Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Sāvatthī.
I
Vi-n 2 Rồi Thế Tôn gọi Tôn giả Sāriputta:
—Này Sāriputta, trong kinh Pārāyaṇa, đoạn các câu hỏi của Ajita, có bài:
Thuần thục pháp hữu vi,
Ở đây nhiều hữu học,
Trí tuệ những vị ấy,
Trong uy nghi của họ,
Hãy đáp lời ta hỏi,
Nói lên, này Thân hữu!
Này Sāriputta, lời nói tóm tắt này, ý nghĩa cần phải được nhận hiểu một cách rộng rãi như thế nào?
Ðược nói vậy, Tôn giả Sāriputta giữ im lặng.
Vi-n 3 Lần thứ hai, Thế Tôn gọi Tôn giả Sāriputta… Lần thứ hai, Tôn giả Sāriputta giữ im lặng.
Vi-n 4 Lần thứ ba, Thế Tôn gọi Tôn giả Sāriputta:
—Này Sāriputta, trong kinh Pārāyaṇa, đoạn các câu hỏi của Ajita, có bài:
Thuần thục pháp hữu vi,
Ở đây nhiều hữu học,
Trí tuệ những vị ấy,
Trong uy nghi của họ,
Hãy đáp lời ta hỏi,
Nói lên, này Thân hữu!
Này Sāriputta, lời nói tóm tắt này, ý nghĩa cần phải được nhận hiểu một cách rộng rãi như thế nào?
Lần thứ ba, Tôn giả Sāriputta giữ im lặng.
II
Vi-n 5 —Này Sāriputta, ông có thấy cái này được sinh thành? Này Sāriputta, ông có thấy cái này được sinh thành?
Vi-n 6 —Cái này được sinh thành. Bạch Thế Tôn, vị ấy với chánh trí tuệ thấy như chơn cái này được sinh thành. Sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, lại thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với cái được sinh thành, vị ấy thấy với chánh trí tuệ, sự tục sanh do một loại đồ ăn. Sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ sự tục sanh do một loại đồ ăn, vị ấy lại thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt sự tục sanh do một loại đồ ăn.
Do sự đoạn diệt của một loại đồ ăn, cái được sinh thành ấy phải bị sự đoạn diệt, vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ. Do sự đoạn diệt một loại đồ ăn, cái được sinh thành ấy phải bị đoạn diệt. Sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, vị ấy thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sự vật phải bị đoạn diệt. Như vậy, bạch Thế Tôn, là bậc hữu học.
Vi-n 7 Và bạch Thế Tôn, như thế nào là thuần thục pháp hữu vi? Bạch Thế Tôn, vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ cái này được sinh thành. “Cái này được sinh thành”; sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, do sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với cái được sinh thành, vị ấy được giải thoát không có chấp thủ. Vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ sự tục sanh do một loại đồ ăn. Sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ sự tục sanh do một loại đồ ăn, do sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sự tục sanh do một loại đồ ăn, vị ấy được giải thoát, không chấp thủ.
Do sự đoạn diệt của một loại đồ ăn, cái được sinh thành ấy phải bị đoạn diệt, vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ. Do sự đoạn diệt một loại đồ ăn, cái được sinh thành phải bị đoạn diệt; sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, do sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sự vật phải bị đoạn diệt, vị ấy được giải thoát, không có chấp thủ. Như vậy, bạch Thế Tôn, là thuần thục pháp hữu vi.
Vi-n 8 Như vậy, bạch Thế Tôn, như đã được nói trong kinh Pārāyaṇa, đoạn các câu hỏi của Ajita, có bài:
Thuần thục pháp hữu vi,
Ở đây nhiều hữu học,
Trí tuệ những vị ấy,
Trong uy nghi của họ,
Hãy đáp lời ta hỏi,
Nói lên, này Thân hữu!
Bạch Thế Tôn, lời nói tóm tắt này, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
III
Vi-n 9 —Lành thay, lành thay! Cái này được sinh thành, này Sāriputta, vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ. Cái này được sinh thành; sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, lại thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt, đối với cái được sinh thành. Vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ, sự tục sanh do một loại đồ ăn. Sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, sự tục sanh do một loại đồ ăn, lại thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sự tục sanh do một loại đồ ăn.
