Vi-n 1 Trú tại Sāvatthī.
Vi-n 2 —Các ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thế nào xứng đáng là người đi đến các gia đình? Tỷ-kheo như thế nào không xứng đáng là người đi đến các gia đình?
Vi-n 3 —Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo…
Thế Tôn nói như sau:
Vi-n 4 —Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với tâm như thế này đi đến các gia đình: “Mong họ hãy cho ta, chớ có không cho. Mong họ cho ta nhiều, chớ có cho ít. Mong họ cho ta đồ tốt, chớ có cho đồ xấu. Mong họ cho ta mau, chớ có cho chậm. Mong họ kính trọng cho ta, chớ có không kính trọng”.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào với tâm như vậy đi đến các gia đình, nếu không được cho, Tỷ-kheo ấy bực phiền. Do nhân duyên ấy, Tỷ-kheo ấy cảm thọ khổ ưu… cho ít, không cho nhiều… cho đồ xấu không cho đồ tốt… cho chậm, không cho mau. Do vậy Tỷ-kheo ấy bực phiền. Do nhân duyên ấy, Tỷ-kheo ấy cảm thọ khổ ưu… cho bất kính, không có kính trọng. Do vậy, Tỷ-kheo ấy bực phiền. Do nhân duyên ấy, Tỷ-kheo ấy cảm thọ khổ ưu. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo như vậy không xứng đáng là người đi đến các gia đình.
Vi-n 6 Và này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào với tâm như thế này đi đến các gia đình (nghĩ rằng): “Ðối với các gia đình người khác, làm sao có thể mong: ‘Mong họ hãy cho ta, chớ có không cho. Mong họ cho ta nhiều, chớ có cho ít. Mong họ cho ta đồ tốt, chớ có cho đồ xấu. Mong họ cho ta mau, chớ có cho chậm. Mong họ kính trọng ta, chớ có không kính trọng’?”.
Vi-n 7 Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo với tâm như vậy, khi đi đến các gia đình không được cho, Tỷ-kheo không vì vậy mà bị bực phiền, không do nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu. Họ cho ít, không cho nhiều… họ cho đồ xấu, không cho đồ tốt, cho chậm, không cho mau… cho bất kính, không phải kính trọng, Tỷ-kheo không vì vậy mà bị bực phiền, không do nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy xứng đáng đi đến các gia đình.
Vi-n 8 Này các Tỷ-kheo, Kassapa với tâm như vậy đi đến các gia đình (nghĩ rằng): “Ðối với các gia đình người khác, làm sao có thể mong: “Mong họ hãy cho ta, chớ có không cho. Mong họ cho ta nhiều, chớ có cho ít. Mong họ cho ta đồ tốt, chớ có cho đồ xấu. Mong họ cho ta mau, chớ có cho chậm. Mong họ kính trọng cho ta, chớ có bất kính”?”
Vi-n 9 Này các Tỷ-kheo, Kassapa với tâm như vậy đi đến các gia đình, nếu không được cho, Kassapa không vì vậy mà bị bực phiền, không vì nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu. Họ cho ít, không cho nhiều, Kassapa không vì vậy mà bị bực phiền, không vì nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu. Họ cho đồ xấu, không cho đồ tốt, Kassapa không vì vậy mà bị bực phiền, không vì nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu. Họ cho chậm, không cho mau, Kassapa không vì vậy mà bị bực phiền, không do nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu. Họ cho bất kính, không cho có kính trọng, Kassapa không vì vậy mà bị bực phiền, không do nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu.
Vi-n 10 Với Kassapa, này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giáo giới các ông hay với ai giống như Kassapa. Và được giáo giới, các ông hãy như vậy thọ trì.
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
kathaṁrūpo bhikkhu arahati kulūpako hotuṁ, kathaṁrūpo bhikkhu na arahati kulūpako hotun”ti?
Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā …pe…
bhagavā etadavoca:
“Yo hi koci, bhikkhave, bhikkhu evaṁcitto kulāni upasaṅkamati:
‘dentuyeva me, mā nādaṁsu;
bahukaññeva me dentu, mā thokaṁ;
paṇītaññeva me dentu, mā lūkhaṁ;
sīghaññeva me dentu, mā dandhaṁ;
sakkaccaññeva me dentu, mā asakkaccan’ti.
