Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 2 Tôn giả Migajāla đi đến Thế Tôn …
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Migajāla bạch Thế Tôn:
: “Sống một mình! Sống một mình!”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào là sống một mình? Và cho đến như thế nào là sống có người thứ hai?
Vi-n 4 —Này Migajāla, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến sắc ấy; do vị ấy hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến sắc ấy nên hỷ (nandi) khởi lên. Do hỷ có mặt nên dục tham (sàràgo) có mặt. Do dục tham có mặt nên triền phược có mặt. Bị trói buộc bởi hỷ triền phược, này Migajāla, nên Tỷ-kheo được gọi là người sống có người thứ hai.
Vi-n 5-8. … có những tiếng do tai nhận thức … có những hương do mũi nhận thức … có những vị do lưỡi nhận thức … có những xúc do thân nhận thức …
Vi-n 9 Này Migajāla, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến pháp ấy; do vị ấy hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến pháp ấy nên hỷ khởi lên. Do hỷ có mặt nên dục tham có mặt. Do dục tham có mặt nên triền phược có mặt. Bị trói buộc bởi hỷ triền phược, này Migajāla, nên Tỷ-kheo được gọi là người sống có người thứ hai.
Vi-n 10 Tỷ-kheo sống như vậy, này Migajāla, dầu cho đến ở các trú xứ xa vắng, các khóm rừng, các khu rừng, ít tiếng động, ít ồn ào, khỏi hơi thở quần chúng (vijanavàtàni), vắng người, thích hợp với tịnh; dầu vậy, vẫn được gọi là sống với người thứ hai.
Vi-n 11 Vì sao? Vì rằng ái, người thứ hai, chưa được đoạn tận cho nên được gọi là sống có người thứ hai.
Vi-n 12-14. Và này Migajala, có các sắc do mắt nhận thức, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ, không tán dương và trú với lòng không tham luyến pháp ấy; thời do vị ấy không hoan hỷ, không tán dương và trú với lòng không tham luyến pháp ấy, nên hỷ đoạn diệt; thời do hỷ không có mặt nên dục tham không có mặt. Do dục tham không có mặt nên triền phược không có mặt. Do không bị trói buộc bởi hỷ triền phược, này Migajāla, nên Tỷ-kheo được gọi là người trú một mình.
Vi-n 15-16. … Này Migajāla, có những vị do lưỡi nhận thức …
Vi-n 17 Này Migajāla, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ, không tán dương và trú với tâm không tham luyến pháp ấy; thời do vị ấy không hoan hỷ, không tán dương, trú với tâm không tham luyến pháp ấy nên hỷ đoạn diệt. Do hỷ không có mặt nên dục tham không có mặt. Do dục tham không có mặt nên triền phược không có mặt. Do không bị trói buộc bởi hỷ triền phược, này Migajāla, nên Tỷ-kheo được gọi là người trú một mình.
Vi-n 18 Tỷ-kheo sống như vậy, này Migajāla, dầu có ở giữa làng tràn đầy những Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, vua chúa, đại thần của vua, các ngoại đạo và các đệ tử các ngoại đạo, vị ấy vẫn được gọi là vị sống một mình.
Vi-n 19 Vì sao? Vì rằng ái, người thứ hai, được đoạn tận, do vậy được gọi là sống một mình.
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho āyasmā migajālo yena bhagavā …pe…
ekamantaṁ nisinno kho āyasmā migajālo bhagavantaṁ etadavoca:
“‘ekavihārī, ekavihārī’ti, bhante, vuccati.
Kittāvatā nu kho, bhante, ekavihārī hoti, kittāvatā ca pana sadutiyavihārī hotī”ti?
“Santi kho, migajāla, cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā.
Tañce bhikkhu abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati.
Tassa taṁ abhinandato abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato uppajjati nandī.
Nandiyā sati sārāgo hoti;
sārāge sati saṁyogo hoti.
Nandisaṁyojanasaṁyutto kho, migajāla, bhikkhu sadutiyavihārīti vuccati.
…pe…
Santi kho, migajāla, jivhāviññeyyā rasā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā.
Tañce bhikkhu abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati.
Tassa taṁ abhinandato abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato uppajjati nandī.
Nandiyā sati sārāgo hoti;
sārāge sati saṁyogo hoti.
Nandisaṁyojanasaṁyutto kho, migajāla, bhikkhu sadutiyavihārīti vuccati.
Evaṁvihārī ca, migajāla, bhikkhu kiñcāpi araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevati appasaddāni appanigghosāni vijanavātāni manussarāhasseyyakāni paṭisallānasāruppāni;
atha kho sadutiyavihārīti vuccati.
Taṁ kissa hetu?
Taṇhā hissa dutiyā, sāssa appahīnā.
Tasmā ‘sadutiyavihārī’ti vuccati.
Santi ca kho, migajāla, cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā.
Tañce bhikkhu nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati.
Tassa taṁ anabhinandato anabhivadato anajjhosāya tiṭṭhato nandī nirujjhati.
