Vi-n 1 Một thời Tôn giả Mahākassapa và Tôn giả Sāriputta trú ở Bārāṇasī (Ba-la-nại), tại Isipatana (chư Tiên đọa xứ), ở Migadāya (Lộc Uyển).
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Sāriputta, vào buổi chiều từ chỗ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahākassapa; sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm, liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Mahākassapa:
—Này Hiền giả Kassapa, có phải Như Lai có tồn tại sau khi chết không?
—Này Hiền giả, Thế Tôn không có tuyên bố: “Như Lai có tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 4 —Như vậy, này Hiền giả, có phải Như Lai không tồn tại sau khi chết?
—Cũng vậy, này Hiền giả, Thế Tôn không có tuyên bố: “Như Lai không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 5 —Như vậy, này Hiền giả, có phải Như Lai có tồn tại, và không tồn tại sau khi chết?
—Này Hiền giả, Thế Tôn không có tuyên bố: “Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 6 —Vậy này Hiền giả, có phải Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?
—Cũng vậy, này Hiền giả, Thế Tôn không có tuyên bố: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 7 Này Hiền giả, vì sao Thế Tôn không có tuyên bố như vậy? Vì đây, này Hiền giả, không đưa đến lợi ích, không đưa đến cứu cánh Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Thế Tôn không có tuyên bố như vậy.
Vi-n 8 Vậy này Hiền giả, Thế Tôn tuyên bố cái gì?
“Ðây là khổ”, này Hiền giả, Thế Tôn đã tuyên bố. “Ðây là khổ tập”, Thế Tôn đã tuyên bố. “Ðây là khổ diệt”, Thế Tôn đã tuyên bố. “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”, Thế Tôn đã tuyên bố.
Vi-n 9 Vì sao, này Hiền giả, Thế Tôn đã tuyên bố như vậy?
Vì đây, này Hiền giả, đưa đến lợi ích, đưa đến cứu cánh Phạm hạnh, đưa đến yếm ly, ly tham, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Thế Tôn đã tuyên bố như vậy.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā ca mahākassapo āyasmā ca sāriputto bārāṇasiyaṁ viharanti isipatane migadāye.
Atha kho āyasmā sāriputto sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā mahākassapo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā mahākassapena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto āyasmantaṁ mahākassapaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, āvuso kassapa, hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti?
“Abyākataṁ kho etaṁ, āvuso, bhagavatā:
‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
“Kiṁ panāvuso, na hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti?
“Evampi kho, āvuso, abyākataṁ bhagavatā:
‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
“Kiṁ nu kho, āvuso, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti?
“Abyākataṁ kho etaṁ, āvuso, bhagavatā:
‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
“Kiṁ panāvuso, neva hoti, na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti?
“Evampi kho, āvuso, abyākataṁ bhagavatā:
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
“Kasmā cetaṁ, āvuso, abyākataṁ bhagavatā”ti?
“Na hetaṁ, āvuso, atthasaṁhitaṁ nādibrahmacariyakaṁ na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati.
Tasmā taṁ abyākataṁ bhagavatā”ti.
“Atha kiñcarahāvuso, byākataṁ bhagavatā”ti?
“Idaṁ ‘dukkhan’ti kho, āvuso, byākataṁ bhagavatā;
ayaṁ ‘dukkhasamudayo’ti byākataṁ bhagavatā;
ayaṁ ‘dukkhanirodho’ti byākataṁ bhagavatā;
ayaṁ ‘dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti byākataṁ bhagavatā”ti.
“Kasmā cetaṁ, āvuso, byākataṁ bhagavatā”ti?
“Etañhi, āvuso, atthasaṁhitaṁ etaṁ ādibrahmacariyakaṁ etaṁ nibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati.
Tasmā taṁ byākataṁ bhagavatā”ti.
Dvādasamaṁ.
SC 1On one occasion the Venerable Mahakassapa and the Venerable Sāriputta were dwelling at Baraṇasī in the Deer Park at Isipatana. Then, in the evening, the Venerable Sāriputta emerged from seclusion and approached the Venerable Mahakassapa. He exchanged greetings with the Venerable Mahakassapa and, when they had concluded their greetings and cordial talk, he sat down to one side and said to him:
SC 2“How is it, friend Kassapa, does the Tathagata exist after death?”
SC 3“The Blessed One, friend, has not declared this: ‘The Tathagata exists after death.’”
SC 4“Then, friend, does the Tathagata not exist after death?”
SC 5“The Blessed One, friend, has not declared this either: ‘The Tathagata does not exist after death.’” sn.ii.223
SC 6“How is it then, friend, does the Tathagata both exist and not exist after death?”
SC 7“The Blessed One, friend, has not declared this: ‘The Tathagata both exists and does not exist after death.’”