Tassa ce, bhikkhave, bhikkhuno evaṁcittassa kulāni upasaṅkamato na denti, tena bhikkhu sandīyati; so tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedayati.
Thokaṁ denti, no bahukaṁ …pe…
lūkhaṁ denti, no paṇītaṁ …
dandhaṁ denti, no sīghaṁ, tena bhikkhu sandīyati; so tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedayati.
Asakkaccaṁ denti, no sakkaccaṁ; tena bhikkhu sandīyati; so tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedayati.
Evarūpo kho, bhikkhave, bhikkhu na arahati kulūpako hotuṁ.
Yo ca kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁcitto kulāni upasaṅkamati:
‘taṁ kutettha labbhā parakulesu—
dentuyeva me, mā nādaṁsu;
bahukaññeva me dentu, mā thokaṁ;
paṇītaññeva me dentu, mā lūkhaṁ;
sīghaññeva me dentu, mā dandhaṁ;
sakkaccaññeva me dentu, mā asakkaccan’ti.
Tassa ce, bhikkhave, bhikkhuno evaṁcittassa kulāni upasaṅkamato na denti; tena bhikkhu na sandīyati; so na tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedayati.
Thokaṁ denti, no bahukaṁ; tena bhikkhu na sandīyati; so na tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedayati.
Lūkhaṁ denti, no paṇītaṁ; tena bhikkhu na sandīyati; so na tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedayati.
Dandhaṁ denti, no sīghaṁ; tena bhikkhu na sandīyati; so na tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedayati.
Asakkaccaṁ denti, no sakkaccaṁ; tena bhikkhu na sandīyati; so na tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedayati.
Evarūpo kho, bhikkhave, bhikkhu arahati kulūpako hotuṁ.
Kassapo, bhikkhave, evaṁcitto kulāni upasaṅkamati:
‘taṁ kutettha labbhā parakulesu—
dentuyeva me, mā nādaṁsu;
bahukaññeva me dentu, mā thokaṁ;
paṇītaññeva me dentu, mā lūkhaṁ;
sīghaññeva me dentu, mā dandhaṁ;
sakkaccaññeva me dentu, mā asakkaccan’ti.
Tassa ce, bhikkhave, kassapassa evaṁcittassa kulāni upasaṅkamato na denti; tena kassapo na sandīyati; so na tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedayati.
Thokaṁ denti, no bahukaṁ; tena kassapo na sandīyati; so na tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedayati.
Lūkhaṁ denti, no paṇītaṁ; tena kassapo na sandīyati; so na tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedayati.
Dandhaṁ denti, no sīghaṁ; tena kassapo na sandīyati; so na tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedayati.
Asakkaccaṁ denti, no sakkaccaṁ; tena kassapo na sandīyati; so na tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedayati.
Kassapena vā hi vo, bhikkhave, ovadissāmi yo vā panassa kassapasadiso. Ovaditehi ca pana vo tathattāya paṭipajjitabban”ti.
Catutthaṁ.
SC 1At Savatthī. “Bhikkhus, what do you think, what kind of bhikkhu is worthy to be a visitor of families, and what kind of bhikkhu is not worthy to be a visitor of families?”
SC 2“Venerable sir, our teachings are rooted in the Blessed One….”
SC 3The Blessed One said this: “Bhikkhus, a bhikkhu might approach families with the thought: ‘May they give to me, not hold back! May they give me much, not a little! May they give me fine things, not shabby things! May they give me promptly, not slowly! May they give me considerately, not casually!’ When a bhikkhu approaches families with such a thought, if they do not give, he thereby becomes hurt; on that account he experiences pain and displeasure. If they give little rather than much … If they give shabby things rather than fine things … If they give slowly rather than promptly … If they give casually rather than considerately, he thereby becomes hurt; sn.ii.201 on that account he experiences pain and displeasure. Such a bhikkhu is not worthy to be a visitor of families.
