 20 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Mong rằng ly dục, ly pháp bất thiện, tôi sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ”, thời định niệm …
Vi-n 21 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Mong rằng làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, tôi sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhất tâm”, thời định niệm …
Vi-n 22 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Mong rằng ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, tôi sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ ba”, thời định niệm …
Vi-n 23 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Mong rằng đoạn lạc, đoạn khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ trước, tôi chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh”, thời định niệm …
Vi-n 24 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Vượt qua sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt đối ngại tưởng, không tác ý các tưởng sai biệt, nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng đạt và an trú Không vô biên xứ”, thời định niệm …
Vi-n 25 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Vượt qua Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, tôi có thể chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ”, thời định niệm …
Vi-n 26 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: ‘Không có vật gì', tôi sẽ chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ”, thời định niệm …
Vi-n 27 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, tôi sẽ chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ”, thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này cần phải được khéo tác ý.
Vi-n 28 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, tôi sẽ chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định”, thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này cần phải được khéo tác ý.
Vi-n 29 Trong khi tu tập định niệm hơi thở vô, hơi thở ra như vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi làm cho sung mãn như vậy, vị ấy cảm giác lạc thọ. Vị ấy rõ biết: “Thọ ấy là vô thường”. Vị ấy rõ biết: “Không có chấp trước thọ ấy”. Vị ấy rõ biết: “Không có hoan duyệt thọ ấy”. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, vị ấy rõ biết: “Thọ ấy là vô thường”. Vị ấy rõ biết: “Không có chấp trước thọ ấy”. Vị ấy rõ biết: “Không có hoan duyệt thọ ấy”. Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy rõ biết: “Thọ ấy là vô thường”. Vị ấy rõ biết: “Không có chấp trước thọ ấy”. Vị ấy rõ biết: “Không có hoan duyệt thọ ấy”.
Vi-n 30 Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, thọ ấy được cảm thọ không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, thọ ấy được cảm thọ không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ, thọ ấy được cảm thọ không bị trói buộc. Khi vị ấy đang cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của thân, vị ấy rõ biết: “Tôi cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của thân”. Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của sinh mạng, vị ấy rõ biết: “Tôi cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của sinh mạng”. Khi thân hoại mạng chung, vị ấy rõ biết: “Ở đây, tất cả mọi cảm thọ đều không có gì được hân hoan, và sẽ trở thành mát lạnh”.
Vi-n 31 Ví như, này các Tỷ-kheo, do duyên dầu, duyên tim, một cây đèn dầu được cháy sáng. Nếu dầu và tim của ngọn đèn ấy đi đến tiêu diệt, nhiên liệu không được mang đến, thời ngọn đèn sẽ tắt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi Tỷ-kheo cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của thân, vị ấy rõ biết: “Tôi cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của thân”. Khi Tỷ-kheo cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của sinh mạng, vị ấy rõ biết: “Tôi cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của sinh mạng”. Khi thân hoại mạng chung, vị ấy rõ biết: “Ở đây, tất cả những gì được cảm thọ đều không có gì được hân hoan, và sẽ trở thành mát lạnh”.
“Ānāpānassatisamādhi, bhikkhave, bhāvito bahulīkato mahapphalo hoti mahānisaṁso.
Kathaṁ bhāvito ca, bhikkhave, ānāpānassatisamādhi kathaṁ bahulīkato mahapphalo hoti mahānisaṁso?
Idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā.
So satova assasati, satova passasati.
Dīghaṁ vā assasanto ‘dīghaṁ assasāmī’ti pajānāti …pe…
‘paṭinissaggānupassī assasissāmī’ti sikkhati, ‘paṭinissaggānupassī passasissāmī’ti sikkhati.
Evaṁ bhāvito kho, bhikkhave, ānāpānassatisamādhi evaṁ bahulīkato mahapphalo hoti mahānisaṁso.
