Vi-n 1 …
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Puñña đi đến Thế Tôn …
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Puñña bạch Thế Tôn:
—Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vắn tắt thuyết pháp cho con. Sau khi nghe pháp của Thế Tôn, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Vi-n 4 —Này Puñña, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ sắc ấy, tán dương, an trú luyến trước; do vị ấy hoan hỷ sắc ấy, tán dương, an trú luyến trước, hỷ (nandì) sanh. Này Puñña, Ta nói rằng: “Do hỷ tập khởi nên khổ tập khởi”. Này Puñña, có những tiếng do tai nhận thức … Có những hương do mũi nhận thức … Có những vị do lưỡi nhận thức. Có những xúc do thân nhận thức … Này Puñña, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ pháp ấy, tán dương, an trú luyến trước; do vị ấy hoan hỷ pháp ấy, tán dương, an trú luyến trước nên hỷ sanh. Này Puñña, Ta nói rằng: “Do hỷ tập khởi nên khổ tập khởi”.
Vi-n 5 Này Puñña, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ sắc ấy, không tán dương, không an trú luyến trước; do vị ấy không hoan hỷ sắc ấy, không tán dương, không an trú luyến trước nên hỷ đoạn diệt. Này Puñña, Ta nói rằng: “Do hỷ đoạn diệt nên khổ đoạn diệt” … Này Puñña, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ pháp ấy, không tán dương, không an trú luyến trước; do vị ấy không hoan hỷ pháp ấy, không tán dương, không an trú luyến trước nên hỷ đoạn diệt. Này Puñña, Ta nói rằng: “Do hỷ đoạn diệt nên khổ đoạn diệt”.
Vi-n 6 Này Puñña, sau khi được nghe giáo giới với lời giáo giới vắn tắt này của Ta, Ông sẽ trú tại quốc độ nào?
—Bạch Thế Tôn, có một quốc độ tên là Sunāparanta, tại đấy con sẽ ở.
Vi-n 7 —Thô bạo, này Puñña, là người xứ Sunāparanta. Ðộc ác, này Puñña, là người xứ Sunāparanta. Nếu người xứ Sunāparanta, này Puñña, chửi bới, nhiếc mắng Ông, thời này Puñña, ở đây, Ông nghĩ thế nào?
—Nếu người xứ Sunāparanta, bạch Thế Tôn, chửi bới, nhiếc mắng con, ở đây, con sẽ nghĩ: “Thật là hiền thiện, người xứ Sunāparanta này! Thật là khéo hiền thiện, người xứ Sunāparanta này! Vì những người này không lấy tay đánh đập ta”. Như vậy, ở đây, bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vậy. Như vậy, ở đây, bạch Thiện Thệ, con sẽ nghĩ như vậy.
Vi-n 8 —Nếu người xứ Sunāparanta, này Puñña, sẽ đánh đập Ông bằng tay, thời ở đây, này Puñña, Ông sẽ nghĩ thế nào?
—Nếu người xứ Sunāparanta, bạch Thế Tôn, đánh đập con bằng tay, thời ở đây, con sẽ suy nghĩ: “Thật là hiền thiện, những người xứ Sunāparanta này! Thật là khéo hiền thiện, những người xứ Sunāparanta này! Vì những người này không đánh đập ta bằng cục đất”. Ở đây, bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vậy. Ở đây, bạch Thiện Thệ, con sẽ nghĩ như vậy.
Vi-n 9 —Nhưng nếu người xứ Sunāparanta, này Puñña, đánh đập Ông bằng cục đất, thời ở đây, này Puñña, Ông nghĩ thế nào?
—Nếu những người xứ Sunāparanta, bạch Thế Tôn, đánh đập con bằng cục đất, thời ở đây, con sẽ suy nghĩ: “Thật là hiền thiện, những người xứ Sunāparanta này! Thật là khéo hiền thiện, những người xứ Sunāparanta này! Vì những người này không đánh đập ta bằng gậy”. Ở đây, bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vậy. Ở đây, bạch Thiện Thệ, con sẽ nghĩ như vậy.
Vi-n 10 —Nhưng nếu những người xứ Sunāparanta, này Puñña, sẽ đánh đập Ông với gậy, thời ở đây, này Puñña, Ông nghĩ thế nào?