SC 8“Then, friend, does the Tathagata neither exist nor not exist after death?”
SC 9“The Blessed One, friend, has not declared this either: ‘The Tathagata neither exists nor does not exist after death.’”
SC 10“Why hasn’t the Blessed One declared this, friend?”
SC 11“Because this is unbeneficial, irrelevant to the fundamentals of the holy life, and does not lead to revulsion, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to Nibbāna. Therefore the Blessed One has not declared this.”
“And what, friend, has the Blessed One declared?”
SC 12“The Blessed One, friend, has declared: ‘This is suffering,’ and ‘This is the origin of suffering,’ and ‘This is the cessation of suffering, ’ and ‘This is the way leading to the cessation of suffering.’”
SC 13“And why, friend, has the Blessed One declared this?”
SC 14“Because, friend, this is beneficial, relevant to the fundamentals of the holy life, and leads to revulsion, to dispassion, to cessation, to peace, to direct knowledge, to enlightenment, to Nibbāna. Therefore the Blessed One has declared this.”
Vi-n 1 Một thời Tôn giả Mahākassapa và Tôn giả Sāriputta trú ở Bārāṇasī (Ba-la-nại), tại Isipatana (chư Tiên đọa xứ), ở Migadāya (Lộc Uyển).
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Sāriputta, vào buổi chiều từ chỗ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahākassapa; sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm, liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Mahākassapa:
—Này Hiền giả Kassapa, có phải Như Lai có tồn tại sau khi chết không?
—Này Hiền giả, Thế Tôn không có tuyên bố: “Như Lai có tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 4 —Như vậy, này Hiền giả, có phải Như Lai không tồn tại sau khi chết?
—Cũng vậy, này Hiền giả, Thế Tôn không có tuyên bố: “Như Lai không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 5 —Như vậy, này Hiền giả, có phải Như Lai có tồn tại, và không tồn tại sau khi chết?
—Này Hiền giả, Thế Tôn không có tuyên bố: “Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 6 —Vậy này Hiền giả, có phải Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?
—Cũng vậy, này Hiền giả, Thế Tôn không có tuyên bố: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 7 Này Hiền giả, vì sao Thế Tôn không có tuyên bố như vậy? Vì đây, này Hiền giả, không đưa đến lợi ích, không đưa đến cứu cánh Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Thế Tôn không có tuyên bố như vậy.
Vi-n 8 Vậy này Hiền giả, Thế Tôn tuyên bố cái gì?
“Ðây là khổ”, này Hiền giả, Thế Tôn đã tuyên bố. “Ðây là khổ tập”, Thế Tôn đã tuyên bố. “Ðây là khổ diệt”, Thế Tôn đã tuyên bố. “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”, Thế Tôn đã tuyên bố.
Vi-n 9 Vì sao, này Hiền giả, Thế Tôn đã tuyên bố như vậy?
Vì đây, này Hiền giả, đưa đến lợi ích, đưa đến cứu cánh Phạm hạnh, đưa đến yếm ly, ly tham, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Thế Tôn đã tuyên bố như vậy.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā ca mahākassapo āyasmā ca sāriputto bārāṇasiyaṁ viharanti isipatane migadāye.
Atha kho āyasmā sāriputto sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā mahākassapo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā mahākassapena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto āyasmantaṁ mahākassapaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, āvuso kassapa, hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti?
“Abyākataṁ kho etaṁ, āvuso, bhagavatā:
‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
“Kiṁ panāvuso, na hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti?
“Evampi kho, āvuso, abyākataṁ bhagavatā:
‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
“Kiṁ nu kho, āvuso, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti?
“Abyākataṁ kho etaṁ, āvuso, bhagavatā:
‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
“Kiṁ panāvuso, neva hoti, na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti?
“Evampi kho, āvuso, abyākataṁ bhagavatā:
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
“Kasmā cetaṁ, āvuso, abyākataṁ bhagavatā”ti?
“Na hetaṁ, āvuso, atthasaṁhitaṁ nādibrahmacariyakaṁ na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati.
Tasmā taṁ abyākataṁ bhagavatā”ti.
“Atha kiñcarahāvuso, byākataṁ bhagavatā”ti?
“Idaṁ ‘dukkhan’ti kho, āvuso, byākataṁ bhagavatā;
ayaṁ ‘dukkhasamudayo’ti byākataṁ bhagavatā;
ayaṁ ‘dukkhanirodho’ti byākataṁ bhagavatā;
ayaṁ ‘dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti byākataṁ bhagavatā”ti.
“Kasmā cetaṁ, āvuso, byākataṁ bhagavatā”ti?
“Etañhi, āvuso, atthasaṁhitaṁ etaṁ ādibrahmacariyakaṁ etaṁ nibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati.
Tasmā taṁ byākataṁ bhagavatā”ti.
Dvādasamaṁ.