Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở giữa dân tộc Kosala, trên bờ sông Sundarika.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ Bà-la-môn Sundarika Bharadvāja tế lửa trên bờ sông Sundarika, làm lễ cúng dường lửa.
Vi-n 3 Rồi Bà-la-môn Sundarika Bharadvāja sau khi tế lửa, làm lễ cúng dường lửa xong, từ chỗ ngồi đứng dậy, nhìn xung quanh tất cả bốn phương và nghĩ: “Ai có thể hưởng họ món ăn cúng tế còn lại này?”
Vi-n 4 Bà-la-môn Sundarika Bharadvāja thấy Thế Tôn đang ngồi dưới gốc cây, đầu được bao trùm, thấy vậy, tay trái cầm món ăn cúng tế còn lại, tay phải cầm bình nước đi đến Thế Tôn.
Vi-n 5 Và Thế Tôn nghe tiếng chân của Bà-la-môn Sundarika Bharadvāja liền tháo đồ trùm ở đầu.
Vi-n 6 Và Bà-la-môn Sundarika Bharadvāja nghĩ: “Ðầu vị này trọc, vị này là người trọc đầu”, nghĩ vậy, muốn trở lui.
Vi-n 7 Rồi Bà-la-môn Sundarika Bharadvāja lại suy nghĩ: “Trọc đầu ở đây, một số Bà-la-môn cũng như vậy. Vậy ta hãy đến và hỏi vấn đề thọ sanh”.
Vi-n 8 Rồi Bà-la-môn Sundarika Bharadvāja đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn:
—Thọ sanh Tôn giả là gì?
Vi-n 9 (Thế Tôn):
Chớ hỏi về thọ sanh,
Hãy hỏi về sở hành.
Tùy theo mọi thứ củi,
Ngọn lửa được sanh khởi.
Dầu thuộc nhà hạ tiện,
Bậc ẩn sĩ tinh cần,
Ðược xem như thượng sanh,
Biết tàm quý, trừ ác.
Ðiều thuận bởi chân lý,
Thuần thục trong hành trì,
Thông đạt các Thánh kinh,
Phạm hạnh được viên thành.
Tế vật đã đem lại,
Hãy cầu khẩn vị ấy,
Lễ tế làm đúng thời,
Vị ấy xứng cúng dường.
Vi-n 10 Sundarika:
Vật cúng này của con,
Thật sự khéo cúng dường,
Nay con đã thấy được,
Bậc sáng suốt như Ngài.
Con không thấy một ai
Có thể sánh được Ngài,
Không có người nào khác
Thọ hưởng vật cúng này.
Tôn giả Gotama,
Hãy thọ hưởng vật cúng.
Ngài thật là Bà-la-môn,
Là bậc đáng tôn trọng.
Vi-n 11 (Thế Tôn):
Ta không có hưởng thọ,
Vì tụng hát kệ chú,
Thường pháp không phải vậy,
Ðối vị có tri kiến.
Chư Phật đã loại bỏ
Tụng hát các kệ chú,
Chân thật niệm Chánh pháp,
Sở hành là như vậy.
Bậc Ðại Sĩ vẹn toàn,
Cúng dường phải khác biệt.
Ðoạn tận các lậu hoặc,
Trạo hối được lắng dịu,
Với những bậc như vậy,
Cơm nước phải cúng dường,
Thật chính là phước điền,
Cho những ai cầu phước.
Vi-n 12 —Vậy thưa Tôn giả Gotama, con phải cho ai vật cúng còn lại này?
Vi-n 13 —Này Bà-la-môn, trong toàn thế giới chư Thiên, Ma giới, Phạm thiên giới, trong chúng Sa-môn và Bà-la-môn, trong thế giới chư Thiên và loài Người, Ta không thấy một ai ăn vật cúng còn lại này có thể tiêu hóa được, ngoại trừ Như Lai hay đệ tử Như Lai. Này Bà-la-môn, vậy này Bà-la-môn, hãy quăng vật cúng còn lại này tại chỗ không có cỏ xanh, hay nhận chìm xuống nước, nơi không có loài hữu tình.
