Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda đang ngồi một bên:
—Này Ānanda, nếu có người hỏi Ông: “Này Hiền giả Ānanda, những pháp nào sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ?” Nếu được hỏi vậy, này Ānanda, Ông trả lời như thế nào?
Vi-n 4 —Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con: “Này Hiền giả Ānanda, những pháp nào sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ?” Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như sau:
Vi-n 5 “Trong sắc, này Hiền giả, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Trong thọ … Trong tưởng … Trong các hành … Trong thức, này Hiền giả, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ”. Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như vậy.
Vi-n 6 —Lành thay, lành thay, này Ānanda! Này Ānanda, trong sắc sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Trong thọ … Trong tưởng … Trong các hành … Trong thức, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Này Ānanda, trong những pháp này, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Ðược hỏi vậy, này Ānanda, Ông phải trả lời như vậy.
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho āyasmā ānando …pe…
ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ ānandaṁ bhagavā etadavoca:
“Sace taṁ, ānanda, evaṁ puccheyyuṁ:
‘katamesaṁ, āvuso ānanda, dhammānaṁ uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyatī’ti?
Evaṁ puṭṭho tvaṁ, ānanda, kinti byākareyyāsī”ti?
“Sace maṁ, bhante, evaṁ puccheyyuṁ:
‘katamesaṁ, āvuso ānanda, dhammānaṁ uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyatī’ti?
Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ:
‘rūpassa kho, āvuso, uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyati.
Vedanāya …
saññāya …
saṅkhārānaṁ …
viññāṇassa uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyati.
Imesaṁ kho, āvuso, dhammānaṁ uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyatī’ti.
Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyan”ti.
“Sādhu sādhu, ānanda.
Rūpassa kho, ānanda, uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyati.
Vedanāya …
saññāya …
saṅkhārānaṁ …
viññāṇassa uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyati.
Imesaṁ kho, ānanda, dhammānaṁ uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyatīti.
Evaṁ puṭṭho tvaṁ, ānanda, evaṁ byākareyyāsī”ti.
Pañcamaṁ.
SC 1At Savatthi. Then the Venerable Ānanda approached the Blessed One…. The Blessed One then said to the Venerable Ānanda as he was sitting to one side:
SC 2“If, Ānanda, they were to ask you: ‘Friend Ānanda, what are the things of which an arising is discerned, a vanishing is discerned, an alteration of that which stands is discerned?’—being asked thus, how would you answer?” sn.iii.38
SC 3“Venerable sir, if they were to ask me this, I would answer thus: ‘Friends, with form an arising is discerned, a vanishing is discerned, an alteration of that which stands is discerned. With feeling … perception … volitional formations … consciousness an arising is discerned, a vanishing is discerned, an alteration of that which stands is discerned. These, friends, are the things of which an arising is discerned, a vanishing is discerned, an alteration of that which stands is discerned.’ Being asked thus, venerable sir, I would answer in such a way.”
SC 4“Good, good, Ānanda! With form, Ānanda, an arising is discerned, a vanishing is discerned, an alteration of that which stands is discerned. With feeling … perception … volitional formations … consciousness an arising is discerned, a vanishing is discerned, an alteration of that which stands is discerned. These, Ānanda, are the things of which an arising is discerned, a vanishing is discerned, an alteration of that which stands is discerned. Being asked thus, Ānanda, you should answer in such a way.”
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda đang ngồi một bên:
—Này Ānanda, nếu có người hỏi Ông: “Này Hiền giả Ānanda, những pháp nào sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ?” Nếu được hỏi vậy, này Ānanda, Ông trả lời như thế nào?
Vi-n 4 —Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con: “Này Hiền giả Ānanda, những pháp nào sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ?” Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như sau:
Vi-n 5 “Trong sắc, này Hiền giả, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Trong thọ … Trong tưởng … Trong các hành … Trong thức, này Hiền giả, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ”. Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như vậy.
Vi-n 6 —Lành thay, lành thay, này Ānanda! Này Ānanda, trong sắc sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Trong thọ … Trong tưởng … Trong các hành … Trong thức, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Này Ānanda, trong những pháp này, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại, sự biến đổi được thấy rõ. Ðược hỏi vậy, này Ānanda, Ông phải trả lời như vậy.
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho āyasmā ānando …pe…
ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ ānandaṁ bhagavā etadavoca:
“Sace taṁ, ānanda, evaṁ puccheyyuṁ:
‘katamesaṁ, āvuso ānanda, dhammānaṁ uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyatī’ti?
Evaṁ puṭṭho tvaṁ, ānanda, kinti byākareyyāsī”ti?
“Sace maṁ, bhante, evaṁ puccheyyuṁ:
‘katamesaṁ, āvuso ānanda, dhammānaṁ uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyatī’ti?
Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ:
‘rūpassa kho, āvuso, uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyati.
Vedanāya …
saññāya …
saṅkhārānaṁ …
viññāṇassa uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyati.
Imesaṁ kho, āvuso, dhammānaṁ uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyatī’ti.
Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyan”ti.
“Sādhu sādhu, ānanda.
Rūpassa kho, ānanda, uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyati.
Vedanāya …
saññāya …
saṅkhārānaṁ …
viññāṇassa uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyati.
Imesaṁ kho, ānanda, dhammānaṁ uppādo paññāyati, vayo paññāyati, ṭhitassa aññathattaṁ paññāyatīti.
Evaṁ puṭṭho tvaṁ, ānanda, evaṁ byākareyyāsī”ti.
Pañcamaṁ.