SC 4“Bhikkhus, a bhikkhu might approach families with the thought: ‘When among others’ families, how could I possibly think: “May they give to me, not hold back!… May they give me respectfully, not casually!”?’ When a bhikkhu approaches families with such a thought, if they do not give … if they give casually rather than considerately, he does not thereby become hurt; he does not on that account experience pain and displeasure. Such a bhikkhu is worthy to be a visitor of families.
SC 5“Bhikkhus, Kassapa approaches families with such a thought…. Thus if they do not give … if they give casually rather than considerately, he does not thereby become hurt; sn.ii.202 he does not on that account experience pain and displeasure.
SC 6“Bhikkhus, I will exhort you by the example of Kassapa or one who is similar to Kassapa. Being exhorted, you should practise accordingly.”
Vi-n 1 Trú tại Sāvatthī.
Vi-n 2 —Các ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thế nào xứng đáng là người đi đến các gia đình? Tỷ-kheo như thế nào không xứng đáng là người đi đến các gia đình?
Vi-n 3 —Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo…
Thế Tôn nói như sau:
Vi-n 4 —Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với tâm như thế này đi đến các gia đình: “Mong họ hãy cho ta, chớ có không cho. Mong họ cho ta nhiều, chớ có cho ít. Mong họ cho ta đồ tốt, chớ có cho đồ xấu. Mong họ cho ta mau, chớ có cho chậm. Mong họ kính trọng cho ta, chớ có không kính trọng”.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào với tâm như vậy đi đến các gia đình, nếu không được cho, Tỷ-kheo ấy bực phiền. Do nhân duyên ấy, Tỷ-kheo ấy cảm thọ khổ ưu… cho ít, không cho nhiều… cho đồ xấu không cho đồ tốt… cho chậm, không cho mau. Do vậy Tỷ-kheo ấy bực phiền. Do nhân duyên ấy, Tỷ-kheo ấy cảm thọ khổ ưu… cho bất kính, không có kính trọng. Do vậy, Tỷ-kheo ấy bực phiền. Do nhân duyên ấy, Tỷ-kheo ấy cảm thọ khổ ưu. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo như vậy không xứng đáng là người đi đến các gia đình.
Vi-n 6 Và này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào với tâm như thế này đi đến các gia đình (nghĩ rằng): “Ðối với các gia đình người khác, làm sao có thể mong: ‘Mong họ hãy cho ta, chớ có không cho. Mong họ cho ta nhiều, chớ có cho ít. Mong họ cho ta đồ tốt, chớ có cho đồ xấu. Mong họ cho ta mau, chớ có cho chậm. Mong họ kính trọng ta, chớ có không kính trọng’?”.
Vi-n 7 Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo với tâm như vậy, khi đi đến các gia đình không được cho, Tỷ-kheo không vì vậy mà bị bực phiền, không do nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu. Họ cho ít, không cho nhiều… họ cho đồ xấu, không cho đồ tốt, cho chậm, không cho mau… cho bất kính, không phải kính trọng, Tỷ-kheo không vì vậy mà bị bực phiền, không do nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy xứng đáng đi đến các gia đình.
Vi-n 8 Này các Tỷ-kheo, Kassapa với tâm như vậy đi đến các gia đình (nghĩ rằng): “Ðối với các gia đình người khác, làm sao có thể mong: “Mong họ hãy cho ta, chớ có không cho. Mong họ cho ta nhiều, chớ có cho ít. Mong họ cho ta đồ tốt, chớ có cho đồ xấu. Mong họ cho ta mau, chớ có cho chậm. Mong họ kính trọng cho ta, chớ có bất kính”?”
Vi-n 9 Này các Tỷ-kheo, Kassapa với tâm như vậy đi đến các gia đình, nếu không được cho, Kassapa không vì vậy mà bị bực phiền, không vì nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu. Họ cho ít, không cho nhiều, Kassapa không vì vậy mà bị bực phiền, không vì nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu. Họ cho đồ xấu, không cho đồ tốt, Kassapa không vì vậy mà bị bực phiền, không vì nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu. Họ cho chậm, không cho mau, Kassapa không vì vậy mà bị bực phiền, không do nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu. Họ cho bất kính, không cho có kính trọng, Kassapa không vì vậy mà bị bực phiền, không do nhân duyên ấy mà cảm thọ khổ ưu.