Do sự đoạn diệt của một loại đồ ăn, cái được sinh thành ấy phải bị đoạn diệt, vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ. Do sự đoạn diệt với một loại đồ ăn, cái được sinh thành ấy phải bị đoạn diệt; sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, vị ấy thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sự vật phải bị đoạn diệt.
Như vậy, này Sāriputta, là bậc hữu học.
Vi-n 10 Và này Sāriputta, như thế nào là thuần thục pháp hữu vi? Này Sāriputta, cái này được sinh thành, vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ. Cái này được sinh thành; sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, do sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với cái được sinh thành, vị ấy được giải thoát, không có chấp thủ.
Vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ sự tục sanh do một loại đồ ăn. Sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, sự tục sanh do một loại đồ ăn, đối với sự tục sanh do một loại đồ ăn, do sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt, vị ấy được giải thoát, không chấp thủ.
Do sự đoạn diệt một loại đồ ăn, cái được sinh thành ấy phải bị đoạn diệt, vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ. Do sự đoạn diệt một loại đồ ăn, cái được sinh thành phải bị đoạn diệt; sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, do sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sự vật phải bị đoạn diệt, vị ấy được giải thoát không có chấp thủ.
Như vậy, này Sāriputta, là thuần thục pháp hữu vi.
Vi-n 11 Như vậy, này Sāriputta, như đã được nói trong kinh Pārāyaṇa, đoạn các câu hỏi của Ajita, có bài:
Thuần thục pháp hữu vi,
Ở đây nhiều hữu học,
Trí tuệ những vị ấy,
Trong uy nghi của họ,
Hãy đáp lời ta hỏi,
Nói lên, này Thân hữu!
Này Sāriputta, lời nói tóm tắt này cần hiểu ý nghĩa một cách, rộng rãi như vậy.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati.
Tatra kho bhagavā āyasmantaṁ sāriputtaṁ āmantesi:
“vuttamidaṁ, sāriputta, pārāyane ajitapañhe:
‘Ye ca saṅkhātadhammāse,
ye ca sekkhā puthū idha;
Tesaṁ me nipako iriyaṁ,
puṭṭho pabrūhi mārisā’ti.
Imassa nu kho, sāriputta, saṅkhittena bhāsitassa kathaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti?
Evaṁ vutte, āyasmā sāriputto tuṇhī ahosi.
Dutiyampi kho bhagavā āyasmantaṁ sāriputtaṁ āmantesi …pe…
dutiyampi kho āyasmā sāriputto tuṇhī ahosi.
Tatiyampi kho bhagavā āyasmantaṁ sāriputtaṁ āmantesi:
“vuttamidaṁ, sāriputta, pārāyane ajitapañhe:
‘Ye ca saṅkhātadhammāse,
ye ca sekkhā puthū idha;
Tesaṁ me nipako iriyaṁ,
puṭṭho pabrūhi mārisā’ti.
Imassa nu kho, sāriputta, saṅkhittena bhāsitassa kathaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti?
Tatiyampi kho āyasmā sāriputto tuṇhī ahosi.
“Bhūtamidanti, sāriputta, passasī”ti?
“Bhūtamidanti, bhante, yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Bhūtamidanti yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā bhūtassa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti.
Tadāhārasambhavanti yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Tadāhārasambhavanti yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā āhārasambhavassa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti.
Tadāhāranirodhā yaṁ bhūtaṁ taṁ nirodhadhammanti yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Tadāhāranirodhā yaṁ bhūtaṁ taṁ nirodhadhammanti yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā nirodhadhammassa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti.
Evaṁ kho, bhante, sekkho hoti.
Kathañca, bhante, saṅkhātadhammo hoti?
Bhūtamidanti, bhante, yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Bhūtamidanti yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā bhūtassa nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimutto hoti.
Tadāhārasambhavanti yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Tadāhārasambhavanti yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā āhārasambhavassa nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimutto hoti.
