Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Kosambi, tại vườn Ghosita.
Vi-n 2 Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Kosambi để khất thực. Khất thực xong, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, Ngài dọn dẹp chỗ nằm của mình, cầm y bát, không gọi thị giả, không tin cho chúng Tăng biết, một mình, không có người đi theo, ra đi du hành.
Vi-n 3 Rồi một Tỷ-kheo, khi Thế Tôn đi chưa bao lâu, liền đi đến Tôn giả Ānanda; sau khi đến, nói với Tôn giả Ānanda:
—Này Hiền giả Ānanda, Thế Tôn tự sắp xếp sàng tọa của mình, cầm y bát, không gọi thị giả, không tin cho chúng Tăng biết, một mình, không có người đi theo, ra đi du hành.
Vi-n 4 —Này Hiền giả, trong khi Thế Tôn tự sắp xếp sàng tọa của mình, cầm y bát, không gọi thị giả, không tin cho chúng Tăng biết, một mình, không có người đi theo, ra đi du hành; trong khi ấy, Thế Tôn ưa sống một mình; trong khi ấy, Thế Tôn không muốn ai đi theo Ngài.
Vi-n 5 Rồi Thế Tôn tuần tự du hành, đi đến Pālileyyaka. Tại đây, Thế Tôn trú ở Pālileyyaka, dưới gốc cây bhaddasàla.
Vi-n 6 Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Tôn giả Ānanda; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Ānanda những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 7 Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy nói với Tôn giả Ānanda:
—Ðã lâu lắm, này Hiền giả Ānanda, chúng tôi chưa được tận mặt nghe Thế Tôn thuyết pháp. Chúng tôi muốn, này Hiền giả Ānanda, được tận mặt nghe Thế Tôn thuyết pháp.
Vi-n 8 Rồi Tôn giả Ānanda cùng với các Tỷ-kheo ấy đi đến Pālileyyaka, gốc cây bhaddasàla, chỗ Thế Tôn ở; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 9 Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho các Tỷ-kheo ấy, giảng giải, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ.
Vi-n 10 Lúc bấy giờ, một Tỷ-kheo sanh khởi suy nghĩ như sau: “Biết như thế nào, thấy như thế nào, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức?”
Vi-n 11 Thế Tôn với tâm của mình biết được suy nghĩ của Tỷ-kheo ấy, liền nói với các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, pháp đã được giải thích, thuyết giảng. Bốn niệm xứ đã được giải thích, thuyết giảng. Bốn chánh cần đã được giải thích, thuyết giảng. Bốn như ý túc đã được giải thích, thuyết giảng. Năm căn đã được giải thích, thuyết giảng. Năm lực đã được giải thích, thuyết giảng. Bảy bồ-đề phần đã được giải thích, thuyết giảng. Thánh đạo Tám ngành đã được giải thích, thuyết giảng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, pháp được Ta giải thích, thuyết giảng.
Vi-n 12 Dầu cho, này các Tỷ-kheo, các pháp được Ta giải thích, thuyết giảng như vậy, nhưng ở đây có Tỷ-kheo khởi lên suy nghĩ sau đây: “Biết như thế nào, thấy như thế nào, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức?”
Vi-n 13-16. Này các Tỷ-kheo, biết như thế nào, thấy như thế nào, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức? Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, sự quán như vầy là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Từ khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Thọ ấy … xúc ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, do thấy vậy, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.
Vi-n 17 Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã, nhưng có thể quán tự ngã như là có sắc. Sự quán ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy … thọ ấy … xúc ấy … vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, thấy vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.
Vi-n 18 Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã, không quán tự ngã như là có sắc, nhưng có thể quán sắc ở trong tự ngã. Quán ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy … thọ ấy … xúc ấy … vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, thấy vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.
Vi-n 19 Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã, có thể không quán tự ngã như là có sắc, có thể không quán sắc ở trong tự ngã, nhưng có thể quán tự ngã ở trong sắc. Sự quán ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, do cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy … thọ ấy … xúc ấy … vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, thấy vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.
Vi-n 20-21. Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã, có thể không quán tự ngã như là có sắc, có thể không quán sắc ở trong tự ngã, có thể không quán tự ngã ở trong sắc. Nhưng có thể quán thọ như là tự ngã, và có thể quán tự ngã như là có thọ, có thể quán thọ ở trong tự ngã, và có thể quán tự ngã ở trong thọ.
Vi-n 22-23... có thể quán tưởng … có thể quán các hành …
Vi-n 24 .. có thể quán thức như là tự ngã, có thể quán tự ngã như là có thức; có thể quán thức ở trong tự ngã; và có thể quán tự ngã ở trong thức. Sự quán ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, do cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy … thọ ấy … xúc ấy … vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, thấy vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.
Vi-n 25 Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã; có thể không quán thọ như là tự ngã; có thể không quán tưởng … không quán các hành … không quán thức như là tự ngã. Nhưng có thể có (tà) kiến như sau: “Ðây là tự ngã, đây là thế giới; sau khi chết, tôi sẽ trở thành thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại”. Nhưng thường kiến ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi … Do biết như vậy, thấy như vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.
Vi-n 26 Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã; không quán thọ … không quán tưởng … không quán các hành … không quán thức là tự ngã; có thể không có (tà) kiến như sau: “Ðây là tự ngã, đây là thế giới; sau khi chết, tôi sẽ trở thành thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại”. Nhưng vị ấy có thể có (tà) kiến như sau: “Nếu trước ta không có, thời nay không có của ta. Nếu ta sẽ không có, thời sẽ không có của ta”.
