Vi-n 1 …
Vi-n 2 Này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông, hãy từ bỏ chúng. Từ bỏ chúng sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông?
Vi-n 3-8. Mắt, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông, hãy từ bỏ mắt. Từ bỏ mắt sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông … Tai … Mũi … Lưỡi … Thân … Ý, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông, hãy từ bỏ ý. Từ bỏ ý sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.
Vi-n 9 Ví như, này các Tỷ-kheo, trong rừng Jeta này, có người mang đi, hoặc đem đốt, hoặc tùy duyên làm một việc gì đối với cỏ, củi, cành và lá, thời các Ông có vì vậy mà nghĩ rằng người ấy mang các Ông đi, đốt các Ông, hay tùy duyên làm một việc gì với các Ông?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Vì sao?
—Bạch Thế Tôn, vì cái ấy không phải tự ngã, không thuộc tự ngã.
Vi-n 10 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo. Mắt không phải của các Ông, hãy từ bỏ mắt. Từ bỏ mắt sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Tai … Mũi … Lưỡi … Thân … Ý, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông, hãy từ bỏ ý. Từ bỏ ý, sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.
“Yaṁ, bhikkhave, na tumhākaṁ taṁ pajahatha.
Taṁ vo pahīnaṁ hitāya sukhāya bhavissati.
Kiñca, bhikkhave, na tumhākaṁ?
Cakkhu, bhikkhave, na tumhākaṁ; taṁ pajahatha.
Taṁ vo pahīnaṁ hitāya sukhāya bhavissati …pe…
jivhā na tumhākaṁ; taṁ pajahatha.
Sā vo pahīnā hitāya sukhāya bhavissati …pe…
mano na tumhākaṁ; taṁ pajahatha.
So vo pahīno hitāya sukhāya bhavissati.
Seyyathāpi, bhikkhave, yaṁ imasmiṁ jetavane tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṁ taṁ jano hareyya vā ḍaheyya vā yathāpaccayaṁ vā kareyya, api nu tumhākaṁ evamassa:
‘amhe jano harati vā ḍahati vā yathāpaccayaṁ vā karotī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kissa hetu”?
“Na hi no etaṁ, bhante, attā vā attaniyaṁ vā”ti.
“Evameva kho, bhikkhave, cakkhu na tumhākaṁ; taṁ pajahatha.
Taṁ vo pahīnaṁ hitāya sukhāya bhavissati …pe…
jivhā na tumhākaṁ; taṁ pajahatha.
Sā vo pahīnā hitāya sukhāya bhavissati …pe…
mano na tumhākaṁ; taṁ pajahatha.
So vo pahīno hitāya sukhāya bhavissatī”ti.
Pañcamaṁ.
SC 1“Bhikkhus, whatever is not yours, abandon it. When you have abandoned it, that will lead to your welfare and happiness. And what is it, bhikkhus, that is not yours? The eye is not yours: abandon it. When you have abandoned it, that will lead to your welfare and happiness. The ear is not yours … sn.iv.129 … The mind is not yours: abandon it. When you have abandoned it, that will lead to your welfare and happiness.
SC 2“Suppose, bhikkhus, people were to carry off the grass, sticks, branches, and foliage in this Jeta’s Grove, or to burn them, or to do with them as they wish. Would you think: ‘People are carrying us off, or burning us, or doing with us as they wish’?”
SC 3“No, venerable sir. For what reason? Because, venerable sir, that is neither our self nor what belongs to our self.”
SC 4“So too, bhikkhus, the eye is not yours … The ear … The mind is not yours … When you have abandoned it, that will lead to your welfare and happiness.”
Vi-n 1 …
Vi-n 2 Này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông, hãy từ bỏ chúng. Từ bỏ chúng sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông?
Vi-n 3-8. Mắt, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông, hãy từ bỏ mắt. Từ bỏ mắt sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông … Tai … Mũi … Lưỡi … Thân … Ý, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông, hãy từ bỏ ý. Từ bỏ ý sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.
Vi-n 9 Ví như, này các Tỷ-kheo, trong rừng Jeta này, có người mang đi, hoặc đem đốt, hoặc tùy duyên làm một việc gì đối với cỏ, củi, cành và lá, thời các Ông có vì vậy mà nghĩ rằng người ấy mang các Ông đi, đốt các Ông, hay tùy duyên làm một việc gì với các Ông?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Vì sao?
—Bạch Thế Tôn, vì cái ấy không phải tự ngã, không thuộc tự ngã.
Vi-n 10 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo. Mắt không phải của các Ông, hãy từ bỏ mắt. Từ bỏ mắt sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Tai … Mũi … Lưỡi … Thân … Ý, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông, hãy từ bỏ ý. Từ bỏ ý, sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.
“Yaṁ, bhikkhave, na tumhākaṁ taṁ pajahatha.
Taṁ vo pahīnaṁ hitāya sukhāya bhavissati.
Kiñca, bhikkhave, na tumhākaṁ?
Cakkhu, bhikkhave, na tumhākaṁ; taṁ pajahatha.
Taṁ vo pahīnaṁ hitāya sukhāya bhavissati …pe…
jivhā na tumhākaṁ; taṁ pajahatha.
Sā vo pahīnā hitāya sukhāya bhavissati …pe…
mano na tumhākaṁ; taṁ pajahatha.
So vo pahīno hitāya sukhāya bhavissati.
Seyyathāpi, bhikkhave, yaṁ imasmiṁ jetavane tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṁ taṁ jano hareyya vā ḍaheyya vā yathāpaccayaṁ vā kareyya, api nu tumhākaṁ evamassa:
‘amhe jano harati vā ḍahati vā yathāpaccayaṁ vā karotī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kissa hetu”?
“Na hi no etaṁ, bhante, attā vā attaniyaṁ vā”ti.
“Evameva kho, bhikkhave, cakkhu na tumhākaṁ; taṁ pajahatha.
Taṁ vo pahīnaṁ hitāya sukhāya bhavissati …pe…
jivhā na tumhākaṁ; taṁ pajahatha.
Sā vo pahīnā hitāya sukhāya bhavissati …pe…
mano na tumhākaṁ; taṁ pajahatha.
So vo pahīno hitāya sukhāya bhavissatī”ti.
Pañcamaṁ.