Tadāhāranirodhā yaṁ bhūtaṁ taṁ nirodhadhammanti yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Tadāhāranirodhā yaṁ bhūtaṁ taṁ nirodhadhammanti yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā nirodhadhammassa nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimutto hoti.
Evaṁ kho, bhante, saṅkhātadhammo hoti.
Iti kho, bhante, yaṁ taṁ vuttaṁ pārāyane ajitapañhe:
‘Ye ca saṅkhātadhammāse,
ye ca sekkhā puthū idha;
Tesaṁ me nipako iriyaṁ,
puṭṭho pabrūhi mārisā’ti.
Imassa khvāhaṁ, bhante, saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmī”ti.
“Sādhu sādhu, sāriputta, bhūtamidanti, sāriputta, yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Bhūtamidanti yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā bhūtassa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti.
Tadāhārasambhavanti yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Tadāhārasambhavanti yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā āhārasambhavassa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti.
Tadāhāranirodhā yaṁ bhūtaṁ taṁ nirodhadhammanti yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Tadāhāranirodhā yaṁ bhūtaṁ taṁ nirodhadhammanti yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā nirodhadhammassa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti.
Evaṁ kho, sāriputta, sekkho hoti.
Kathañca, sāriputta, saṅkhātadhammo hoti?
Bhūtamidanti, sāriputta, yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Bhūtamidanti yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā bhūtassa nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimutto hoti.
Tadāhārasambhavanti yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Tadāhārasambhavanti yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā āhārasambhavassa nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimutto hoti.
Tadāhāranirodhā yaṁ bhūtaṁ taṁ nirodhadhammanti yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Tadāhāranirodhā yaṁ bhūtaṁ taṁ nirodhadhammanti yathābhūtaṁ sammappaññā disvā nirodhadhammassa nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimutto hoti.
Evaṁ kho, sāriputta, saṅkhātadhammo hoti.
Iti kho, sāriputta, yaṁ taṁ vuttaṁ pārāyane ajitapañhe:
‘Ye ca saṅkhātadhammāse,
ye ca sekkhā puthū idha;
Tesaṁ me nipako iriyaṁ,
puṭṭho pabrūhi mārisā’ti.
Imassa kho, sāriputta, saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti.
Paṭhamaṁ.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling at Savatthī.… There the Blessed One addressed the Venerable Sāriputta thus: “Sāriputta, in ‘The Questions of Ajita’ of the Parayana it is said:
SC 2‘Those who have comprehended the Dhamma,
And the manifold trainees here:
Asked about their way of conduct,
Being discreet, tell me, dear sir.’
SC 3How should the meaning of this, stated in brief, be understood in detail?”
SC 4When this was said, the Venerable Sāriputta was silent. A second time and a third time the Blessed One addressed the Venerable Sāriputta thus: “Sāriputta, in ‘The Questions of Ajita’ in the Parayana it is said … sn.ii.48 How should the meaning of this, stated in brief, be understood in detail?” A second time and a third time the Venerable Sāriputta was silent.
SC 5“Sāriputta, do you see: ‘This has come to be’? Sāriputta, do you see: ‘This has come to be’?”
SC 6“Venerable sir, one sees as it really is with correct wisdom: ‘This has come to be.’ Having seen as it really is with correct wisdom: ‘This has come to be,’ one is practising for the purpose of revulsion towards what has come to be, for its fading away and cessation. One sees as it really is with correct wisdom: ‘Its origination occurs with that as nutriment.’ Having seen as it really is with correct wisdom: ‘Its origination occurs with that as nutriment, ’ one is practising for the purpose of revulsion towards its origination through nutriment, for its fading away and cessation. One sees as it really is with correct wisdom: ‘With the cessation of that nutriment, what has come to be is subject to cessation.’ Having seen as it really is with correct wisdom: ‘With the cessation of that nutriment, what has come to be is subject to cessation, ’ one is practising for the purpose of revulsion towards what is subject to cessation, for its fading away and cessation. It is in such a way that one is a trainee.