Nandiyā asati sārāgo na hoti;
sārāge asati saṁyogo na hoti.
Nandisaṁyojanavisaṁyutto kho, migajāla, bhikkhu ekavihārīti vuccati …pe…
santi ca kho, migajāla, jivhāviññeyyā rasā …pe…
santi ca kho, migajāla, manoviññeyyā dhammā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā.
Tañce bhikkhu nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati.
Tassa taṁ anabhinandato anabhivadato anajjhosāya tiṭṭhato nandī nirujjhati.
Nandiyā asati sārāgo na hoti;
sārāge asati saṁyogo na hoti.
Nandisaṁyojanavippayutto kho, migajāla, bhikkhu ekavihārīti vuccati.
Evaṁvihārī ca, migajāla, bhikkhu kiñcāpi gāmante viharati ākiṇṇo bhikkhūhi bhikkhunīhi upāsakehi upāsikāhi rājūhi rājamahāmattehi titthiyehi titthiyasāvakehi.
Atha kho ekavihārīti vuccati.
Taṁ kissa hetu?
Taṇhā hissa dutiyā, sāssa pahīnā.
Tasmā ‘ekavihārī’ti vuccatī”ti.
Paṭhamaṁ.
SC 1At Savatthi. Then the Venerable Migajala approached the Blessed One, paid homage to him, sat down to one side, and said to him:
SC 2“Venerable sir, it is said, ‘a lone dweller, a lone dweller.’ sn.iv.36 In what way, venerable sir, is one a lone dweller, and in what way is one dwelling with a partner?”
SC 3“There are, Migajala, forms cognizable by the eye that are desirable, lovely, agreeable, pleasing, sensually enticing, tantalizing. If a bhikkhu seeks delight in them, welcomes them, and remains holding to them, delight arises. When there is delight, there is infatuation. When there is infatuation, there is bondage. Bound by the fetter of delight, Migajala, a bhikkhu is called one dwelling with a partner.
SC 4“There are, Migajala, sounds cognizable by the ear … odours cognizable by the nose … tastes cognizable by the tongue … tactile objects cognizable by the body … mental phenomena cognizable by the mind that are desirable, lovely, agreeable, pleasing, sensually enticing, tantalizing. If a bhikkhu seeks delight in them … he is called one dwelling with a partner.
SC 5“Migajala, even though a bhikkhu who dwells thus resorts to forests and groves, to remote lodgings where there are few sounds and little noise, desolate, hidden from people, appropriate for seclusion, he is still called one dwelling with a partner. For what reason? Because craving is his partner, and he has not abandoned it; therefore he is called one dwelling with a partner.
SC 6“There are, Migajala, forms cognizable by the eye that are desirable, lovely, agreeable, pleasing, sensually enticing, tantalizing. If a bhikkhu does not seek delight in them, does not welcome them, and does not remain holding to them, delight ceases. When there is no delight, there is no infatuation. When there is no infatuation, sn.iv.37 there is no bondage. Released from the fetter of delight, Migajala, a bhikkhu is called a lone dweller.
SC 7“There are, Migajala, sounds cognizable by the ear … odours cognizable by the nose … tastes cognizable by the tongue … tactile objects cognizable by the body … mental phenomena cognizable by the mind that are desirable, lovely, agreeable, pleasing, sensually enticing, tantalizing. If a bhikkhu does not seek delight in them … he is called a lone dweller.
SC 8“Migajala, even though a bhikkhu who dwells thus lives in the vicinity of a village, associating with bhikkhus and bhikkhunis, with male and female lay followers, with kings and royal ministers, with sectarian teachers and their disciples, he is still called a lone dweller. For what reason? Because craving is his partner, and he has abandoned it; therefore he is called a lone dweller.”
Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 2 Tôn giả Migajāla đi đến Thế Tôn …
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Migajāla bạch Thế Tôn:
: “Sống một mình! Sống một mình!”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào là sống một mình? Và cho đến như thế nào là sống có người thứ hai?
Vi-n 4 —Này Migajāla, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến sắc ấy; do vị ấy hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến sắc ấy nên hỷ (nandi) khởi lên. Do hỷ có mặt nên dục tham (sàràgo) có mặt. Do dục tham có mặt nên triền phược có mặt. Bị trói buộc bởi hỷ triền phược, này Migajāla, nên Tỷ-kheo được gọi là người sống có người thứ hai.
Vi-n 5-8. … có những tiếng do tai nhận thức … có những hương do mũi nhận thức … có những vị do lưỡi nhận thức … có những xúc do thân nhận thức …
Vi-n 9 Này Migajāla, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến pháp ấy; do vị ấy hoan hỷ, tán dương và trú với lòng tham luyến pháp ấy nên hỷ khởi lên. Do hỷ có mặt nên dục tham có mặt. Do dục tham có mặt nên triền phược có mặt. Bị trói buộc bởi hỷ triền phược, này Migajāla, nên Tỷ-kheo được gọi là người sống có người thứ hai.