—Nếu những người xứ Sunāparanta này, bạch Thế Tôn, sẽ đánh đập con với gậy, thời ở đây, con sẽ suy nghĩ: “Thật là hiền thiện, những người xứ Sunāparanta này! Thật là khéo hiền thiện, những người xứ Sunāparanta này! Vì những người này không đánh đập ta bằng kiếm”. Ở đây, bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vậy. Ở đây, bạch Thiện Thệ, con sẽ nghĩ như vậy.
Vi-n 11 —Nhưng nếu những người xứ Sunāparanta, này Puñña, lại đánh đập Ông bằng kiếm, thời ở đây, này Puñña, Ông sẽ nghĩ thế nào?
—Nếu những người xứ Sunāparanta, bạch Thế Tôn, đánh đập con với cây kiếm, thời ở đây, con sẽ suy nghĩ: “Thật là hiền thiện, những người xứ Sunāparanta này! Thật là khéo hiền thiện, những người xứ Sunāparanta này! Vì những người này không đoạn mạng ta với cây kiếm sắc bén”. Ở đây, bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vậy. Ở đây, bạch Thiện Thệ, con sẽ nghĩ như vậy.
Vi-n 12 —Nhưng nếu những người xứ Sunāparanta, này Puñña, sẽ đoạn mạng Ông với lưỡi kiếm sắc bén, thời ở đây, này Puñña, Ông sẽ nghĩ như thế nào?
—Nếu những người xứ Sunāparanta, bạch Thế Tôn, sẽ đoạn mạng con với lưỡi kiếm sắc bén, thời ở đây, con sẽ suy nghĩ: “Có những đệ tử của Thế Tôn, khi phiền não, tủi hổ và ghê tởm bởi thân và sinh mạng đã sử dụng đến con dao. Nay dầu không tìm đến ta vẫn được sử dụng con dao”. Ở đây, bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vậy. Ở đây, bạch Thiện Thệ, con sẽ nghĩ như vậy.
Vi-n 13 —Lành thay, lành thay, này Puñña! Ðầy đủ với sự an tịnh tự điều này, Ông có thể sống tại quốc độ Sunāparanta. Này Puñña, nay Ông hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.
Vi-n 14 Rồi Tôn giả Puñña hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, dọn dẹp sàng tọa, cầm y bát, rồi bộ hành đi đến xứ Sunāparanta. Ngài tuần tự bộ hành và đến xứ Sunāparanta. Tại đây, Tôn giả Puñña trú tại xứ Sunāparanta.
Vi-n 15 Và trong mùa mưa ấy, Tôn giả Puñña độ cho khoảng 500 cư sĩ. Cũng trong mùa mưa ấy, Tôn giả chứng được ba minh. Và cũng trong mùa mưa ấy Tôn giả Puñña viên tịch.
Vi-n 16 Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn …
Vi-n 17 Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, thiện gia nam tử Puñña, sau khi được Thế Tôn giáo giới một cách vắn tắt, đã mệnh chung. Sanh thú của vị ấy là gì? Ðời sau của vị ấy thế nào?
—Bậc Hiền trí, này các Tỷ-kheo, là thiện nam tử Puñña. Sở hành là đúng pháp và thuận pháp. Vị ấy không làm phiền não Ta với những kiện tụng về pháp. Hoàn toàn tịch diệt, này các Tỷ-kheo, là thiện nam tử Puñña.
Atha kho āyasmā puṇṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā …pe… ekamantaṁ nisinno kho āyasmā puṇṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“sādhu me, bhante, bhagavā saṅkhittena dhammaṁ desetu, yamahaṁ bhagavato dhammaṁ sutvā eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto vihareyyan”ti.
“Santi kho, puṇṇa, cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā.
Tañce bhikkhu abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati.
Tassa taṁ abhinandato abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato uppajjati nandī.
‘Nandisamudayā dukkhasamudayo, puṇṇā’ti vadāmi …pe…
santi kho, puṇṇa, jivhāviññeyyā rasā …pe…
santi kho, puṇṇa, manoviññeyyā dhammā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā.
Tañce bhikkhu abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati.
Tassa taṁ abhinandato abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato uppajjati nandī.
‘Nandisamudayā dukkhasamudayo, puṇṇā’ti vadāmi.
Santi kho, puṇṇa, cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā.
