Vi-n 1 Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ).
Lúc bấy giờ, Thiên tử Candima bị Rāhu, vua A-tu-la bắt. Rồi Thiên tử Candima, tưởng niệm đến Thế Tôn, trong lúc ấy nói lên bài kệ này:
Vi-n 2
Ðảnh lễ đấng Giác Ngộ,
Bậc Anh Hùng muôn thuở,
Ngài là bậc Giải Thoát,
Thoát ly thật viên mãn,
Còn con bị trói buộc,
Hãy cho con quy ngưỡng .
Vi-n 3 Rồi Thế Tôn, vì Thiên tử Candima, nói lên bài lệ này cho Rāhu, vua A-tu-la:
Canda đã quy y,
Như Lai, bậc La-hán,
Rāhu, hãy thả nó,
Vì chư Phật thương đời .
Vi-n 4 Rồi Rāhu, vua A-tu-la, giải thoát cho Thiên tử Candima. Như bị hốt hoảng, Rāhu đi đến Vepacitti, vua A-tu-la, run sợ, lông tóc dựng ngược và đứng một bên. Và Vepacitti, vua A-tu-la, nói lên bài kệ cho Rāhu, vua A-tu-la, đang đứng một bên:
Vi-n 5
Vì sao, như hốt hoảng,
Rāhu thả Canda,
Ông đến, lòng run sợ,
Ông đứng, tâm kinh hoàng?
Vi-n 6
—Ðầu con bể thành bảy,
Ðời con không hạnh phúc,
Với lời kệ đức Phật,
Nếu không thả Canda .
Sāvatthinidānaṁ.
Tena kho pana samayena candimā devaputto rāhunā asurindena gahito hoti.
Atha kho candimā devaputto bhagavantaṁ anussaramāno tāyaṁ velāyaṁ imaṁ gāthaṁ abhāsi:
“Namo te buddha vīratthu,
vippamuttosi sabbadhi;
Sambādhapaṭipannosmi,
tassa me saraṇaṁ bhavā”ti.
Atha kho bhagavā candimaṁ devaputtaṁ ārabbha rāhuṁ asurindaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
“Tathāgataṁ arahantaṁ,
candimā saraṇaṁ gato;
Rāhu candaṁ pamuñcassu,
buddhā lokānukampakā”ti.
Atha kho rāhu asurindo candimaṁ devaputtaṁ muñcitvā taramānarūpo yena vepacitti asurindo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā saṁviggo lomahaṭṭhajāto ekamantaṁ aṭṭhāsi.
Ekamantaṁ ṭhitaṁ kho rāhuṁ asurindaṁ vepacitti asurindo gāthāya ajjhabhāsi:
“Kiṁ nu santaramānova,
rāhu candaṁ pamuñcasi;
Saṁviggarūpo āgamma,
kiṁ nu bhītova tiṭṭhasī”ti.
“Sattadhā me phale muddhā,
jīvanto na sukhaṁ labhe;
Buddhagāthābhigītomhi,
no ce muñceyya candiman”ti.
At Sāvatthī.
Now at that time the Moon God had been seized by Rāhu, lord of titans.
Then the Moon God, recollecting the Buddha, at that time spoke this verse:
“Homage to you, Buddha, hero!
You’re free in every way.
I’ve wandered into confinement:
be my refuge!”
Then the Buddha addressed Rāhu in verse concerning the Moon God:
“The Moon God has gone for refuge
to the Realized One, the perfected one.
The Buddhas have compassion for the world—
so Rāhu, release the Moon!”
Then Rāhu, having released the Moon, rushed to see Vepacitti, lord of titans and stood to one side, shocked and awestruck.
Vepacitti addressed him in verse:
“Why the rush?
Rāhu, you released the Moon
and came here looking like you’re in shock:
why do you stand there so scared?”
“My head would have exploded in seven pieces,
I would have found no happiness in life,
if, when enchanted by the Buddha’s verse,
I had not released the Moon.”
Vi-n 1 Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ).
Lúc bấy giờ, Thiên tử Candima bị Rāhu, vua A-tu-la bắt. Rồi Thiên tử Candima, tưởng niệm đến Thế Tôn, trong lúc ấy nói lên bài kệ này:
Vi-n 2
Ðảnh lễ đấng Giác Ngộ,
Bậc Anh Hùng muôn thuở,
Ngài là bậc Giải Thoát,
Thoát ly thật viên mãn,
Còn con bị trói buộc,
Hãy cho con quy ngưỡng .
Vi-n 3 Rồi Thế Tôn, vì Thiên tử Candima, nói lên bài lệ này cho Rāhu, vua A-tu-la:
Canda đã quy y,
Như Lai, bậc La-hán,
Rāhu, hãy thả nó,
Vì chư Phật thương đời .
Vi-n 4 Rồi Rāhu, vua A-tu-la, giải thoát cho Thiên tử Candima. Như bị hốt hoảng, Rāhu đi đến Vepacitti, vua A-tu-la, run sợ, lông tóc dựng ngược và đứng một bên. Và Vepacitti, vua A-tu-la, nói lên bài kệ cho Rāhu, vua A-tu-la, đang đứng một bên:
Vi-n 5
Vì sao, như hốt hoảng,
Rāhu thả Canda,
Ông đến, lòng run sợ,
Ông đứng, tâm kinh hoàng?
Vi-n 6
—Ðầu con bể thành bảy,
Ðời con không hạnh phúc,
Với lời kệ đức Phật,
Nếu không thả Canda .
Sāvatthinidānaṁ.
Tena kho pana samayena candimā devaputto rāhunā asurindena gahito hoti.
Atha kho candimā devaputto bhagavantaṁ anussaramāno tāyaṁ velāyaṁ imaṁ gāthaṁ abhāsi:
“Namo te buddha vīratthu,
vippamuttosi sabbadhi;
Sambādhapaṭipannosmi,
tassa me saraṇaṁ bhavā”ti.
Atha kho bhagavā candimaṁ devaputtaṁ ārabbha rāhuṁ asurindaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
“Tathāgataṁ arahantaṁ,
candimā saraṇaṁ gato;
Rāhu candaṁ pamuñcassu,
buddhā lokānukampakā”ti.
Atha kho rāhu asurindo candimaṁ devaputtaṁ muñcitvā taramānarūpo yena vepacitti asurindo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā saṁviggo lomahaṭṭhajāto ekamantaṁ aṭṭhāsi.
Ekamantaṁ ṭhitaṁ kho rāhuṁ asurindaṁ vepacitti asurindo gāthāya ajjhabhāsi:
“Kiṁ nu santaramānova,
rāhu candaṁ pamuñcasi;
Saṁviggarūpo āgamma,
kiṁ nu bhītova tiṭṭhasī”ti.
“Sattadhā me phale muddhā,
jīvanto na sukhaṁ labhe;
Buddhagāthābhigītomhi,
no ce muñceyya candiman”ti.