Ahampi sudaṁ, bhikkhave, pubbeva sambodhā anabhisambuddho bodhisattova samāno iminā vihārena bahulaṁ viharāmi.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, iminā vihārena bahulaṁ viharato neva kāyo kilamati na cakkhūni;
anupādāya ca me āsavehi cittaṁ vimucci.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘neva me kāyo kilameyya na cakkhūni, anupādāya ca me āsavehi cittaṁ vimucceyyā’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘ye me gehasitā sarasaṅkappā te pahīyeyyun’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘appaṭikūle paṭikūlasaññī vihareyyan’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘paṭikūle appaṭikūlasaññī vihareyyan’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘paṭikūle ca appaṭikūle ca paṭikūlasaññī vihareyyan’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘paṭikūle ca appaṭikūle ca appaṭikūlasaññī vihareyyan’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘appaṭikūlañca paṭikūlañca tadubhayaṁ abhinivajjetvā upekkhako vihareyyaṁ sato sampajāno’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja vihareyyan’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja vihareyyan’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘pītiyā ca virāgā upekkhako ca vihareyyaṁ sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṁvedeyyaṁ, yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti—upekkhako satimā sukhavihārīti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja vihareyyan’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja vihareyyan’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ananto ākāsoti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja vihareyyan’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma anantaṁ viññāṇanti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja vihareyyan’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma natthi kiñcīti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja vihareyyan’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja vihareyyan’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja vihareyyan’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Evaṁ bhāvite kho, bhikkhave, ānāpānassatisamādhimhi evaṁ bahulīkate, sukhañce vedanaṁ vedayati, sā ‘aniccā’ti pajānāti, ‘anajjhositā’ti pajānāti, ‘anabhinanditā’ti pajānāti;
dukkhañce vedanaṁ vedayati, sā ‘aniccā’ti pajānāti, ‘anajjhositā’ti pajānāti, ‘anabhinanditā’ti pajānāti;
adukkhamasukhañce vedanaṁ vedayati, ‘sā aniccā’ti pajānāti, ‘anajjhositā’ti pajānāti, ‘anabhinanditā’ti pajānāti.
Sukhañce vedanaṁ vedayati, visaṁyutto naṁ vedayati;
dukkhañce vedanaṁ vedayati, visaṁyutto naṁ vedayati;
adukkhamasukhañce vedanaṁ vedayati, visaṁyutto naṁ vedayati.
So kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti, jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti,
‘kāyassa bhedā uddhaṁ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītībhavissantī’ti pajānāti.
Seyyathāpi, bhikkhave, telañca paṭicca, vaṭṭiñca paṭicca telappadīpo jhāyeyya,
tasseva telassa ca vaṭṭiyā ca pariyādānā anāhāro nibbāyeyya;
evameva kho, bhikkhave, bhikkhu kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti, jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti,
‘kāyassa bhedā uddhaṁ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītībhavissantī’ti pajānātī”ti.
Aṭṭhamaṁ.
“Mendicants, when immersion due to mindfulness of breathing is developed and cultivated it’s very fruitful and beneficial.
How so?
It’s when a mendicant—gone to a wilderness, or to the root of a tree, or to an empty hut—sits down cross-legged, sets their body straight, and establishes mindfulness in their presence.
Just mindful, they breathe in. Mindful, they breathe out.
Breathing in heavily they know: ‘I’m breathing in heavily.’ Breathing out heavily they know: ‘I’m breathing out heavily.’ …
They practice like this: ‘I’ll breathe in observing letting go.’ They practice like this: ‘I’ll breathe out observing letting go.’
That’s how immersion due to mindfulness of breathing, when developed and cultivated, is very fruitful and beneficial.
Before my awakening—when I was still unawakened but intent on awakening—I too usually practiced this kind of meditation.
And while I was usually practicing this kind of meditation neither my body nor my eyes became fatigued.
And my mind was freed from defilements by not grasping.
Now, a mendicant might wish:
‘May neither my body nor my eyes became fatigued. And may my mind be freed from the defilements by not grasping.’
So let them closely focus on this immersion due to mindfulness of breathing.
Now, a mendicant might wish:
‘May I give up memories and thoughts tied to domestic life.’
So let them closely focus on this immersion due to mindfulness of breathing.
Now, a mendicant might wish:
‘May I meditate perceiving the repulsive in the unrepulsive.’
So let them closely focus on this immersion due to mindfulness of breathing.
Now, a mendicant might wish:
‘May I meditate perceiving the unrepulsive in the repulsive.’
So let them closely focus on this immersion due to mindfulness of breathing.