Vi-n 14 Rồi Bà-la-môn Sundarika Bharadvāja nhận chìm vật cúng còn lại ấy vào trong nước, nơi không có loài hữu tình.
Vi-n 15 Vật cúng ấy khi được quăng vào trong nước liền xì lên, sôi lên, phun hơi và phun khói lên. Ví như lưỡi cày đốt nóng cả ngày, khi bỏ vào trong nước, bèn xì lên, sôi lên, phun hơi và phun khói lên. Cũng vậy, vật cúng còn lại ấy khi được quăng vào trong nước bèn xì lên, sôi lên, phun hơi và phun khói lên.
Vi-n 16 Rồi Bà-la-môn Sundarika Bharadvāja hoảng hốt, lông tóc dựng ngược, đi đến Thế Tôn; sau khi đến liền đứng một bên.
Vi-n 17 Thế Tôn nói lên bài kệ cho Bà-la-môn Sundarika Bharadvāja đang đứng một bên:
Này Bà-la-môn kia,
Chớ có nghĩ gì tịnh.
Sự sắp đặt củi lửa,
Như vậy chỉ bề ngoài.
Bậc thiện nhân dạy rằng,
Người ấy không thanh tịnh,
Với những ai chỉ muốn
Thanh tịnh mặt bên ngoài.
Này Bà-la-môn kia,
Ta từ bỏ củi lửa,
Ta chỉ nhen nhúm lên
Ngọn lửa từ nội tâm,
Ngọn lửa thường hằng cháy,
Thường nồng cháy nhiệt tình.
Ta là bậc La-hán,
Ta sống đời Phạm hạnh.
Này Bà-la-môn kia,
Người mang ách kiêu mạn,
Phẫn nộ là khói hương,
Vọng ngôn là tro tàn,
Lưỡi là chiếc muỗng tế,
Tâm là chỗ tế tự,
Tự ngã là ngọn lửa.
Còn người khéo điều phục,
Chánh pháp là ao hồ,
Giới là bến nước tắm,
Không cấu uế, trong sạch,
Ðược thiện nhơn tán thán,
Là chỗ bậc có trí,
Thường tắm, trừ uế tạp.
Khi tay chân trong sạch,
Họ qua bờ bên kia.
Chánh pháp là chân lý,
Tự chế là Phạm hạnh,
Chính con đường trung đạo,
Giúp đạt tối thắng vị,
Ðảnh lễ bậc trực tâm,
Ta gọi tùy pháp hành.
Vi-n 18 Khi được nói vậy, Bà-la-môn Sundarika Bharadvāja bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! …
Vi-n 19 Và Tôn giả Bharadvāja trở thành một vị A-la-hán nữa.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu viharati sundarikāya nadiyā tīre.
Tena kho pana samayena sundarikabhāradvājo brāhmaṇo sundarikāya nadiyā tīre aggiṁ juhati, aggihuttaṁ paricarati.
Atha kho sundarikabhāradvājo brāhmaṇo aggiṁ juhitvā aggihuttaṁ paricaritvā uṭṭhāyāsanā samantā catuddisā anuvilokesi:
“ko nu kho imaṁ habyasesaṁ bhuñjeyyā”ti?
Addasā kho sundarikabhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṁ aññatarasmiṁ rukkhamūle sasīsaṁ pārutaṁ nisinnaṁ.
Disvāna vāmena hatthena habyasesaṁ gahetvā dakkhiṇena hatthena kamaṇḍaluṁ gahetvā yena bhagavā tenupasaṅkami.
Atha kho bhagavā sundarikabhāradvājassa brāhmaṇassa padasaddena sīsaṁ vivari.
Atha kho sundarikabhāradvājo brāhmaṇo “muṇḍo ayaṁ bhavaṁ, muṇḍako ayaṁ bhavan”ti tatova puna nivattitukāmo ahosi.