SC 7“And how, venerable sir, has one comprehended the Dhamma? Venerable sir, one sees as it really is with correct wisdom: ‘This has come to be.’ Having seen as it really is with correct wisdom: ‘This has come to be,’ through revulsion towards what has come to be, through its fading away and cessation, one is liberated by nonclinging. One sees as it really is with correct wisdom: ‘Its origination occurs with that as nutriment.’ Having seen as it really is with correct wisdom: ‘Its origination occurs with that as nutriment,’ through revulsion towards its origination through nutriment, through its fading away and cessation, one is liberated by nonclinging. One sees as it really is with correct wisdom: ‘With the cessation of that nutriment, what has come to be is subject to cessation.’ Having seen as it really is with correct wisdom: ‘With the cessation of that nutriment, what has come to be is subject to cessation,’ through revulsion towards what is subject to cessation, through its fading away sn.ii.49 and cessation, one is liberated by nonclinging. It is in such a way that one has comprehended the Dhamma.
SC 8“Thus, venerable sir, when it is said in ‘The Questions of Ajita’ of the Parayana:
SC 9‘Those who have comprehended the Dhamma,
And the manifold trainees here:
Asked about their way of conduct,
Being discreet, tell me, dear sir.’—
it is in such a way that I understand in detail the meaning of this that was stated in brief.”
SC 10“Good, good, Sāriputta!… the Buddha repeats here the entire statement of the Venerable Sāriputta sn.ii.50 … it is in such a way that the meaning of this, stated in brief, should be understood in detail.”
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Sāvatthī.
I
Vi-n 2 Rồi Thế Tôn gọi Tôn giả Sāriputta:
—Này Sāriputta, trong kinh Pārāyaṇa, đoạn các câu hỏi của Ajita, có bài:
Thuần thục pháp hữu vi,
Ở đây nhiều hữu học,
Trí tuệ những vị ấy,
Trong uy nghi của họ,
Hãy đáp lời ta hỏi,
Nói lên, này Thân hữu!
Này Sāriputta, lời nói tóm tắt này, ý nghĩa cần phải được nhận hiểu một cách rộng rãi như thế nào?
Ðược nói vậy, Tôn giả Sāriputta giữ im lặng.
Vi-n 3 Lần thứ hai, Thế Tôn gọi Tôn giả Sāriputta… Lần thứ hai, Tôn giả Sāriputta giữ im lặng.
Vi-n 4 Lần thứ ba, Thế Tôn gọi Tôn giả Sāriputta:
—Này Sāriputta, trong kinh Pārāyaṇa, đoạn các câu hỏi của Ajita, có bài:
Thuần thục pháp hữu vi,
Ở đây nhiều hữu học,
Trí tuệ những vị ấy,
Trong uy nghi của họ,
Hãy đáp lời ta hỏi,
Nói lên, này Thân hữu!
Này Sāriputta, lời nói tóm tắt này, ý nghĩa cần phải được nhận hiểu một cách rộng rãi như thế nào?
Lần thứ ba, Tôn giả Sāriputta giữ im lặng.
II
Vi-n 5 —Này Sāriputta, ông có thấy cái này được sinh thành? Này Sāriputta, ông có thấy cái này được sinh thành?
Vi-n 6 —Cái này được sinh thành. Bạch Thế Tôn, vị ấy với chánh trí tuệ thấy như chơn cái này được sinh thành. Sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, lại thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với cái được sinh thành, vị ấy thấy với chánh trí tuệ, sự tục sanh do một loại đồ ăn. Sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ sự tục sanh do một loại đồ ăn, vị ấy lại thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt sự tục sanh do một loại đồ ăn.
Do sự đoạn diệt của một loại đồ ăn, cái được sinh thành ấy phải bị sự đoạn diệt, vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ. Do sự đoạn diệt một loại đồ ăn, cái được sinh thành ấy phải bị đoạn diệt. Sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, vị ấy thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sự vật phải bị đoạn diệt. Như vậy, bạch Thế Tôn, là bậc hữu học.