Now, a mendicant might wish:
‘May I meditate perceiving the repulsive in the unrepulsive and the repulsive.’
So let them closely focus on this immersion due to mindfulness of breathing.
Now, a mendicant might wish:
‘May I meditate perceiving the unrepulsive in the repulsive and the unrepulsive.’
So let them closely focus on this immersion due to mindfulness of breathing.
Now, a mendicant might wish:
‘May I meditate staying equanimous, mindful and aware, shunning both the repulsive and the unrepulsive.’
So let them closely focus on this immersion due to mindfulness of breathing.
Now, a mendicant might wish:
‘Quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, may I enter and remain in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected.’
So let them closely focus on this immersion due to mindfulness of breathing.
Now, a mendicant might wish:
‘As the placing of the mind and keeping it connected are stilled, may I enter and remain in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected.’
So let them closely focus on this immersion due to mindfulness of breathing.
Now, a mendicant might wish:
‘With the fading away of rapture, may I enter and remain in the third absorption, where I will meditate with equanimity, mindful and aware, personally experiencing the bliss of which the noble ones declare, “Equanimous and mindful, one meditates in bliss.”’
So let them closely focus on this immersion due to mindfulness of breathing.
Now, a mendicant might wish:
‘With the giving up of pleasure and pain, and the ending of former happiness and sadness, may I enter and remain in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness.’
So let them closely focus on this immersion due to mindfulness of breathing.
Now, a mendicant might wish:
‘Going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that “space is infinite”, may I enter and remain in the dimension of infinite space.’
So let them closely focus on this immersion due to mindfulness of breathing.
Now, a mendicant might wish:
‘Going totally beyond the dimension of infinite space, aware that “consciousness is infinite”, may I enter and remain in the dimension of infinite consciousness.’
So let them closely focus on this immersion due to mindfulness of breathing.
Now, a mendicant might wish:
‘Going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that “there is nothing at all”, may I enter and remain in the dimension of nothingness.’
So let them closely focus on this immersion due to mindfulness of breathing.
Now, a mendicant might wish:
‘Going totally beyond the dimension of nothingness, may I enter and remain in the dimension of neither perception nor non-perception.’
So let them closely focus on this immersion due to mindfulness of breathing.
Now, a mendicant might wish:
‘Going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, may I enter and remain in the cessation of perception and feeling.’
So let them closely focus on this immersion due to mindfulness of breathing.
When immersion due to mindfulness of breathing has been developed and cultivated in this way, if they feel a pleasant feeling, they understand that it’s impermanent, that they’re not attached to it, and that they don’t take pleasure in it.
If they feel a painful feeling, they understand that it’s impermanent, that they’re not attached to it, and that they don’t take pleasure in it.
If they feel a neutral feeling, they understand that it’s impermanent, that they’re not attached to it, and that they don’t take pleasure in it.
If they feel a pleasant feeling, they feel it detached.
If they feel a painful feeling, they feel it detached.
If they feel a neutral feeling, they feel it detached.
Feeling the end of the body draw close, they understand: ‘I feel the end of the body draw close.’ Feeling the end of life draw close, they understand: ‘I feel the end of life draw close.’
They understand: ‘When my body breaks up and my life has come to an end, everything that’s felt, since I no longer take pleasure in it, will become cool right here.’
Suppose an oil lamp depended on oil and a wick to burn.
As the oil and the wick are used up, it would be extinguished due to not being fed.
In the same way, feeling the end of the body draw close, they understand: ‘I feel the end of the body draw close.’ Feeling the end of life draw close, they understand: ‘I feel the end of life draw close.’
They understand: ‘When my body breaks up and my life has come to an end, everything that’s felt, since I no longer take pleasure in it, will become cool right here.’”
Vi-n 1-2. Sāvatthi … nói như sau:
Vi-n 3 —Ðịnh niệm hơi thở vô, hơi thở ra, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn thời có quả lớn, có lợi ích lớn. Và này các Tỷ-kheo, tu tập định niệm hơi thở vô, hơi thở ra như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào thời có quả lớn, có lợi ích lớn?
Vi-n 4-10. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến căn nhà trống … “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.
