Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
—Do có cái gì, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ cái gì, do thiên chấp cái gì, khởi lên (tà) kiến như sau: “Có bảy thân không bị làm ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo, không sanh sản, thường tại như đỉnh núi, đứng thẳng như trụ đá. Chúng bất động, không chuyển biến, không xâm lăng nhau. Chúng không ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau, hoặc cả khổ và lạc”?
Vi-n 3 Bảy thân ấy là gì?—Ðịa thân, thủy thân, hỏa thân, phong thân, khổ, lạc và thứ bảy là mạng. Bảy thân này không bị làm ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo, không sanh sản, thường tại như đỉnh núi, đứng thẳng như trụ đá. Chúng bất động, không chuyển biến, không xâm lăng nhau, chúng không ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau, hoặc cả khổ và lạc.
Vi-n 4 Khi một ai dùng lưỡi kiếm sắc bén chém đầu, thời không có ai tước đoạt sanh mạng của ai cả, lưỡi kiếm chỉ rơi vào giữa bảy thân mà thôi.
Vi-n 5 Có tất cả là 1.400.000 chủng loại thác sanh, lại có thêm 6.000 và có thêm 600 nữa. Có 500 loại nghiệp và năm nghiệp (theo 5 căn), lại có ba nghiệp (về thân, khẩu, ý), lại có toàn nghiệp (thân và khẩu), và bán nghiệp (ý), có 62 đạo, 62 trung kiếp, sáu giai cấp, tám nhân địa, 4.900 sanh nghiệp, 4.900 kẻ du hành, 4.900 chỗ ở của loài Nāga, 2.000 căn, 3.000 cảnh địa ngục, 36 trần giới, 7 tưởng thai, 7 vô tưởng thai, 7 tiết thai, 7 loài Thiên, 7 loài Người, 7 loài quỷ, 7 hồ nước, 7 pavutas (rừng hay hồ nhỏ), 7 papàta (vực thẳm), 700 papàta (vực thẳm), 7 mộng, 700 mộng, có 8 trăm 40 vạn đại kiếp, trong thời gian ấy, kẻ ngu và người hiền sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ trừ tận khổ đau.
Vi-n 6 Không có lời nguyền: “Với giới hạnh này, với kỷ luật này, với khổ hạnh này hay với Phạm hạnh này, tôi sẽ làm cho chín muồi những nghiệp chưa được thuần thục, hoặc trừ diệt những nghiệp đã thuần thục bởi những nhẫn thọ liên tục, không thể đo lường khổ và lạc với những vật đo lường, trong khi luân hồi không có giảm tăng, không có thặng dư, thiếu thốn.
Vi-n 7 Ví như một cuộn chỉ được tung ra sẽ được kéo dài đến một mức độ nào đó. Cũng như vậy, kẻ ngu và người hiền sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ đoạn tận khổ đau”.
Vi-n 8 —Ðối với chúng con, bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản …
(Như các kinh trên, chỉ khác về “tà kiến” ).
Sāvatthinidānaṁ.
“Kismiṁ nu kho, bhikkhave, sati, kiṁ upādāya, kiṁ abhinivissa evaṁ diṭṭhi uppajjati:
‘sattime kāyā akaṭā, akaṭavidhā, animmitā, animmātā, vañjhā, kūṭaṭṭhā, esikaṭṭhāyiṭṭhitā;
te na iñjanti, na vipariṇamanti, na aññamaññaṁ byābādhenti; nālaṁ aññamaññassa sukhāya vā dukkhāya vā sukhadukkhāya vā.
Katame satta?
Pathavīkāyo, āpokāyo, tejokāyo, vāyokāyo, sukhe, dukkhe, jīve sattame.
Ime satta kāyā akaṭā, akaṭavidhā, animmitā, animmātā, vañjhā, kūṭaṭṭhā esikaṭṭhāyiṭṭhitā;
te na iñjanti, na vipariṇamanti, na aññamaññaṁ byābādhenti; nālaṁ aññamaññassa sukhāya vā dukkhāya vā sukhadukkhāya vā.
Yopi tiṇhena satthena sīsaṁ chindati, na sopi kañci jīvitā voropeti;
sattannaṁ tveva kāyānamantarena satthaṁ vivaramanupavisati.