Tañce bhikkhu nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati, tassa taṁ anabhinandato anabhivadato anajjhosāya tiṭṭhato nirujjhati nandī.
‘Nandinirodhā dukkhanirodho, puṇṇā’ti vadāmi …pe…
santi kho, puṇṇa, manoviññeyyā dhammā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā.
Tañce bhikkhu nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati, tassa taṁ anabhinandato anabhivadato anajjhosāya tiṭṭhato nirujjhati nandī.
‘Nandinirodhā dukkhanirodho, puṇṇā’ti vadāmi.
Iminā tvaṁ, puṇṇa, mayā saṅkhittena ovādena ovadito katamasmiṁ janapade viharissasī”ti?
“Atthi, bhante, sunāparanto nāma janapado, tatthāhaṁ viharissāmī”ti.
“Caṇḍā kho, puṇṇa, sunāparantakā manussā;
pharusā kho, puṇṇa, sunāparantakā manussā.
Sace taṁ, puṇṇa, sunāparantakā manussā akkosissanti paribhāsissanti, tatra te, puṇṇa, kinti bhavissatī”ti?
“Sace maṁ, bhante, sunāparantakā manussā akkosissanti paribhāsissanti, tatra me evaṁ bhavissati:
‘bhaddakā vatime sunāparantakā manussā, subhaddakā vatime sunāparantakā manussā, yaṁ me nayime pāṇinā pahāraṁ dentī’ti.
Evamettha, bhagavā, bhavissati;
evamettha, sugata, bhavissatī”ti.
“Sace pana te, puṇṇa, sunāparantakā manussā pāṇinā pahāraṁ dassanti, tatra pana te, puṇṇa, kinti bhavissatī”ti?
“Sace me, bhante, sunāparantakā manussā pāṇinā pahāraṁ dassanti, tatra me evaṁ bhavissati:
‘bhaddakā vatime sunāparantakā manussā, subhaddakā vatime sunāparantakā manussā, yaṁ me nayime leḍḍunā pahāraṁ dentī’ti.
Evamettha, bhagavā, bhavissati;
evamettha, sugata, bhavissatī”ti.
“Sace pana te, puṇṇa, sunāparantakā manussā leḍḍunā pahāraṁ dassanti, tatra pana te, puṇṇa, kinti bhavissatī”ti?
“Sace me, bhante, sunāparantakā manussā leḍḍunā pahāraṁ dassanti, tatra me evaṁ bhavissati:
‘bhaddakā vatime sunāparantakā manussā, subhaddakā vatime sunāparantakā manussā, yaṁ me nayime daṇḍena pahāraṁ dentī’ti.
Evamettha, bhagavā, bhavissati;
evamettha, sugata, bhavissatī”ti.
“Sace pana puṇṇa, sunāparantakā manussā daṇḍena pahāraṁ dassanti, tatra pana te, puṇṇa, kinti bhavissatī”ti?
“Sace me, bhante, sunāparantakā manussā daṇḍena pahāraṁ dassanti, tatra me evaṁ bhavissati:
‘bhaddakā vatime sunāparantakā manussā, subhaddakā vatime sunāparantakā manussā, yaṁ me nayime satthena pahāraṁ dentī’ti.
Evamettha, bhagavā, bhavissati;
evamettha, sugata, bhavissatī”ti.
“Sace pana te, puṇṇa, sunāparantakā manussā satthena pahāraṁ dassanti, tatra pana te, puṇṇa, kinti bhavissatī”ti?
“Sace me, bhante, sunāparantakā manussā satthena pahāraṁ dassanti, tatra me evaṁ bhavissati:
‘bhaddakā vatime sunāparantakā manussā, subhaddakā vatime sunāparantakā manussā, yaṁ maṁ nayime tiṇhena satthena jīvitā voropentī’ti.
Evamettha, bhagavā, bhavissati;
evamettha, sugata, bhavissatī”ti.
“Sace pana taṁ, puṇṇa, sunāparantakā manussā tiṇhena satthena jīvitā voropessanti, tatra pana te, puṇṇa, kinti bhavissatī”ti?
“Sace maṁ, bhante, sunāparantakā manussā tiṇhena satthena jīvitā voropessanti, tatra me evaṁ bhavissati:
‘santi kho tassa bhagavato sāvakā kāyena ca jīvitena ca aṭṭīyamānā harāyamānā jigucchamānā satthahārakaṁ pariyesanti, taṁ me idaṁ apariyiṭṭhaññeva satthahārakaṁ laddhan’ti.