Atha kho sundarikabhāradvājassa brāhmaṇassa etadahosi:
“muṇḍāpi hi idhekacce brāhmaṇā bhavanti;
yannūnāhaṁ taṁ upasaṅkamitvā jātiṁ puccheyyan”ti.
Atha kho sundarikabhāradvājo brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca:
“kiṁjacco bhavan”ti?
“Mā jātiṁ puccha caraṇañca puccha,
Kaṭṭhā have jāyati jātavedo;
Nīcākulīnopi muni dhitimā,
Ājānīyo hoti hirīnisedho.
Saccena danto damasā upeto,
Vedantagū vusitabrahmacariyo;
Yaññopanīto tamupavhayetha,
Kālena so juhati dakkhiṇeyye”ti.
“Addhā suyiṭṭhaṁ suhutaṁ mama yidaṁ,
Yaṁ tādisaṁ vedagumaddasāmi;
Tumhādisānañhi adassanena,
Añño jano bhuñjati habyasesan”ti.
“Bhuñjatu bhavaṁ gotamo.
Brāhmaṇo bhavan”ti.
“Gāthābhigītaṁ me abhojaneyyaṁ,
Sampassataṁ brāhmaṇa nesa dhammo;
Gāthābhigītaṁ panudanti buddhā,
Dhamme sati brāhmaṇa vuttiresā.
Aññena ca kevalinaṁ mahesiṁ,
Khīṇāsavaṁ kukkuccavūpasantaṁ;
Annena pānena upaṭṭhahassu,
Khettañhi taṁ puññapekkhassa hotī”ti.
“Atha kassa cāhaṁ, bho gotama, imaṁ habyasesaṁ dammī”ti?
“Na khvāhaṁ, brāhmaṇa, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya yasseso habyaseso bhutto sammā pariṇāmaṁ gaccheyya aññatra, brāhmaṇa, tathāgatassa vā tathāgatasāvakassa vā.
Tena hi tvaṁ, brāhmaṇa, taṁ habyasesaṁ appaharite vā chaḍḍehi appāṇake vā udake opilāpehī”ti.
Atha kho sundarikabhāradvājo brāhmaṇo taṁ habyasesaṁ appāṇake udake opilāpesi.
Atha kho so habyaseso udake pakkhitto cicciṭāyati ciṭiciṭāyati sandhūpāyati sampadhūpāyati.
Seyyathāpi nāma phālo divasaṁsantatto udake pakkhitto cicciṭāyati ciṭiciṭāyati sandhūpāyati sampadhūpāyati;
evameva so habyaseso udake pakkhitto cicciṭāyati ciṭiciṭāyati sandhūpāyati sampadhūpāyati.
Atha kho sundarikabhāradvājo brāhmaṇo saṁviggo lomahaṭṭhajāto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ aṭṭhāsi.
Ekamantaṁ ṭhitaṁ kho sundarikabhāradvājaṁ brāhmaṇaṁ bhagavā gāthāhi ajjhabhāsi:
“Mā brāhmaṇa dāru samādahāno,
Suddhiṁ amaññi bahiddhā hi etaṁ;
Na hi tena suddhiṁ kusalā vadanti,
Yo bāhirena parisuddhimicche.
Hitvā ahaṁ brāhmaṇa dārudāhaṁ,
Ajjhattamevujjalayāmi jotiṁ;
Niccagginī niccasamāhitatto,
Arahaṁ ahaṁ brahmacariyaṁ carāmi.
Māno hi te brāhmaṇa khāribhāro,
Kodho dhumo bhasmani mosavajjaṁ;
Jivhā sujā hadayaṁ jotiṭhānaṁ,
Attā sudanto purisassa joti.
Dhammo rahado brāhmaṇa sīlatittho,
Anāvilo sabbhi sataṁ pasattho;
Yattha have vedaguno sinātā,
Anallagattāva taranti pāraṁ.
Saccaṁ dhammo saṁyamo brahmacariyaṁ,
Majjhe sitā brāhmaṇa brahmapatti;
Sa tujjubhūtesu namo karohi,
Tamahaṁ naraṁ dhammasārīti brūmī”ti.