Vi-n 10 Với Kassapa, này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giáo giới các ông hay với ai giống như Kassapa. Và được giáo giới, các ông hãy như vậy thọ trì.
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
kathaṁrūpo bhikkhu arahati kulūpako hotuṁ, kathaṁrūpo bhikkhu na arahati kulūpako hotun”ti?
Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā …pe…
bhagavā etadavoca:
“Yo hi koci, bhikkhave, bhikkhu evaṁcitto kulāni upasaṅkamati:
‘dentuyeva me, mā nādaṁsu;
bahukaññeva me dentu, mā thokaṁ;
paṇītaññeva me dentu, mā lūkhaṁ;
sīghaññeva me dentu, mā dandhaṁ;
sakkaccaññeva me dentu, mā asakkaccan’ti.
Tassa ce, bhikkhave, bhikkhuno evaṁcittassa kulāni upasaṅkamato na denti, tena bhikkhu sandīyati; so tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedayati.
Thokaṁ denti, no bahukaṁ …pe…
lūkhaṁ denti, no paṇītaṁ …
dandhaṁ denti, no sīghaṁ, tena bhikkhu sandīyati; so tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedayati.
Asakkaccaṁ denti, no sakkaccaṁ; tena bhikkhu sandīyati; so tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedayati.
Evarūpo kho, bhikkhave, bhikkhu na arahati kulūpako hotuṁ.
Yo ca kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁcitto kulāni upasaṅkamati:
‘taṁ kutettha labbhā parakulesu—
dentuyeva me, mā nādaṁsu;
bahukaññeva me dentu, mā thokaṁ;
paṇītaññeva me dentu, mā lūkhaṁ;
sīghaññeva me dentu, mā dandhaṁ;
sakkaccaññeva me dentu, mā asakkaccan’ti.
Tassa ce, bhikkhave, bhikkhuno evaṁcittassa kulāni upasaṅkamato na denti; tena bhikkhu na sandīyati; so na tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedayati.
Thokaṁ denti, no bahukaṁ; tena bhikkhu na sandīyati; so na tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedayati.
Lūkhaṁ denti, no paṇītaṁ; tena bhikkhu na sandīyati; so na tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedayati.
Dandhaṁ denti, no sīghaṁ; tena bhikkhu na sandīyati; so na tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedayati.
Asakkaccaṁ denti, no sakkaccaṁ; tena bhikkhu na sandīyati; so na tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedayati.
Evarūpo kho, bhikkhave, bhikkhu arahati kulūpako hotuṁ.
Kassapo, bhikkhave, evaṁcitto kulāni upasaṅkamati:
‘taṁ kutettha labbhā parakulesu—
dentuyeva me, mā nādaṁsu;
bahukaññeva me dentu, mā thokaṁ;
paṇītaññeva me dentu, mā lūkhaṁ;
sīghaññeva me dentu, mā dandhaṁ;
sakkaccaññeva me dentu, mā asakkaccan’ti.
Tassa ce, bhikkhave, kassapassa evaṁcittassa kulāni upasaṅkamato na denti; tena kassapo na sandīyati; so na tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedayati.
Thokaṁ denti, no bahukaṁ; tena kassapo na sandīyati; so na tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedayati.
Lūkhaṁ denti, no paṇītaṁ; tena kassapo na sandīyati; so na tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedayati.
Dandhaṁ denti, no sīghaṁ; tena kassapo na sandīyati; so na tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedayati.
Asakkaccaṁ denti, no sakkaccaṁ; tena kassapo na sandīyati; so na tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedayati.
Kassapena vā hi vo, bhikkhave, ovadissāmi yo vā panassa kassapasadiso. Ovaditehi ca pana vo tathattāya paṭipajjitabban”ti.
Catutthaṁ.