Evamettha, bhagavā, bhavissati;
evamettha, sugata, bhavissatī”ti.
“Sādhu sādhu, puṇṇa.
Sakkhissasi kho tvaṁ, puṇṇa, iminā damūpasamena samannāgato sunāparantasmiṁ janapade vatthuṁ.
Yassadāni tvaṁ, puṇṇa, kālaṁ maññasī”ti.
Atha kho āyasmā puṇṇo bhagavato vacanaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya yena sunāparanto janapado tena cārikaṁ pakkāmi.
Anupubbena cārikaṁ caramāno yena sunāparanto janapado tadavasari.
Tatra sudaṁ āyasmā puṇṇo sunāparantasmiṁ janapade viharati.
Atha kho āyasmā puṇṇo tenevantaravassena pañcamattāni upāsakasatāni paṭivedesi.
Tenevantaravassena pañcamattāni upāsikāsatāni paṭivedesi.
Tenevantaravassena tisso vijjā sacchākāsi.
Tenevantaravassena parinibbāyi.
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu …pe… ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“yo so, bhante, puṇṇo nāma kulaputto bhagavatā saṅkhittena ovādena ovadito, so kālaṅkato.
Tassa kā gati ko abhisamparāyo”ti?
“Paṇḍito, bhikkhave, puṇṇo kulaputto, paccapādi dhammassānudhammaṁ, na ca maṁ dhammādhikaraṇaṁ vihesesi.
Parinibbuto, bhikkhave, puṇṇo kulaputto”ti.
Pañcamaṁ.
SC 1Then the Venerable Puṇṇa approached the Blessed One … and said to him: “Venerable sir, it would be good if the Blessed One would teach me the Dhamma in brief, so that, having heard the Dhamma from the Blessed One, I might dwell alone, withdrawn, diligent, ardent, and resolute.”
SC 2“Puṇṇa, there are forms cognizable by the eye that are desirable, lovely, agreeable, pleasing, sensually enticing, tantalizing. If a bhikkhu seeks delight in them, welcomes them, and remains holding to them, delight arises in him. With the arising of delight, Puṇṇa, there is the arising of suffering, I say. There are, Puṇṇa, sounds cognizable by the ear … mental phenomena cognizable by the mind that are desirable, lovely, agreeable, pleasing, sensually enticing, tantalizing. If a bhikkhu seeks delight in them, welcomes them, and remains holding to them, delight arises in him. With the arising of delight, Puṇṇa, there is the arising of suffering, I say.
SC 3“Puṇṇa, there are forms cognizable by the eye … mental phenomena cognizable by the mind that are desirable, lovely, agreeable, pleasing, sensually enticing, tantalizing. sn.iv.61 If a bhikkhu does not seek delight in them, does not welcome them, and does not remain holding to them, delight ceases in him. With the cessation of delight, Puṇṇa, there is the cessation of suffering, I say.
SC 4“Now that you have received this brief exhortation from me, Puṇṇa, in which country will you dwell?”
SC 5“There is, venerable sir, a country named Sunaparanta. I will dwell there.”
SC 6“Puṇṇa, the people of Sunaparanta are wild and rough. If they abuse and revile you, what will you think about that?”
SC 7“Venerable sir, if the people of Sunaparanta abuse and revile me, then I will think: ‘These people of Sunaparanta are excellent, truly excellent, in that they do not give me a blow with the fist.’ Then I will think thus, Blessed One; then I will think thus, Fortunate One.”
SC 8“But, Puṇṇa, if the people of Sunaparanta do give you a blow with the fist, what will you think about that?”
SC 9“Venerable sir, if the people of Sunaparanta give me a blow with the fist, then I will think: ‘These people of Sunaparanta are excellent, truly excellent, in that they do not give me a blow with a clod.’ Then I will think thus, Blessed One; then I will think thus, Fortunate One.”
SC 10“But, Puṇṇa, if the people of Sunaparanta do give you a blow with a clod, what will you think about that?”
SC 11“Venerable sir, if the people of Sunaparanta give me a blow with a clod, then I will think: ‘These people of Sunaparanta are excellent, truly excellent, in that they do not give me a blow with a rod.’ sn.iv.62 Then I will think thus, Blessed One; then I will think thus, Fortunate One.”