Evaṁ vutte, sundarikabhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bho gotama …pe…
aññataro ca panāyasmā bhāradvājo arahataṁ ahosīti.
At one time the Buddha was staying in the Kosalan lands on the bank of the Sundarikā river.
Now at that time the brahmin Bhāradvāja of Sundarikā was serving the sacred flame and performing the fire sacrifice on the bank of the Sundarikā.
Then he surveyed the four quarters, wondering,
“Now who might eat the leftovers of this oblation?”
He saw the Buddha meditating at the root of a certain tree with his robe pulled over his head.
Taking the leftovers of the oblation in his left hand and a pitcher in the right he approached the Buddha.
When he heard Bhāradvāja of Sundarikā’s footsteps the Buddha uncovered his head.
Bhāradvāja of Sundarikā thought, “This man is shaven, he is shaven!” And he wanted to turn back.
But he thought,
“Even some brahmins are shaven.
Why don’t I go to him and ask about his birth?”
Then the brahmin Bhāradvāja of Sundarikā went up to the Buddha, and said to him,
“Sir, what are you by birth?”
“Don’t ask about birth, ask about conduct;
for the fire of Jātaveda is born from sticks.
A steadfast sage, even though from a low class family,
is a thoroughbred checked by conscience.
Tamed by truth, fulfilled by taming,
a complete knowledge master who has completed the spiritual journey—
that’s who a sacrificer should woo,
and offer a timely oblation to one worthy of a religious donation.”
“My sacrificial offering must have been well performed,
since I have met such a knowledge master!
It’s because I’d never met anyone like you
that others ate the leftover oblation.
May the worthy Gotama eat!
The worthy one is a brahmin.”
“Food enchanted by a verse isn’t fit for me to eat.
That’s not the principle of those who see, brahmin.
The Buddhas cast aside things enchanted with verses.
Since there is such a principle, brahmin, that’s how they live.
Serve with other food and drink
the consummate one, the great seer,
with defilements ended and remorse stilled.
For he is the field for the seeker of merit.”
“Then, Mister Gotama, to whom should I give the leftovers of this oblation?”
“Brahmin, I don’t see anyone in this world—with its gods, Māras, and Divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—who can properly digest these leftovers, except for the Realized One or one of his disciples.
Well then, brahmin, throw out those leftovers where there is little that grows, or drop them into water that has no living creatures.”
So Bhāradvāja of Sundarikā dropped the leftover oblation in water that had no living creatures.
And when those leftovers were placed in the water, they sizzled and hissed, steaming and fuming.
Suppose there was an iron cauldron that had been heated all day. If you placed it in the water, it would sizzle and hiss, steaming and fuming.
In the same way, when those leftovers were placed in the water, they sizzled and hissed, steaming and fuming.
Then the brahmin Bhāradvāja of Sundarikā, shocked and awestruck, went up to the Buddha, and stood to one side.
The Buddha addressed him in verse:
“When you’re kindling the wood, brahmin,
don’t imagine this is purity, for it’s just external.
For those who are skilled say this is no way to purity,
when one seeks purity in externals.
I’ve given up kindling firewood, brahmin,
now I light only the inner flame.
Always blazing, always serene,
I am a perfected one leading the spiritual life.
Conceit, brahmin, is the burden of your pack,
anger your smoke, and lies your ashes.
The tongue is the ladle, the heart the fireplace;
a well-tamed self is a person’s light.
The teaching is a lake, brahmin, into which ethics are the stairs,
unclouded, praised by the fine to the good.
There the knowledge masters go to bathe,
and cross to the far shore with dry limbs.
Truth, principle, restraint, the spiritual life,
attaining divinity based on the middle, brahmin—
pay homage to the upright ones.
I declare that man one who follows the teaching.”
When he had spoken, the brahmin Bhāradvāja of Sundarikā said to the Buddha,
“Excellent, worthy Gotama …” …
And Venerable Bhāradvāja became one of the perfected.
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở giữa dân tộc Kosala, trên bờ sông Sundarika.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ Bà-la-môn Sundarika Bharadvāja tế lửa trên bờ sông Sundarika, làm lễ cúng dường lửa.
