Vi-n 1-2 Nhân duyên ở Sāvatthī…
Vi-n 3 —Ðối với vị thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, này các Tỷ-kheo, đây là thuận pháp (anudhammaṁ): Hãy sống nhàm chán nhiều đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành, hãy sống nhàm chán nhiều đối với thức.
Vi-n 4 Ai sống nhàm chán nhiều đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành, ai sống nhàm chán nhiều đối với thức thời sẽ biến tri sắc… thọ… tưởng… các hành, biến tri thức.
Vi-n 5 Vị nào biến tri sắc, biến tri thọ, biến tri tưởng, biến tri các hành, biến tri thức, thời được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy được giải thoát khỏi đau khổ.
Sāvatthinidānaṁ.
“Saddhāpabbajitassa, bhikkhave, kulaputtassa ayamanudhammo hoti—
yaṁ rūpe nibbidābahulo vihareyya. Vedanāya …pe… saññāya … saṅkhāresu … viññāṇe nibbidābahulo vihareyya.
Yo rūpe nibbidābahulo viharanto, vedanāya … saññāya … saṅkhāresu … viññāṇe nibbidābahulo viharanto rūpaṁ parijānāti, vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ parijānāti;
so rūpaṁ parijānaṁ vedanaṁ parijānaṁ saññaṁ parijānaṁ saṅkhāre parijānaṁ viññāṇaṁ parijānaṁ parimuccati rūpamhā, parimuccati vedanāya, parimuccati saññāya, parimuccati saṅkhārehi, parimuccati viññāṇamhā, parimuccati jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi; ‘parimuccati dukkhasmā’ti vadāmī”ti.
Ekādasamaṁ.
At Sāvatthī.
“Mendicants, when a gentleman has gone forth out of faith, this is what’s in line with the teaching.
They should live full of disillusionment for form, feeling, perception, choices, and consciousness.
Living in this way, they completely understand form, feeling, perception, choices, and consciousness.
Completely understanding form, feeling, perception, choices, and consciousness, they’re freed from these things. They’re freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They’re freed from suffering, I say.”
Vi-n 1-2 Nhân duyên ở Sāvatthī…
Vi-n 3 —Ðối với vị thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, này các Tỷ-kheo, đây là thuận pháp (anudhammaṁ): Hãy sống nhàm chán nhiều đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành, hãy sống nhàm chán nhiều đối với thức.
Vi-n 4 Ai sống nhàm chán nhiều đối với sắc… đối với thọ… đối với tưởng… đối với các hành, ai sống nhàm chán nhiều đối với thức thời sẽ biến tri sắc… thọ… tưởng… các hành, biến tri thức.
Vi-n 5 Vị nào biến tri sắc, biến tri thọ, biến tri tưởng, biến tri các hành, biến tri thức, thời được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy được giải thoát khỏi đau khổ.
Sāvatthinidānaṁ.
“Saddhāpabbajitassa, bhikkhave, kulaputtassa ayamanudhammo hoti—
yaṁ rūpe nibbidābahulo vihareyya. Vedanāya …pe… saññāya … saṅkhāresu … viññāṇe nibbidābahulo vihareyya.
Yo rūpe nibbidābahulo viharanto, vedanāya … saññāya … saṅkhāresu … viññāṇe nibbidābahulo viharanto rūpaṁ parijānāti, vedanaṁ … saññaṁ … saṅkhāre … viññāṇaṁ parijānāti;
so rūpaṁ parijānaṁ vedanaṁ parijānaṁ saññaṁ parijānaṁ saṅkhāre parijānaṁ viññāṇaṁ parijānaṁ parimuccati rūpamhā, parimuccati vedanāya, parimuccati saññāya, parimuccati saṅkhārehi, parimuccati viññāṇamhā, parimuccati jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi; ‘parimuccati dukkhasmā’ti vadāmī”ti.
Ekādasamaṁ.