Vi-n 1 Sāvatthi …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về tất cả. Hãy lắng nghe.
Vi-n 3 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tất cả? Mắt và các sắc; tai và các tiếng; mũi và các hương; lưỡi và các vị; thân và các xúc; ý và các pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, gọi là tất cả.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Sau khi từ bỏ tất cả này, ta sẽ tuyên bố (một) tất cả khác”, thời lời nói người ấy chỉ là khoa ngôn. Và bị hỏi, người ấy không thể chứng minh gì. Và hơn nữa, người ấy có thể rơi vào ách nạn. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, như vậy ra ngoài giới vức (avisaya) của người ấy!
Sāvatthinidānaṁ.
“Sabbaṁ vo, bhikkhave, desessāmi.
Taṁ suṇātha.
Kiñca, bhikkhave, sabbaṁ?
Cakkhuñceva rūpā ca, sotañca saddā ca, ghānañca gandhā ca, jivhā ca rasā ca, kāyo ca phoṭṭhabbā ca, mano ca dhammā ca—
idaṁ vuccati, bhikkhave, sabbaṁ.
Yo, bhikkhave, evaṁ vadeyya:
‘ahametaṁ sabbaṁ paccakkhāya aññaṁ sabbaṁ paññāpessāmī’ti, tassa vācāvatthukamevassa;
puṭṭho ca na sampāyeyya, uttariñca vighātaṁ āpajjeyya.
Taṁ kissa hetu?
Yathā taṁ, bhikkhave, avisayasmin”ti.
Paṭhamaṁ.
SC 1At Savatthi. “Bhikkhus, I will teach you the all. Listen to that….
SC 2“And what, bhikkhus, is the all? The eye and forms, the ear and sounds, the nose and odours, the tongue and tastes, the body and tactile objects, the mind and mental phenomena. This is called the all.
SC 3“If anyone, bhikkhus, should speak thus: ‘Having rejected this all, I shall make known another all’—that would be a mere empty boast on his part. If he were questioned he would not be able to reply and, further, he would meet with vexation. For what reason? Because, bhikkhus, that would not be within his domain.”
Vi-n 1 Sāvatthi …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về tất cả. Hãy lắng nghe.
Vi-n 3 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tất cả? Mắt và các sắc; tai và các tiếng; mũi và các hương; lưỡi và các vị; thân và các xúc; ý và các pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, gọi là tất cả.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Sau khi từ bỏ tất cả này, ta sẽ tuyên bố (một) tất cả khác”, thời lời nói người ấy chỉ là khoa ngôn. Và bị hỏi, người ấy không thể chứng minh gì. Và hơn nữa, người ấy có thể rơi vào ách nạn. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, như vậy ra ngoài giới vức (avisaya) của người ấy!
Sāvatthinidānaṁ.
“Sabbaṁ vo, bhikkhave, desessāmi.
Taṁ suṇātha.
Kiñca, bhikkhave, sabbaṁ?
Cakkhuñceva rūpā ca, sotañca saddā ca, ghānañca gandhā ca, jivhā ca rasā ca, kāyo ca phoṭṭhabbā ca, mano ca dhammā ca—
idaṁ vuccati, bhikkhave, sabbaṁ.
Yo, bhikkhave, evaṁ vadeyya:
‘ahametaṁ sabbaṁ paccakkhāya aññaṁ sabbaṁ paññāpessāmī’ti, tassa vācāvatthukamevassa;
puṭṭho ca na sampāyeyya, uttariñca vighātaṁ āpajjeyya.
Taṁ kissa hetu?
Yathā taṁ, bhikkhave, avisayasmin”ti.
Paṭhamaṁ.