Vi-n 7 Và bạch Thế Tôn, như thế nào là thuần thục pháp hữu vi? Bạch Thế Tôn, vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ cái này được sinh thành. “Cái này được sinh thành”; sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, do sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với cái được sinh thành, vị ấy được giải thoát không có chấp thủ. Vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ sự tục sanh do một loại đồ ăn. Sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ sự tục sanh do một loại đồ ăn, do sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sự tục sanh do một loại đồ ăn, vị ấy được giải thoát, không chấp thủ.
Do sự đoạn diệt của một loại đồ ăn, cái được sinh thành ấy phải bị đoạn diệt, vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ. Do sự đoạn diệt một loại đồ ăn, cái được sinh thành phải bị đoạn diệt; sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, do sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sự vật phải bị đoạn diệt, vị ấy được giải thoát, không có chấp thủ. Như vậy, bạch Thế Tôn, là thuần thục pháp hữu vi.
Vi-n 8 Như vậy, bạch Thế Tôn, như đã được nói trong kinh Pārāyaṇa, đoạn các câu hỏi của Ajita, có bài:
Thuần thục pháp hữu vi,
Ở đây nhiều hữu học,
Trí tuệ những vị ấy,
Trong uy nghi của họ,
Hãy đáp lời ta hỏi,
Nói lên, này Thân hữu!
Bạch Thế Tôn, lời nói tóm tắt này, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
III
Vi-n 9 —Lành thay, lành thay! Cái này được sinh thành, này Sāriputta, vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ. Cái này được sinh thành; sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, lại thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt, đối với cái được sinh thành. Vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ, sự tục sanh do một loại đồ ăn. Sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, sự tục sanh do một loại đồ ăn, lại thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sự tục sanh do một loại đồ ăn.
Do sự đoạn diệt của một loại đồ ăn, cái được sinh thành ấy phải bị đoạn diệt, vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ. Do sự đoạn diệt với một loại đồ ăn, cái được sinh thành ấy phải bị đoạn diệt; sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, vị ấy thực hành sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sự vật phải bị đoạn diệt.
Như vậy, này Sāriputta, là bậc hữu học.
Vi-n 10 Và này Sāriputta, như thế nào là thuần thục pháp hữu vi? Này Sāriputta, cái này được sinh thành, vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ. Cái này được sinh thành; sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, do sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với cái được sinh thành, vị ấy được giải thoát, không có chấp thủ.
Vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ sự tục sanh do một loại đồ ăn. Sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, sự tục sanh do một loại đồ ăn, đối với sự tục sanh do một loại đồ ăn, do sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt, vị ấy được giải thoát, không chấp thủ.
Do sự đoạn diệt một loại đồ ăn, cái được sinh thành ấy phải bị đoạn diệt, vị ấy thấy như chơn với chánh trí tuệ. Do sự đoạn diệt một loại đồ ăn, cái được sinh thành phải bị đoạn diệt; sau khi thấy như chơn với chánh trí tuệ, do sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sự vật phải bị đoạn diệt, vị ấy được giải thoát không có chấp thủ.
Như vậy, này Sāriputta, là thuần thục pháp hữu vi.
Vi-n 11 Như vậy, này Sāriputta, như đã được nói trong kinh Pārāyaṇa, đoạn các câu hỏi của Ajita, có bài:
Thuần thục pháp hữu vi,
Ở đây nhiều hữu học,
Trí tuệ những vị ấy,
Trong uy nghi của họ,
Hãy đáp lời ta hỏi,
Nói lên, này Thân hữu!
Này Sāriputta, lời nói tóm tắt này cần hiểu ý nghĩa một cách, rộng rãi như vậy.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati.
Tatra kho bhagavā āyasmantaṁ sāriputtaṁ āmantesi:
“vuttamidaṁ, sāriputta, pārāyane ajitapañhe:
‘Ye ca saṅkhātadhammāse,
ye ca sekkhā puthū idha;
Tesaṁ me nipako iriyaṁ,
puṭṭho pabrūhi mārisā’ti.
