Vi-n 1 … Tại Sāvatthi.
Vi-n 2 —Này Rāhula, Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
Vi-n 3-6. —Thọ … Tưởng … Hành … Thức là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn. …, …
Vi-n 7 —Thấy vậy, này Rāhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán sắc, nhàm chán thọ, nhàm chán tưởng, nhàm chán hành, nhàm chán thức.
Vi-n 8 Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành; những gì nên làm đã làm; không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Taṁ kiṁ maññasi, rāhula,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante” …
“vedanā …pe…
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante” …
“evaṁ passaṁ, rāhula, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi nibbindati …pe… vedanāyapi nibbindati … saññāyapi nibbindati … saṅkhāresupi nibbindati … viññāṇasmimpi nibbindati;
nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati; vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Dasamaṁ.
Paṭhamo vaggo.
Tassuddānaṁ
Cakkhu rūpañca viññāṇaṁ,
samphasso vedanāya ca;
Saññā sañcetanā taṇhā,
dhātu khandhena te dasāti.
At Sāvatthī.
“What do you think, Rāhula?
Is form permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
“… feeling …
perception …
choices …
Is consciousness permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.” …
“Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with form, feeling, perception, choices, and consciousness.
Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’”
Vi-n 1 … Tại Sāvatthi.
Vi-n 2 —Này Rāhula, Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
Vi-n 3-6. —Thọ … Tưởng … Hành … Thức là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn. …, …
Vi-n 7 —Thấy vậy, này Rāhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán sắc, nhàm chán thọ, nhàm chán tưởng, nhàm chán hành, nhàm chán thức.
Vi-n 8 Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành; những gì nên làm đã làm; không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Taṁ kiṁ maññasi, rāhula,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante” …
“vedanā …pe…
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante” …
“evaṁ passaṁ, rāhula, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi nibbindati …pe… vedanāyapi nibbindati … saññāyapi nibbindati … saṅkhāresupi nibbindati … viññāṇasmimpi nibbindati;
nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati; vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Dasamaṁ.
Paṭhamo vaggo.
Tassuddānaṁ
Cakkhu rūpañca viññāṇaṁ,
samphasso vedanāya ca;
Saññā sañcetanā taṇhā,
dhātu khandhena te dasāti.