Vi-n 3 Rồi Bà-la-môn Sundarika Bharadvāja sau khi tế lửa, làm lễ cúng dường lửa xong, từ chỗ ngồi đứng dậy, nhìn xung quanh tất cả bốn phương và nghĩ: “Ai có thể hưởng họ món ăn cúng tế còn lại này?”
Vi-n 4 Bà-la-môn Sundarika Bharadvāja thấy Thế Tôn đang ngồi dưới gốc cây, đầu được bao trùm, thấy vậy, tay trái cầm món ăn cúng tế còn lại, tay phải cầm bình nước đi đến Thế Tôn.
Vi-n 5 Và Thế Tôn nghe tiếng chân của Bà-la-môn Sundarika Bharadvāja liền tháo đồ trùm ở đầu.
Vi-n 6 Và Bà-la-môn Sundarika Bharadvāja nghĩ: “Ðầu vị này trọc, vị này là người trọc đầu”, nghĩ vậy, muốn trở lui.
Vi-n 7 Rồi Bà-la-môn Sundarika Bharadvāja lại suy nghĩ: “Trọc đầu ở đây, một số Bà-la-môn cũng như vậy. Vậy ta hãy đến và hỏi vấn đề thọ sanh”.
Vi-n 8 Rồi Bà-la-môn Sundarika Bharadvāja đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn:
—Thọ sanh Tôn giả là gì?
Vi-n 9 (Thế Tôn):
Chớ hỏi về thọ sanh,
Hãy hỏi về sở hành.
Tùy theo mọi thứ củi,
Ngọn lửa được sanh khởi.
Dầu thuộc nhà hạ tiện,
Bậc ẩn sĩ tinh cần,
Ðược xem như thượng sanh,
Biết tàm quý, trừ ác.
Ðiều thuận bởi chân lý,
Thuần thục trong hành trì,
Thông đạt các Thánh kinh,
Phạm hạnh được viên thành.
Tế vật đã đem lại,
Hãy cầu khẩn vị ấy,
Lễ tế làm đúng thời,
Vị ấy xứng cúng dường.
Vi-n 10 Sundarika:
Vật cúng này của con,
Thật sự khéo cúng dường,
Nay con đã thấy được,
Bậc sáng suốt như Ngài.
Con không thấy một ai
Có thể sánh được Ngài,
Không có người nào khác
Thọ hưởng vật cúng này.
Tôn giả Gotama,
Hãy thọ hưởng vật cúng.
Ngài thật là Bà-la-môn,
Là bậc đáng tôn trọng.
Vi-n 11 (Thế Tôn):
Ta không có hưởng thọ,
Vì tụng hát kệ chú,
Thường pháp không phải vậy,
Ðối vị có tri kiến.
Chư Phật đã loại bỏ
Tụng hát các kệ chú,
Chân thật niệm Chánh pháp,
Sở hành là như vậy.
Bậc Ðại Sĩ vẹn toàn,
Cúng dường phải khác biệt.
Ðoạn tận các lậu hoặc,
Trạo hối được lắng dịu,
Với những bậc như vậy,
Cơm nước phải cúng dường,
Thật chính là phước điền,
Cho những ai cầu phước.
Vi-n 12 —Vậy thưa Tôn giả Gotama, con phải cho ai vật cúng còn lại này?
Vi-n 13 —Này Bà-la-môn, trong toàn thế giới chư Thiên, Ma giới, Phạm thiên giới, trong chúng Sa-môn và Bà-la-môn, trong thế giới chư Thiên và loài Người, Ta không thấy một ai ăn vật cúng còn lại này có thể tiêu hóa được, ngoại trừ Như Lai hay đệ tử Như Lai. Này Bà-la-môn, vậy này Bà-la-môn, hãy quăng vật cúng còn lại này tại chỗ không có cỏ xanh, hay nhận chìm xuống nước, nơi không có loài hữu tình.
