Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Ràagaha (Vương Xá), tại Veluvana (Trúc Lâm), chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, một cư sĩ dâng y cúng dường Tỷ-kheo-ni Cirà.
Vi-n 3 Rồi một Dạ-xoa, khởi lòng tịnh tín đối với Tỷ-kheo-ni Cirà, liền đi từ đường xe này đến đường xe khác, từ ngã ba này đến ngã ba khác tại thành Vương Xá, ngay lúc ấy nói lên bài kệ này:
Cư sĩ có trí này,
Chắc hưởng nhiều công đức,
Ðã cúng dường tấm y,
Dâng cúng lên Cirà,
Một vị đã giải thoát,
Tất cả mọi khổ ách.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Tena kho pana samayena aññataro upāsako cīrāya bhikkhuniyā cīvaraṁ adāsi.
Atha kho cīrāya bhikkhuniyā abhippasanno yakkho rājagahe rathikāya rathikaṁ siṅghāṭakena siṅghāṭakaṁ upasaṅkamitvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ gāthaṁ abhāsi:
“Puññaṁ vata pasavi bahuṁ,
Sappañño vatāyaṁ upāsako;
Yo cīrāya adāsi cīvaraṁ,
Sabbayogehi vippamuttiyā”ti.
So I have heard.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.
Now at that time a certain lay follower gave a robe to the nun Cīrā.
Then a native spirit was so devoted to Cīrā that he went from street to street and from square to square, and on that occasion recited these verses:
“O! He has made so much merit!
That lay-follower is so very wise.
He gave a robe to Cīrā,
who is released from all yokes.”
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Ràagaha (Vương Xá), tại Veluvana (Trúc Lâm), chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, một cư sĩ dâng y cúng dường Tỷ-kheo-ni Cirà.
Vi-n 3 Rồi một Dạ-xoa, khởi lòng tịnh tín đối với Tỷ-kheo-ni Cirà, liền đi từ đường xe này đến đường xe khác, từ ngã ba này đến ngã ba khác tại thành Vương Xá, ngay lúc ấy nói lên bài kệ này:
Cư sĩ có trí này,
Chắc hưởng nhiều công đức,
Ðã cúng dường tấm y,
Dâng cúng lên Cirà,
Một vị đã giải thoát,
Tất cả mọi khổ ách.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Tena kho pana samayena aññataro upāsako cīrāya bhikkhuniyā cīvaraṁ adāsi.
Atha kho cīrāya bhikkhuniyā abhippasanno yakkho rājagahe rathikāya rathikaṁ siṅghāṭakena siṅghāṭakaṁ upasaṅkamitvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ gāthaṁ abhāsi:
“Puññaṁ vata pasavi bahuṁ,
Sappañño vatāyaṁ upāsako;
Yo cīrāya adāsi cīvaraṁ,
Sabbayogehi vippamuttiyā”ti.