Cuddasa kho panimāni yonipamukhasatasahassāni saṭṭhi ca satāni cha ca satāni pañca ca kammuno satāni pañca ca kammāni, tīṇi ca kammāni, kamme ca aḍḍhakamme ca dvaṭṭhipaṭipadā, dvaṭṭhantarakappā, chaḷābhijātiyo, aṭṭha purisabhūmiyo, ekūnapaññāsa ājīvakasate, ekūnapaññāsa paribbājakasate, ekūnapaññāsa nāgavāsasate, vīse indriyasate, tiṁse nirayasate, chattiṁsarajodhātuyo, satta saññīgabbhā, satta asaññīgabbhā, satta nigaṇṭhigabbhā, satta devā, satta mānusā, satta pesācā, satta sarā, satta pavuṭā, satta papātā, satta ca papātasatāni, satta supinā, satta supinasatāni, cullāsīti mahākappino satasahassāni, yāni bāle ca paṇḍite ca sandhāvitvā saṁsaritvā dukkhassantaṁ karissanti.
Tattha natthi imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā aparipakkaṁ vā kammaṁ paripācessāmi;
paripakkaṁ vā kammaṁ phussa phussa byantīkarissāmīti hevaṁ natthi doṇamite sukhadukkhe pariyantakate saṁsāre, natthi hāyanavaḍḍhane, natthi ukkaṁsāvakaṁse.
Seyyathāpi nāma suttaguḷe khitte nibbeṭhiyamānameva paleti;
evameva bāle ca paṇḍite ca nibbeṭhiyamānā sukhadukkhaṁ palentī’”ti?
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā …pe…
“Rūpe kho, bhikkhave, sati, rūpaṁ upādāya, rūpaṁ abhinivissa evaṁ diṭṭhi uppajjati:
‘sattime kāyā akaṭā, akaṭavidhā …pe…
sukhadukkhaṁ palentī’ti.
Vedanāya sati …pe…
saññāya sati …
saṅkhāresu sati …
viññāṇe sati, viññāṇaṁ upādāya, viññāṇaṁ abhinivissa evaṁ diṭṭhi uppajjati:
‘sattime kāyā akaṭā, akaṭavidhā …pe…
sukhadukkhaṁ palentī’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante” …pe…
“yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, api nu taṁ anupādāya evaṁ diṭṭhi uppajjeyya:
‘sattime kāyā akaṭā akaṭavidhā …pe…
sukhadukkhaṁ palentī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Yampidaṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā tampi niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante …pe…
api nu taṁ anupādāya evaṁ diṭṭhi uppajjeyya:
‘sattime kāyā akaṭā akaṭavidhā …pe…
nibbeṭhiyamānā sukhadukkhaṁ palentī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Yato kho, bhikkhave, ariyasāvakassa imesu ca ṭhānesu kaṅkhā pahīnā hoti, dukkhepissa kaṅkhā pahīnā hoti …pe… dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāyapissa kaṅkhā pahīnā hoti—
ayaṁ vuccati, bhikkhave, ariyasāvako sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyano”ti.
Aṭṭhamaṁ.
At Sāvatthī.
“Mendicants, when what exists, because of grasping what and insisting on what, does the view arise:
‘There are these seven substances that are not made, not derived, not created, without a creator, barren, steady as a mountain peak, standing firm like a pillar.
They don’t move or deteriorate or obstruct each other. They’re unable to cause pleasure, pain, or both pleasure and pain to each other.
What seven?
The substances of earth, water, fire, air; pleasure, pain, and the soul is the seventh.
These seven substances are not made, not derived, not created, without a creator, barren, steady as a mountain peak, standing firm like a pillar.
They don’t move or deteriorate or obstruct each other. They’re unable to cause pleasure, pain, or both pleasure and pain to each other.
If you chop off someone’s head with a sharp sword, you don’t take anyone’s life.
The sword simply passes through the gap between the seven substances.
There are 1.4 million main wombs, and 6,000, and 600; 500 deeds, and five, and three; deeds and half-deeds; 62 paths of practice, 62 sub-eons, six classes of rebirth, and eight stages in a person’s life; 4,900 Ājīvaka ascetics, 4,900 wanderers, and 4,900 dragon abodes; 2,000 lordships, 3,000 hells, and 36 realms of dusky sky; seven percipient embryos, seven non-percipient embryos, seven knotless embryos, seven gods, seven mental heavens, seven goblins, seven streams, seven castoff incarnations and 700 castoff incarnations, seven downfalls and 700 downfalls, seven dreams and 700 dreams, and 8.4 million great eons—through all of which the foolish and the astute transmigrate before making an end of suffering.