Vi-n 14 Rồi Bà-la-môn Sundarika Bharadvāja nhận chìm vật cúng còn lại ấy vào trong nước, nơi không có loài hữu tình.
Vi-n 15 Vật cúng ấy khi được quăng vào trong nước liền xì lên, sôi lên, phun hơi và phun khói lên. Ví như lưỡi cày đốt nóng cả ngày, khi bỏ vào trong nước, bèn xì lên, sôi lên, phun hơi và phun khói lên. Cũng vậy, vật cúng còn lại ấy khi được quăng vào trong nước bèn xì lên, sôi lên, phun hơi và phun khói lên.
Vi-n 16 Rồi Bà-la-môn Sundarika Bharadvāja hoảng hốt, lông tóc dựng ngược, đi đến Thế Tôn; sau khi đến liền đứng một bên.
Vi-n 17 Thế Tôn nói lên bài kệ cho Bà-la-môn Sundarika Bharadvāja đang đứng một bên:
Này Bà-la-môn kia,
Chớ có nghĩ gì tịnh.
Sự sắp đặt củi lửa,
Như vậy chỉ bề ngoài.
Bậc thiện nhân dạy rằng,
Người ấy không thanh tịnh,
Với những ai chỉ muốn
Thanh tịnh mặt bên ngoài.
Này Bà-la-môn kia,
Ta từ bỏ củi lửa,
Ta chỉ nhen nhúm lên
Ngọn lửa từ nội tâm,
Ngọn lửa thường hằng cháy,
Thường nồng cháy nhiệt tình.
Ta là bậc La-hán,
Ta sống đời Phạm hạnh.
Này Bà-la-môn kia,
Người mang ách kiêu mạn,
Phẫn nộ là khói hương,
Vọng ngôn là tro tàn,
Lưỡi là chiếc muỗng tế,
Tâm là chỗ tế tự,
Tự ngã là ngọn lửa.
Còn người khéo điều phục,
Chánh pháp là ao hồ,
Giới là bến nước tắm,
Không cấu uế, trong sạch,
Ðược thiện nhơn tán thán,
Là chỗ bậc có trí,
Thường tắm, trừ uế tạp.
Khi tay chân trong sạch,
Họ qua bờ bên kia.
Chánh pháp là chân lý,
Tự chế là Phạm hạnh,
Chính con đường trung đạo,
Giúp đạt tối thắng vị,
Ðảnh lễ bậc trực tâm,
Ta gọi tùy pháp hành.
Vi-n 18 Khi được nói vậy, Bà-la-môn Sundarika Bharadvāja bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! …
Vi-n 19 Và Tôn giả Bharadvāja trở thành một vị A-la-hán nữa.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu viharati sundarikāya nadiyā tīre.
Tena kho pana samayena sundarikabhāradvājo brāhmaṇo sundarikāya nadiyā tīre aggiṁ juhati, aggihuttaṁ paricarati.
Atha kho sundarikabhāradvājo brāhmaṇo aggiṁ juhitvā aggihuttaṁ paricaritvā uṭṭhāyāsanā samantā catuddisā anuvilokesi:
“ko nu kho imaṁ habyasesaṁ bhuñjeyyā”ti?
Addasā kho sundarikabhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṁ aññatarasmiṁ rukkhamūle sasīsaṁ pārutaṁ nisinnaṁ.
Disvāna vāmena hatthena habyasesaṁ gahetvā dakkhiṇena hatthena kamaṇḍaluṁ gahetvā yena bhagavā tenupasaṅkami.
Atha kho bhagavā sundarikabhāradvājassa brāhmaṇassa padasaddena sīsaṁ vivari.
Atha kho sundarikabhāradvājo brāhmaṇo “muṇḍo ayaṁ bhavaṁ, muṇḍako ayaṁ bhavan”ti tatova puna nivattitukāmo ahosi.
Atha kho sundarikabhāradvājassa brāhmaṇassa etadahosi:
“muṇḍāpi hi idhekacce brāhmaṇā bhavanti;
yannūnāhaṁ taṁ upasaṅkamitvā jātiṁ puccheyyan”ti.