SC 12“But, Puṇṇa, if the people of Sunaparanta do give you a blow with a rod, what will you think about that?”
SC 13“Venerable sir, if the people of Sunaparanta give me a blow with a rod, then I will think: ‘These people of Sunaparanta are excellent, truly excellent, in that they do not stab me with a knife.’ Then I will think thus, Blessed One; then I will think thus, Fortunate One.”
SC 14“But, Puṇṇa, if the people of Sunaparanta do stab you with a knife, what will you think about that?”
SC 15“Venerable sir, if the people of Sunaparanta stab me with a knife, then I will think: ‘These people of Sunaparanta are excellent, truly excellent, in that they do not take my life with a sharp knife.’ Then I will think thus, Blessed One; then I will think thus, Fortunate One.”
SC 16“But, Puṇṇa, if the people of Sunaparanta do take your life with a sharp knife, what will you think about that?”
SC 17“Venerable sir, if the people of Sunaparanta take my life with a sharp knife, then I will think: ‘There have been disciples of the Blessed One who, being repelled, humiliated, and disgusted by the body and by life, sought for an assailant. But I have come upon this assailant even without a search.’ Then I will think thus, Blessed One; then I will think thus, Fortunate One.”
SC 18“Good, good, Puṇṇa! Endowed with such self-control and peacefulness, you will be able to dwell in the Sunaparanta country. Now, Puṇṇa, you may go at your own convenience.”
SC 19Then, having delighted and rejoiced in the Blessed One’s statement, the Venerable Puṇṇa rose from his seat, paid homage to the Blessed One, sn.iv.63 and departed, keeping him on his right. He then set his lodging in order, took his bowl and outer robe, and set out to wander towards the Sunaparanta country. Wandering by stages, he eventually arrived in the Sunaparanta country, where he dwelt. Then, during that rains, the Venerable Puṇṇa established five hundred male lay followers and five hundred female lay followers in the practice, and he himself, during that same rains, realized the three true knowledges. And during that same rains he attained final Nibbāna.
SC 20Then a number of bhikkhus approached the Blessed One … and said to him: “Venerable sir, the clansman named Puṇṇa, who was given a brief exhortation by the Blessed One, has died. What is his destination? What is his future bourn?”
SC 21“Bhikkhus, the clansman Puṇṇa was wise. He practised in accordance with the Dhamma and did not trouble me on account of the Dhamma. The clansman Puṇṇa has attained final Nibbāna.”
Vi-n 1 …
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Puñña đi đến Thế Tôn …
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Puñña bạch Thế Tôn:
—Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vắn tắt thuyết pháp cho con. Sau khi nghe pháp của Thế Tôn, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Vi-n 4 —Này Puñña, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ sắc ấy, tán dương, an trú luyến trước; do vị ấy hoan hỷ sắc ấy, tán dương, an trú luyến trước, hỷ (nandì) sanh. Này Puñña, Ta nói rằng: “Do hỷ tập khởi nên khổ tập khởi”. Này Puñña, có những tiếng do tai nhận thức … Có những hương do mũi nhận thức … Có những vị do lưỡi nhận thức. Có những xúc do thân nhận thức … Này Puñña, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ pháp ấy, tán dương, an trú luyến trước; do vị ấy hoan hỷ pháp ấy, tán dương, an trú luyến trước nên hỷ sanh. Này Puñña, Ta nói rằng: “Do hỷ tập khởi nên khổ tập khởi”.
Vi-n 5 Này Puñña, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ sắc ấy, không tán dương, không an trú luyến trước; do vị ấy không hoan hỷ sắc ấy, không tán dương, không an trú luyến trước nên hỷ đoạn diệt. Này Puñña, Ta nói rằng: “Do hỷ đoạn diệt nên khổ đoạn diệt” … Này Puñña, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ pháp ấy, không tán dương, không an trú luyến trước; do vị ấy không hoan hỷ pháp ấy, không tán dương, không an trú luyến trước nên hỷ đoạn diệt. Này Puñña, Ta nói rằng: “Do hỷ đoạn diệt nên khổ đoạn diệt”.