And here there is no such thing as this: “By this precept or observance or fervent austerity or spiritual practice I shall force unripened deeds to bear their fruit, or eliminate old deeds by experiencing their results little by little”—for that cannot be.
Pleasure and pain are allotted. Transmigration lasts only for a limited period, so there’s no increase or decrease, no getting better or worse.
It’s like how, when you toss a ball of string, it rolls away unraveling.
In the same way, after transmigrating the foolish and the astute roll away unraveling as far as pleasure and pain extend’?”
“Our teachings are rooted in the Buddha. …”
“When form exists, because of grasping form and insisting on form, the view arises:
‘There are these seven substances that are not made …
the foolish and the astute will make an end of suffering.’
When feeling …
perception …
choices …
consciousness exists, because of grasping consciousness and insisting on consciousness, the view arises:
‘There are these seven substances that are not made …
the foolish and the astute will make an end of suffering.’
What do you think, mendicants?
Is form permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
“That which is seen, heard, thought, known, attained, sought, and explored by the mind: is that permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
“But by not grasping what’s impermanent, suffering, and perishable, would such a view arise?”
“No, sir.”
“When a noble disciple has given up doubt regarding these six grounds, and has given up doubt in suffering, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation,
they’re called a noble disciple who is a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, destined for awakening.”
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
—Do có cái gì, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ cái gì, do thiên chấp cái gì, khởi lên (tà) kiến như sau: “Có bảy thân không bị làm ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo, không sanh sản, thường tại như đỉnh núi, đứng thẳng như trụ đá. Chúng bất động, không chuyển biến, không xâm lăng nhau. Chúng không ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau, hoặc cả khổ và lạc”?
Vi-n 3 Bảy thân ấy là gì?—Ðịa thân, thủy thân, hỏa thân, phong thân, khổ, lạc và thứ bảy là mạng. Bảy thân này không bị làm ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo, không sanh sản, thường tại như đỉnh núi, đứng thẳng như trụ đá. Chúng bất động, không chuyển biến, không xâm lăng nhau, chúng không ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau, hoặc cả khổ và lạc.
Vi-n 4 Khi một ai dùng lưỡi kiếm sắc bén chém đầu, thời không có ai tước đoạt sanh mạng của ai cả, lưỡi kiếm chỉ rơi vào giữa bảy thân mà thôi.
Vi-n 5 Có tất cả là 1.400.000 chủng loại thác sanh, lại có thêm 6.000 và có thêm 600 nữa. Có 500 loại nghiệp và năm nghiệp (theo 5 căn), lại có ba nghiệp (về thân, khẩu, ý), lại có toàn nghiệp (thân và khẩu), và bán nghiệp (ý), có 62 đạo, 62 trung kiếp, sáu giai cấp, tám nhân địa, 4.900 sanh nghiệp, 4.900 kẻ du hành, 4.900 chỗ ở của loài Nāga, 2.000 căn, 3.000 cảnh địa ngục, 36 trần giới, 7 tưởng thai, 7 vô tưởng thai, 7 tiết thai, 7 loài Thiên, 7 loài Người, 7 loài quỷ, 7 hồ nước, 7 pavutas (rừng hay hồ nhỏ), 7 papàta (vực thẳm), 700 papàta (vực thẳm), 7 mộng, 700 mộng, có 8 trăm 40 vạn đại kiếp, trong thời gian ấy, kẻ ngu và người hiền sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ trừ tận khổ đau.
Vi-n 6 Không có lời nguyền: “Với giới hạnh này, với kỷ luật này, với khổ hạnh này hay với Phạm hạnh này, tôi sẽ làm cho chín muồi những nghiệp chưa được thuần thục, hoặc trừ diệt những nghiệp đã thuần thục bởi những nhẫn thọ liên tục, không thể đo lường khổ và lạc với những vật đo lường, trong khi luân hồi không có giảm tăng, không có thặng dư, thiếu thốn.
Vi-n 7 Ví như một cuộn chỉ được tung ra sẽ được kéo dài đến một mức độ nào đó. Cũng như vậy, kẻ ngu và người hiền sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ đoạn tận khổ đau”.
Vi-n 8 —Ðối với chúng con, bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản …
(Như các kinh trên, chỉ khác về “tà kiến” ).