Atha kho sundarikabhāradvājo brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca:
“kiṁjacco bhavan”ti?
“Mā jātiṁ puccha caraṇañca puccha,
Kaṭṭhā have jāyati jātavedo;
Nīcākulīnopi muni dhitimā,
Ājānīyo hoti hirīnisedho.
Saccena danto damasā upeto,
Vedantagū vusitabrahmacariyo;
Yaññopanīto tamupavhayetha,
Kālena so juhati dakkhiṇeyye”ti.
“Addhā suyiṭṭhaṁ suhutaṁ mama yidaṁ,
Yaṁ tādisaṁ vedagumaddasāmi;
Tumhādisānañhi adassanena,
Añño jano bhuñjati habyasesan”ti.
“Bhuñjatu bhavaṁ gotamo.
Brāhmaṇo bhavan”ti.
“Gāthābhigītaṁ me abhojaneyyaṁ,
Sampassataṁ brāhmaṇa nesa dhammo;
Gāthābhigītaṁ panudanti buddhā,
Dhamme sati brāhmaṇa vuttiresā.
Aññena ca kevalinaṁ mahesiṁ,
Khīṇāsavaṁ kukkuccavūpasantaṁ;
Annena pānena upaṭṭhahassu,
Khettañhi taṁ puññapekkhassa hotī”ti.
“Atha kassa cāhaṁ, bho gotama, imaṁ habyasesaṁ dammī”ti?
“Na khvāhaṁ, brāhmaṇa, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya yasseso habyaseso bhutto sammā pariṇāmaṁ gaccheyya aññatra, brāhmaṇa, tathāgatassa vā tathāgatasāvakassa vā.
Tena hi tvaṁ, brāhmaṇa, taṁ habyasesaṁ appaharite vā chaḍḍehi appāṇake vā udake opilāpehī”ti.
Atha kho sundarikabhāradvājo brāhmaṇo taṁ habyasesaṁ appāṇake udake opilāpesi.
Atha kho so habyaseso udake pakkhitto cicciṭāyati ciṭiciṭāyati sandhūpāyati sampadhūpāyati.
Seyyathāpi nāma phālo divasaṁsantatto udake pakkhitto cicciṭāyati ciṭiciṭāyati sandhūpāyati sampadhūpāyati;
evameva so habyaseso udake pakkhitto cicciṭāyati ciṭiciṭāyati sandhūpāyati sampadhūpāyati.
Atha kho sundarikabhāradvājo brāhmaṇo saṁviggo lomahaṭṭhajāto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ aṭṭhāsi.
Ekamantaṁ ṭhitaṁ kho sundarikabhāradvājaṁ brāhmaṇaṁ bhagavā gāthāhi ajjhabhāsi:
“Mā brāhmaṇa dāru samādahāno,
Suddhiṁ amaññi bahiddhā hi etaṁ;
Na hi tena suddhiṁ kusalā vadanti,
Yo bāhirena parisuddhimicche.
Hitvā ahaṁ brāhmaṇa dārudāhaṁ,
Ajjhattamevujjalayāmi jotiṁ;
Niccagginī niccasamāhitatto,
Arahaṁ ahaṁ brahmacariyaṁ carāmi.
Māno hi te brāhmaṇa khāribhāro,
Kodho dhumo bhasmani mosavajjaṁ;
Jivhā sujā hadayaṁ jotiṭhānaṁ,
Attā sudanto purisassa joti.
Dhammo rahado brāhmaṇa sīlatittho,
Anāvilo sabbhi sataṁ pasattho;
Yattha have vedaguno sinātā,
Anallagattāva taranti pāraṁ.
Saccaṁ dhammo saṁyamo brahmacariyaṁ,
Majjhe sitā brāhmaṇa brahmapatti;
Sa tujjubhūtesu namo karohi,
Tamahaṁ naraṁ dhammasārīti brūmī”ti.
Evaṁ vutte, sundarikabhāradvājo brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bho gotama …pe…
aññataro ca panāyasmā bhāradvājo arahataṁ ahosīti.