Vi-n 6 Này Puñña, sau khi được nghe giáo giới với lời giáo giới vắn tắt này của Ta, Ông sẽ trú tại quốc độ nào?
—Bạch Thế Tôn, có một quốc độ tên là Sunāparanta, tại đấy con sẽ ở.
Vi-n 7 —Thô bạo, này Puñña, là người xứ Sunāparanta. Ðộc ác, này Puñña, là người xứ Sunāparanta. Nếu người xứ Sunāparanta, này Puñña, chửi bới, nhiếc mắng Ông, thời này Puñña, ở đây, Ông nghĩ thế nào?
—Nếu người xứ Sunāparanta, bạch Thế Tôn, chửi bới, nhiếc mắng con, ở đây, con sẽ nghĩ: “Thật là hiền thiện, người xứ Sunāparanta này! Thật là khéo hiền thiện, người xứ Sunāparanta này! Vì những người này không lấy tay đánh đập ta”. Như vậy, ở đây, bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vậy. Như vậy, ở đây, bạch Thiện Thệ, con sẽ nghĩ như vậy.
Vi-n 8 —Nếu người xứ Sunāparanta, này Puñña, sẽ đánh đập Ông bằng tay, thời ở đây, này Puñña, Ông sẽ nghĩ thế nào?
—Nếu người xứ Sunāparanta, bạch Thế Tôn, đánh đập con bằng tay, thời ở đây, con sẽ suy nghĩ: “Thật là hiền thiện, những người xứ Sunāparanta này! Thật là khéo hiền thiện, những người xứ Sunāparanta này! Vì những người này không đánh đập ta bằng cục đất”. Ở đây, bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vậy. Ở đây, bạch Thiện Thệ, con sẽ nghĩ như vậy.
Vi-n 9 —Nhưng nếu người xứ Sunāparanta, này Puñña, đánh đập Ông bằng cục đất, thời ở đây, này Puñña, Ông nghĩ thế nào?
—Nếu những người xứ Sunāparanta, bạch Thế Tôn, đánh đập con bằng cục đất, thời ở đây, con sẽ suy nghĩ: “Thật là hiền thiện, những người xứ Sunāparanta này! Thật là khéo hiền thiện, những người xứ Sunāparanta này! Vì những người này không đánh đập ta bằng gậy”. Ở đây, bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vậy. Ở đây, bạch Thiện Thệ, con sẽ nghĩ như vậy.
Vi-n 10 —Nhưng nếu những người xứ Sunāparanta, này Puñña, sẽ đánh đập Ông với gậy, thời ở đây, này Puñña, Ông nghĩ thế nào?
—Nếu những người xứ Sunāparanta này, bạch Thế Tôn, sẽ đánh đập con với gậy, thời ở đây, con sẽ suy nghĩ: “Thật là hiền thiện, những người xứ Sunāparanta này! Thật là khéo hiền thiện, những người xứ Sunāparanta này! Vì những người này không đánh đập ta bằng kiếm”. Ở đây, bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vậy. Ở đây, bạch Thiện Thệ, con sẽ nghĩ như vậy.
Vi-n 11 —Nhưng nếu những người xứ Sunāparanta, này Puñña, lại đánh đập Ông bằng kiếm, thời ở đây, này Puñña, Ông sẽ nghĩ thế nào?
—Nếu những người xứ Sunāparanta, bạch Thế Tôn, đánh đập con với cây kiếm, thời ở đây, con sẽ suy nghĩ: “Thật là hiền thiện, những người xứ Sunāparanta này! Thật là khéo hiền thiện, những người xứ Sunāparanta này! Vì những người này không đoạn mạng ta với cây kiếm sắc bén”. Ở đây, bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vậy. Ở đây, bạch Thiện Thệ, con sẽ nghĩ như vậy.
Vi-n 12 —Nhưng nếu những người xứ Sunāparanta, này Puñña, sẽ đoạn mạng Ông với lưỡi kiếm sắc bén, thời ở đây, này Puñña, Ông sẽ nghĩ như thế nào?
—Nếu những người xứ Sunāparanta, bạch Thế Tôn, sẽ đoạn mạng con với lưỡi kiếm sắc bén, thời ở đây, con sẽ suy nghĩ: “Có những đệ tử của Thế Tôn, khi phiền não, tủi hổ và ghê tởm bởi thân và sinh mạng đã sử dụng đến con dao. Nay dầu không tìm đến ta vẫn được sử dụng con dao”. Ở đây, bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vậy. Ở đây, bạch Thiện Thệ, con sẽ nghĩ như vậy.