Sāvatthinidānaṁ.
“Kismiṁ nu kho, bhikkhave, sati, kiṁ upādāya, kiṁ abhinivissa evaṁ diṭṭhi uppajjati:
‘sattime kāyā akaṭā, akaṭavidhā, animmitā, animmātā, vañjhā, kūṭaṭṭhā, esikaṭṭhāyiṭṭhitā;
te na iñjanti, na vipariṇamanti, na aññamaññaṁ byābādhenti; nālaṁ aññamaññassa sukhāya vā dukkhāya vā sukhadukkhāya vā.
Katame satta?
Pathavīkāyo, āpokāyo, tejokāyo, vāyokāyo, sukhe, dukkhe, jīve sattame.
Ime satta kāyā akaṭā, akaṭavidhā, animmitā, animmātā, vañjhā, kūṭaṭṭhā esikaṭṭhāyiṭṭhitā;
te na iñjanti, na vipariṇamanti, na aññamaññaṁ byābādhenti; nālaṁ aññamaññassa sukhāya vā dukkhāya vā sukhadukkhāya vā.
Yopi tiṇhena satthena sīsaṁ chindati, na sopi kañci jīvitā voropeti;
sattannaṁ tveva kāyānamantarena satthaṁ vivaramanupavisati.
Cuddasa kho panimāni yonipamukhasatasahassāni saṭṭhi ca satāni cha ca satāni pañca ca kammuno satāni pañca ca kammāni, tīṇi ca kammāni, kamme ca aḍḍhakamme ca dvaṭṭhipaṭipadā, dvaṭṭhantarakappā, chaḷābhijātiyo, aṭṭha purisabhūmiyo, ekūnapaññāsa ājīvakasate, ekūnapaññāsa paribbājakasate, ekūnapaññāsa nāgavāsasate, vīse indriyasate, tiṁse nirayasate, chattiṁsarajodhātuyo, satta saññīgabbhā, satta asaññīgabbhā, satta nigaṇṭhigabbhā, satta devā, satta mānusā, satta pesācā, satta sarā, satta pavuṭā, satta papātā, satta ca papātasatāni, satta supinā, satta supinasatāni, cullāsīti mahākappino satasahassāni, yāni bāle ca paṇḍite ca sandhāvitvā saṁsaritvā dukkhassantaṁ karissanti.
Tattha natthi imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā aparipakkaṁ vā kammaṁ paripācessāmi;
paripakkaṁ vā kammaṁ phussa phussa byantīkarissāmīti hevaṁ natthi doṇamite sukhadukkhe pariyantakate saṁsāre, natthi hāyanavaḍḍhane, natthi ukkaṁsāvakaṁse.
Seyyathāpi nāma suttaguḷe khitte nibbeṭhiyamānameva paleti;
evameva bāle ca paṇḍite ca nibbeṭhiyamānā sukhadukkhaṁ palentī’”ti?
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā …pe…
“Rūpe kho, bhikkhave, sati, rūpaṁ upādāya, rūpaṁ abhinivissa evaṁ diṭṭhi uppajjati:
‘sattime kāyā akaṭā, akaṭavidhā …pe…
sukhadukkhaṁ palentī’ti.
Vedanāya sati …pe…
saññāya sati …
saṅkhāresu sati …
viññāṇe sati, viññāṇaṁ upādāya, viññāṇaṁ abhinivissa evaṁ diṭṭhi uppajjati:
‘sattime kāyā akaṭā, akaṭavidhā …pe…
sukhadukkhaṁ palentī’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante” …pe…
“yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, api nu taṁ anupādāya evaṁ diṭṭhi uppajjeyya:
‘sattime kāyā akaṭā akaṭavidhā …pe…
sukhadukkhaṁ palentī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Yampidaṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā tampi niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante …pe…
api nu taṁ anupādāya evaṁ diṭṭhi uppajjeyya:
‘sattime kāyā akaṭā akaṭavidhā …pe…
nibbeṭhiyamānā sukhadukkhaṁ palentī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Yato kho, bhikkhave, ariyasāvakassa imesu ca ṭhānesu kaṅkhā pahīnā hoti, dukkhepissa kaṅkhā pahīnā hoti …pe… dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāyapissa kaṅkhā pahīnā hoti—
ayaṁ vuccati, bhikkhave, ariyasāvako sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyano”ti.
Aṭṭhamaṁ.