Imassa nu kho, sāriputta, saṅkhittena bhāsitassa kathaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti?
Evaṁ vutte, āyasmā sāriputto tuṇhī ahosi.
Dutiyampi kho bhagavā āyasmantaṁ sāriputtaṁ āmantesi …pe…
dutiyampi kho āyasmā sāriputto tuṇhī ahosi.
Tatiyampi kho bhagavā āyasmantaṁ sāriputtaṁ āmantesi:
“vuttamidaṁ, sāriputta, pārāyane ajitapañhe:
‘Ye ca saṅkhātadhammāse,
ye ca sekkhā puthū idha;
Tesaṁ me nipako iriyaṁ,
puṭṭho pabrūhi mārisā’ti.
Imassa nu kho, sāriputta, saṅkhittena bhāsitassa kathaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti?
Tatiyampi kho āyasmā sāriputto tuṇhī ahosi.
“Bhūtamidanti, sāriputta, passasī”ti?
“Bhūtamidanti, bhante, yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Bhūtamidanti yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā bhūtassa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti.
Tadāhārasambhavanti yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Tadāhārasambhavanti yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā āhārasambhavassa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti.
Tadāhāranirodhā yaṁ bhūtaṁ taṁ nirodhadhammanti yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Tadāhāranirodhā yaṁ bhūtaṁ taṁ nirodhadhammanti yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā nirodhadhammassa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti.
Evaṁ kho, bhante, sekkho hoti.
Kathañca, bhante, saṅkhātadhammo hoti?
Bhūtamidanti, bhante, yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Bhūtamidanti yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā bhūtassa nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimutto hoti.
Tadāhārasambhavanti yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Tadāhārasambhavanti yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā āhārasambhavassa nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimutto hoti.
Tadāhāranirodhā yaṁ bhūtaṁ taṁ nirodhadhammanti yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Tadāhāranirodhā yaṁ bhūtaṁ taṁ nirodhadhammanti yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā nirodhadhammassa nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimutto hoti.
Evaṁ kho, bhante, saṅkhātadhammo hoti.
Iti kho, bhante, yaṁ taṁ vuttaṁ pārāyane ajitapañhe:
‘Ye ca saṅkhātadhammāse,
ye ca sekkhā puthū idha;
Tesaṁ me nipako iriyaṁ,
puṭṭho pabrūhi mārisā’ti.
Imassa khvāhaṁ, bhante, saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmī”ti.
“Sādhu sādhu, sāriputta, bhūtamidanti, sāriputta, yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Bhūtamidanti yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā bhūtassa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti.
Tadāhārasambhavanti yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Tadāhārasambhavanti yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā āhārasambhavassa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti.
Tadāhāranirodhā yaṁ bhūtaṁ taṁ nirodhadhammanti yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Tadāhāranirodhā yaṁ bhūtaṁ taṁ nirodhadhammanti yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā nirodhadhammassa nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti.
Evaṁ kho, sāriputta, sekkho hoti.
Kathañca, sāriputta, saṅkhātadhammo hoti?
Bhūtamidanti, sāriputta, yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Bhūtamidanti yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā bhūtassa nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimutto hoti.
Tadāhārasambhavanti yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Tadāhārasambhavanti yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā āhārasambhavassa nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimutto hoti.
Tadāhāranirodhā yaṁ bhūtaṁ taṁ nirodhadhammanti yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
Tadāhāranirodhā yaṁ bhūtaṁ taṁ nirodhadhammanti yathābhūtaṁ sammappaññā disvā nirodhadhammassa nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimutto hoti.
Evaṁ kho, sāriputta, saṅkhātadhammo hoti.
Iti kho, sāriputta, yaṁ taṁ vuttaṁ pārāyane ajitapañhe:
‘Ye ca saṅkhātadhammāse,
ye ca sekkhā puthū idha;
Tesaṁ me nipako iriyaṁ,
puṭṭho pabrūhi mārisā’ti.
Imassa kho, sāriputta, saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti.
Paṭhamaṁ.