Vi-n 13 —Lành thay, lành thay, này Puñña! Ðầy đủ với sự an tịnh tự điều này, Ông có thể sống tại quốc độ Sunāparanta. Này Puñña, nay Ông hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.
Vi-n 14 Rồi Tôn giả Puñña hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, dọn dẹp sàng tọa, cầm y bát, rồi bộ hành đi đến xứ Sunāparanta. Ngài tuần tự bộ hành và đến xứ Sunāparanta. Tại đây, Tôn giả Puñña trú tại xứ Sunāparanta.
Vi-n 15 Và trong mùa mưa ấy, Tôn giả Puñña độ cho khoảng 500 cư sĩ. Cũng trong mùa mưa ấy, Tôn giả chứng được ba minh. Và cũng trong mùa mưa ấy Tôn giả Puñña viên tịch.
Vi-n 16 Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn …
Vi-n 17 Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, thiện gia nam tử Puñña, sau khi được Thế Tôn giáo giới một cách vắn tắt, đã mệnh chung. Sanh thú của vị ấy là gì? Ðời sau của vị ấy thế nào?
—Bậc Hiền trí, này các Tỷ-kheo, là thiện nam tử Puñña. Sở hành là đúng pháp và thuận pháp. Vị ấy không làm phiền não Ta với những kiện tụng về pháp. Hoàn toàn tịch diệt, này các Tỷ-kheo, là thiện nam tử Puñña.
Atha kho āyasmā puṇṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā …pe… ekamantaṁ nisinno kho āyasmā puṇṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“sādhu me, bhante, bhagavā saṅkhittena dhammaṁ desetu, yamahaṁ bhagavato dhammaṁ sutvā eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto vihareyyan”ti.
“Santi kho, puṇṇa, cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā.
Tañce bhikkhu abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati.
Tassa taṁ abhinandato abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato uppajjati nandī.
‘Nandisamudayā dukkhasamudayo, puṇṇā’ti vadāmi …pe…
santi kho, puṇṇa, jivhāviññeyyā rasā …pe…
santi kho, puṇṇa, manoviññeyyā dhammā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā.
Tañce bhikkhu abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati.
Tassa taṁ abhinandato abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato uppajjati nandī.
‘Nandisamudayā dukkhasamudayo, puṇṇā’ti vadāmi.
Santi kho, puṇṇa, cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā.
Tañce bhikkhu nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati, tassa taṁ anabhinandato anabhivadato anajjhosāya tiṭṭhato nirujjhati nandī.
‘Nandinirodhā dukkhanirodho, puṇṇā’ti vadāmi …pe…
santi kho, puṇṇa, manoviññeyyā dhammā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā.
Tañce bhikkhu nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati, tassa taṁ anabhinandato anabhivadato anajjhosāya tiṭṭhato nirujjhati nandī.
‘Nandinirodhā dukkhanirodho, puṇṇā’ti vadāmi.
Iminā tvaṁ, puṇṇa, mayā saṅkhittena ovādena ovadito katamasmiṁ janapade viharissasī”ti?
“Atthi, bhante, sunāparanto nāma janapado, tatthāhaṁ viharissāmī”ti.
“Caṇḍā kho, puṇṇa, sunāparantakā manussā;
pharusā kho, puṇṇa, sunāparantakā manussā.
Sace taṁ, puṇṇa, sunāparantakā manussā akkosissanti paribhāsissanti, tatra te, puṇṇa, kinti bhavissatī”ti?
“Sace maṁ, bhante, sunāparantakā manussā akkosissanti paribhāsissanti, tatra me evaṁ bhavissati:
‘bhaddakā vatime sunāparantakā manussā, subhaddakā vatime sunāparantakā manussā, yaṁ me nayime pāṇinā pahāraṁ dentī’ti.
Evamettha, bhagavā, bhavissati;
evamettha, sugata, bhavissatī”ti.
“Sace pana te, puṇṇa, sunāparantakā manussā pāṇinā pahāraṁ dassanti, tatra pana te, puṇṇa, kinti bhavissatī”ti?