Vi-n 10 Tỷ-kheo sống như vậy, này Migajāla, dầu cho đến ở các trú xứ xa vắng, các khóm rừng, các khu rừng, ít tiếng động, ít ồn ào, khỏi hơi thở quần chúng (vijanavàtàni), vắng người, thích hợp với tịnh; dầu vậy, vẫn được gọi là sống với người thứ hai.
Vi-n 11 Vì sao? Vì rằng ái, người thứ hai, chưa được đoạn tận cho nên được gọi là sống có người thứ hai.
Vi-n 12-14. Và này Migajala, có các sắc do mắt nhận thức, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ, không tán dương và trú với lòng không tham luyến pháp ấy; thời do vị ấy không hoan hỷ, không tán dương và trú với lòng không tham luyến pháp ấy, nên hỷ đoạn diệt; thời do hỷ không có mặt nên dục tham không có mặt. Do dục tham không có mặt nên triền phược không có mặt. Do không bị trói buộc bởi hỷ triền phược, này Migajāla, nên Tỷ-kheo được gọi là người trú một mình.
Vi-n 15-16. … Này Migajāla, có những vị do lưỡi nhận thức …
Vi-n 17 Này Migajāla, có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ, không tán dương và trú với tâm không tham luyến pháp ấy; thời do vị ấy không hoan hỷ, không tán dương, trú với tâm không tham luyến pháp ấy nên hỷ đoạn diệt. Do hỷ không có mặt nên dục tham không có mặt. Do dục tham không có mặt nên triền phược không có mặt. Do không bị trói buộc bởi hỷ triền phược, này Migajāla, nên Tỷ-kheo được gọi là người trú một mình.
Vi-n 18 Tỷ-kheo sống như vậy, này Migajāla, dầu có ở giữa làng tràn đầy những Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, vua chúa, đại thần của vua, các ngoại đạo và các đệ tử các ngoại đạo, vị ấy vẫn được gọi là vị sống một mình.
Vi-n 19 Vì sao? Vì rằng ái, người thứ hai, được đoạn tận, do vậy được gọi là sống một mình.
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho āyasmā migajālo yena bhagavā …pe…
ekamantaṁ nisinno kho āyasmā migajālo bhagavantaṁ etadavoca:
“‘ekavihārī, ekavihārī’ti, bhante, vuccati.
Kittāvatā nu kho, bhante, ekavihārī hoti, kittāvatā ca pana sadutiyavihārī hotī”ti?
“Santi kho, migajāla, cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā.
Tañce bhikkhu abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati.
Tassa taṁ abhinandato abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato uppajjati nandī.
Nandiyā sati sārāgo hoti;
sārāge sati saṁyogo hoti.
Nandisaṁyojanasaṁyutto kho, migajāla, bhikkhu sadutiyavihārīti vuccati.
…pe…
Santi kho, migajāla, jivhāviññeyyā rasā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā.
Tañce bhikkhu abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati.
Tassa taṁ abhinandato abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato uppajjati nandī.
Nandiyā sati sārāgo hoti;
sārāge sati saṁyogo hoti.
Nandisaṁyojanasaṁyutto kho, migajāla, bhikkhu sadutiyavihārīti vuccati.
Evaṁvihārī ca, migajāla, bhikkhu kiñcāpi araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevati appasaddāni appanigghosāni vijanavātāni manussarāhasseyyakāni paṭisallānasāruppāni;
atha kho sadutiyavihārīti vuccati.
Taṁ kissa hetu?
Taṇhā hissa dutiyā, sāssa appahīnā.
Tasmā ‘sadutiyavihārī’ti vuccati.
Santi ca kho, migajāla, cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā.
Tañce bhikkhu nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati.
Tassa taṁ anabhinandato anabhivadato anajjhosāya tiṭṭhato nandī nirujjhati.
Nandiyā asati sārāgo na hoti;
sārāge asati saṁyogo na hoti.
Nandisaṁyojanavisaṁyutto kho, migajāla, bhikkhu ekavihārīti vuccati …pe…
santi ca kho, migajāla, jivhāviññeyyā rasā …pe…
santi ca kho, migajāla, manoviññeyyā dhammā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā.
Tañce bhikkhu nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati.
Tassa taṁ anabhinandato anabhivadato anajjhosāya tiṭṭhato nandī nirujjhati.
Nandiyā asati sārāgo na hoti;
sārāge asati saṁyogo na hoti.
Nandisaṁyojanavippayutto kho, migajāla, bhikkhu ekavihārīti vuccati.
Evaṁvihārī ca, migajāla, bhikkhu kiñcāpi gāmante viharati ākiṇṇo bhikkhūhi bhikkhunīhi upāsakehi upāsikāhi rājūhi rājamahāmattehi titthiyehi titthiyasāvakehi.
Atha kho ekavihārīti vuccati.
Taṁ kissa hetu?
Taṇhā hissa dutiyā, sāssa pahīnā.
Tasmā ‘ekavihārī’ti vuccatī”ti.
Paṭhamaṁ.