Vi-n 11 Ðịnh niệm hơi thở vô, hơi thở ra, này các Tỷ-kheo, tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy thời có quả lớn, có lợi ích lớn.
Vi-n 12 Này các Tỷ-kheo, Ta trước khi giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, khi còn là Bồ-tát, Ta trú nhiều với trú này. Này các Tỷ-kheo, do Ta trú nhiều với trú này, thân Ta và con mắt không có mệt nhọc; và tâm Ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Vi-n 13 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Mong rằng thân và mắt khỏi bị mệt mỏi, và mong rằng tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”, thời định niệm hơi thở vô và hơi thở ra này cần phải khéo tác ý.
Vi-n 14 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Mong rằng các niệm, các tư duy của ta được đoạn tận”, thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này phải được khéo tác ý.
Vi-n 15 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Mong rằng ta sẽ trú với tưởng nhàm chán đối với các pháp không nhàm chán”, thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này cần phải được khéo tác ý.
Vi-n 16 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Mong rằng ta sẽ trú với tưởng không nhàm chán đối với các pháp nhàm chán”, thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này cần phải được khéo tác ý.
Vi-n 17 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Tôi sẽ trú với tưởng nhàm chán đối với các pháp không nhàm chán và nhàm chán”, thời định niệm …
Vi-n 18 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Tôi sẽ trú với tưởng không nhàm chán đối với các pháp nhàm chán và không nhàm chán”, thời định niệm …
Vi-n 19 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Mong rằng sau khi từ bỏ cả hai không nhàm chán và nhàm chán, tôi sẽ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác”, thời định niệm …
Vi-n 20 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Mong rằng ly dục, ly pháp bất thiện, tôi sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ”, thời định niệm …
Vi-n 21 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Mong rằng làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, tôi sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhất tâm”, thời định niệm …
Vi-n 22 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Mong rằng ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, tôi sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ ba”, thời định niệm …
Vi-n 23 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Mong rằng đoạn lạc, đoạn khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ trước, tôi chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh”, thời định niệm …
Vi-n 24 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Vượt qua sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt đối ngại tưởng, không tác ý các tưởng sai biệt, nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng đạt và an trú Không vô biên xứ”, thời định niệm …
Vi-n 25 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Vượt qua Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, tôi có thể chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ”, thời định niệm …
Vi-n 26 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: ‘Không có vật gì', tôi sẽ chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ”, thời định niệm …
Vi-n 27 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, tôi sẽ chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ”, thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này cần phải được khéo tác ý.
Vi-n 28 Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: “Vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, tôi sẽ chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định”, thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này cần phải được khéo tác ý.
Vi-n 29 Trong khi tu tập định niệm hơi thở vô, hơi thở ra như vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi làm cho sung mãn như vậy, vị ấy cảm giác lạc thọ. Vị ấy rõ biết: “Thọ ấy là vô thường”. Vị ấy rõ biết: “Không có chấp trước thọ ấy”. Vị ấy rõ biết: “Không có hoan duyệt thọ ấy”. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, vị ấy rõ biết: “Thọ ấy là vô thường”. Vị ấy rõ biết: “Không có chấp trước thọ ấy”. Vị ấy rõ biết: “Không có hoan duyệt thọ ấy”. Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy rõ biết: “Thọ ấy là vô thường”. Vị ấy rõ biết: “Không có chấp trước thọ ấy”. Vị ấy rõ biết: “Không có hoan duyệt thọ ấy”.
Vi-n 30 Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, thọ ấy được cảm thọ không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, thọ ấy được cảm thọ không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ, thọ ấy được cảm thọ không bị trói buộc. Khi vị ấy đang cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của thân, vị ấy rõ biết: “Tôi cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của thân”. Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của sinh mạng, vị ấy rõ biết: “Tôi cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của sinh mạng”. Khi thân hoại mạng chung, vị ấy rõ biết: “Ở đây, tất cả mọi cảm thọ đều không có gì được hân hoan, và sẽ trở thành mát lạnh”.