“Sace me, bhante, sunāparantakā manussā pāṇinā pahāraṁ dassanti, tatra me evaṁ bhavissati:
‘bhaddakā vatime sunāparantakā manussā, subhaddakā vatime sunāparantakā manussā, yaṁ me nayime leḍḍunā pahāraṁ dentī’ti.
Evamettha, bhagavā, bhavissati;
evamettha, sugata, bhavissatī”ti.
“Sace pana te, puṇṇa, sunāparantakā manussā leḍḍunā pahāraṁ dassanti, tatra pana te, puṇṇa, kinti bhavissatī”ti?
“Sace me, bhante, sunāparantakā manussā leḍḍunā pahāraṁ dassanti, tatra me evaṁ bhavissati:
‘bhaddakā vatime sunāparantakā manussā, subhaddakā vatime sunāparantakā manussā, yaṁ me nayime daṇḍena pahāraṁ dentī’ti.
Evamettha, bhagavā, bhavissati;
evamettha, sugata, bhavissatī”ti.
“Sace pana puṇṇa, sunāparantakā manussā daṇḍena pahāraṁ dassanti, tatra pana te, puṇṇa, kinti bhavissatī”ti?
“Sace me, bhante, sunāparantakā manussā daṇḍena pahāraṁ dassanti, tatra me evaṁ bhavissati:
‘bhaddakā vatime sunāparantakā manussā, subhaddakā vatime sunāparantakā manussā, yaṁ me nayime satthena pahāraṁ dentī’ti.
Evamettha, bhagavā, bhavissati;
evamettha, sugata, bhavissatī”ti.
“Sace pana te, puṇṇa, sunāparantakā manussā satthena pahāraṁ dassanti, tatra pana te, puṇṇa, kinti bhavissatī”ti?
“Sace me, bhante, sunāparantakā manussā satthena pahāraṁ dassanti, tatra me evaṁ bhavissati:
‘bhaddakā vatime sunāparantakā manussā, subhaddakā vatime sunāparantakā manussā, yaṁ maṁ nayime tiṇhena satthena jīvitā voropentī’ti.
Evamettha, bhagavā, bhavissati;
evamettha, sugata, bhavissatī”ti.
“Sace pana taṁ, puṇṇa, sunāparantakā manussā tiṇhena satthena jīvitā voropessanti, tatra pana te, puṇṇa, kinti bhavissatī”ti?
“Sace maṁ, bhante, sunāparantakā manussā tiṇhena satthena jīvitā voropessanti, tatra me evaṁ bhavissati:
‘santi kho tassa bhagavato sāvakā kāyena ca jīvitena ca aṭṭīyamānā harāyamānā jigucchamānā satthahārakaṁ pariyesanti, taṁ me idaṁ apariyiṭṭhaññeva satthahārakaṁ laddhan’ti.
Evamettha, bhagavā, bhavissati;
evamettha, sugata, bhavissatī”ti.
“Sādhu sādhu, puṇṇa.
Sakkhissasi kho tvaṁ, puṇṇa, iminā damūpasamena samannāgato sunāparantasmiṁ janapade vatthuṁ.
Yassadāni tvaṁ, puṇṇa, kālaṁ maññasī”ti.
Atha kho āyasmā puṇṇo bhagavato vacanaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya yena sunāparanto janapado tena cārikaṁ pakkāmi.
Anupubbena cārikaṁ caramāno yena sunāparanto janapado tadavasari.
Tatra sudaṁ āyasmā puṇṇo sunāparantasmiṁ janapade viharati.
Atha kho āyasmā puṇṇo tenevantaravassena pañcamattāni upāsakasatāni paṭivedesi.
Tenevantaravassena pañcamattāni upāsikāsatāni paṭivedesi.
Tenevantaravassena tisso vijjā sacchākāsi.
Tenevantaravassena parinibbāyi.
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu …pe… ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“yo so, bhante, puṇṇo nāma kulaputto bhagavatā saṅkhittena ovādena ovadito, so kālaṅkato.
Tassa kā gati ko abhisamparāyo”ti?
“Paṇḍito, bhikkhave, puṇṇo kulaputto, paccapādi dhammassānudhammaṁ, na ca maṁ dhammādhikaraṇaṁ vihesesi.
Parinibbuto, bhikkhave, puṇṇo kulaputto”ti.
Pañcamaṁ.