Vi-n 31 Ví như, này các Tỷ-kheo, do duyên dầu, duyên tim, một cây đèn dầu được cháy sáng. Nếu dầu và tim của ngọn đèn ấy đi đến tiêu diệt, nhiên liệu không được mang đến, thời ngọn đèn sẽ tắt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi Tỷ-kheo cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của thân, vị ấy rõ biết: “Tôi cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của thân”. Khi Tỷ-kheo cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của sinh mạng, vị ấy rõ biết: “Tôi cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của sinh mạng”. Khi thân hoại mạng chung, vị ấy rõ biết: “Ở đây, tất cả những gì được cảm thọ đều không có gì được hân hoan, và sẽ trở thành mát lạnh”.
“Ānāpānassatisamādhi, bhikkhave, bhāvito bahulīkato mahapphalo hoti mahānisaṁso.
Kathaṁ bhāvito ca, bhikkhave, ānāpānassatisamādhi kathaṁ bahulīkato mahapphalo hoti mahānisaṁso?
Idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā.
So satova assasati, satova passasati.
Dīghaṁ vā assasanto ‘dīghaṁ assasāmī’ti pajānāti …pe…
‘paṭinissaggānupassī assasissāmī’ti sikkhati, ‘paṭinissaggānupassī passasissāmī’ti sikkhati.
Evaṁ bhāvito kho, bhikkhave, ānāpānassatisamādhi evaṁ bahulīkato mahapphalo hoti mahānisaṁso.
Ahampi sudaṁ, bhikkhave, pubbeva sambodhā anabhisambuddho bodhisattova samāno iminā vihārena bahulaṁ viharāmi.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, iminā vihārena bahulaṁ viharato neva kāyo kilamati na cakkhūni;
anupādāya ca me āsavehi cittaṁ vimucci.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘neva me kāyo kilameyya na cakkhūni, anupādāya ca me āsavehi cittaṁ vimucceyyā’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘ye me gehasitā sarasaṅkappā te pahīyeyyun’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘appaṭikūle paṭikūlasaññī vihareyyan’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘paṭikūle appaṭikūlasaññī vihareyyan’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘paṭikūle ca appaṭikūle ca paṭikūlasaññī vihareyyan’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘paṭikūle ca appaṭikūle ca appaṭikūlasaññī vihareyyan’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘appaṭikūlañca paṭikūlañca tadubhayaṁ abhinivajjetvā upekkhako vihareyyaṁ sato sampajāno’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja vihareyyan’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja vihareyyan’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘pītiyā ca virāgā upekkhako ca vihareyyaṁ sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṁvedeyyaṁ, yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti—upekkhako satimā sukhavihārīti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja vihareyyan’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja vihareyyan’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ananto ākāsoti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja vihareyyan’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma anantaṁ viññāṇanti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja vihareyyan’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma natthi kiñcīti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja vihareyyan’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja vihareyyan’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
‘sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja vihareyyan’ti,
ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṁ manasi kātabbo.
Evaṁ bhāvite kho, bhikkhave, ānāpānassatisamādhimhi evaṁ bahulīkate, sukhañce vedanaṁ vedayati, sā ‘aniccā’ti pajānāti, ‘anajjhositā’ti pajānāti, ‘anabhinanditā’ti pajānāti;
dukkhañce vedanaṁ vedayati, sā ‘aniccā’ti pajānāti, ‘anajjhositā’ti pajānāti, ‘anabhinanditā’ti pajānāti;
adukkhamasukhañce vedanaṁ vedayati, ‘sā aniccā’ti pajānāti, ‘anajjhositā’ti pajānāti, ‘anabhinanditā’ti pajānāti.
Sukhañce vedanaṁ vedayati, visaṁyutto naṁ vedayati;
dukkhañce vedanaṁ vedayati, visaṁyutto naṁ vedayati;
adukkhamasukhañce vedanaṁ vedayati, visaṁyutto naṁ vedayati.
So kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti, jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti,
‘kāyassa bhedā uddhaṁ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītībhavissantī’ti pajānāti.
Seyyathāpi, bhikkhave, telañca paṭicca, vaṭṭiñca paṭicca telappadīpo jhāyeyya,
tasseva telassa ca vaṭṭiyā ca pariyādānā anāhāro nibbāyeyya;
evameva kho, bhikkhave, bhikkhu kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti, jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti,
‘kāyassa bhedā uddhaṁ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītībhavissantī’ti pajānātī”ti.
Aṭṭhamaṁ.