Vi-n 27 Ðoạn kiến ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Nhưng hành ấy, lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh khởi, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, do cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy … thọ ấy … vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, thấy vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.
Vi-n 28 Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã … không quán thọ … không quán tưởng … không quán các hành … không quán thức như là tự ngã … không quán tự ngã ở trong thức; không có (tà) kiến như sau: “Ðây là tự ngã, đây là thế giới; sau khi chết tôi sẽ thường còn, thườg hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại”; có thể không có (tà) kiến như sau: “Nếu trước ta không có, thời nay không có của ta. Nếu ta sẽ không có, thời sẽ không có của ta”. Nhưng vị ấy có thể nghi hoặc, do dự, không đạt được cứu cánh trong Chánh pháp này.
Vi-n 29 Nhưng này các Tỷ-kheo, sự nghi hoặc, do dự, không đạt được cứu cánh trong Chánh pháp này là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, do cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Thọ ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Xúc ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh.
Vi-n 30 Này các Tỷ-kheo, do biết như vậy, thấy như vậy, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kosambiyaṁ viharati ghositārāme.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya kosambiṁ piṇḍāya pāvisi.
Kosambiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto sāmaṁ senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya anāmantetvā upaṭṭhāke anapaloketvā bhikkhusaṅghaṁ eko adutiyo cārikaṁ pakkāmi.
Atha kho aññataro bhikkhu acirapakkantassa bhagavato yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“esāvuso ānanda, bhagavā sāmaṁ senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya anāmantetvā upaṭṭhāke anapaloketvā bhikkhusaṅghaṁ eko adutiyo cārikaṁ pakkanto”ti.
“Yasmiṁ, āvuso, samaye bhagavā sāmaṁ senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya anāmantetvā upaṭṭhāke anapaloketvā bhikkhusaṅghaṁ eko adutiyo cārikaṁ pakkamati, ekova bhagavā tasmiṁ samaye viharitukāmo hoti;
na bhagavā tasmiṁ samaye kenaci anubandhitabbo hotī”ti.
Atha kho bhagavā anupubbena cārikaṁ caramāno yena pālileyyakaṁ tadavasari.
Tatra sudaṁ bhagavā pālileyyake viharati bhaddasālamūle.
Atha kho sambahulā bhikkhū yenāyasmā ānando tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmatā ānandena saddhiṁ sammodiṁsu.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū āyasmantaṁ ānandaṁ etadavocuṁ:
“cirassutā kho no, āvuso ānanda, bhagavato sammukhā dhammī kathā;
icchāma mayaṁ, āvuso ānanda, bhagavato sammukhā dhammiṁ kathaṁ sotun”ti.
Atha kho āyasmā ānando tehi bhikkhūhi saddhiṁ yena pālileyyakaṁ bhaddasālamūlaṁ yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinne kho te bhikkhū bhagavā dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
“kathaṁ nu kho jānato kathaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hotī”ti?
Atha kho bhagavā tassa bhikkhuno cetasā cetoparivitakkamaññāya bhikkhū āmantesi:
“vicayaso desito, bhikkhave, mayā dhammo;
vicayaso desitā cattāro satipaṭṭhānā;
vicayaso desitā cattāro sammappadhānā;
vicayaso desitā cattāro iddhipādā;
vicayaso desitāni pañcindriyāni;
vicayaso desitāni pañca balāni;
vicayaso desitā sattabojjhaṅgā;
vicayaso desito ariyo aṭṭhaṅgiko maggo.
Evaṁ vicayaso desito, bhikkhave, mayā dhammo.
Evaṁ vicayaso desite kho, bhikkhave, mayā dhamme atha ca panidhekaccassa bhikkhuno evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
‘kathaṁ nu kho jānato kathaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hotī’ti?
Kathañca, bhikkhave, jānato kathaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hoti?
Idha bhikkhave, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto
rūpaṁ attato samanupassati.
Yā kho pana sā, bhikkhave, samanupassanā saṅkhāro so.
So pana saṅkhāro kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo?
Avijjāsamphassajena, bhikkhave, vedayitena phuṭṭhassa assutavato puthujjanassa uppannā taṇhā;
tatojo so saṅkhāro.
Iti kho, bhikkhave, sopi saṅkhāro anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno.
Sāpi taṇhā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā.
Sāpi vedanā, sopi phasso anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno.
Sāpi avijjā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā.
Evampi kho, bhikkhave, jānato evaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hoti.
Na heva kho rūpaṁ attato samanupassati;
api ca kho rūpavantaṁ attānaṁ samanupassati.
Yā kho pana sā, bhikkhave, samanupassanā saṅkhāro so.
So pana saṅkhāro kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo?
Avijjāsamphassajena, bhikkhave, vedayitena phuṭṭhassa assutavato puthujjanassa uppannā taṇhā;
tatojo so saṅkhāro.
Iti kho, bhikkhave, sopi saṅkhāro anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno.
Sāpi taṇhā …
sāpi vedanā …
sopi phasso …
sāpi avijjā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā.
Evampi kho, bhikkhave, jānato evaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hoti.
Na heva kho rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ attānaṁ samanupassati;
api ca kho attani rūpaṁ samanupassati.
Yā kho pana sā, bhikkhave, samanupassanā saṅkhāro so.
So pana saṅkhāro kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo?
Avijjāsamphassajena, bhikkhave, vedayitena phuṭṭhassa assutavato puthujjanassa uppannā taṇhā;
tatojo so saṅkhāro.
Iti kho, bhikkhave, sopi saṅkhāro anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno.
Sāpi taṇhā …
sāpi vedanā …
sopi phasso …
sāpi avijjā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā.
Evampi kho, bhikkhave, jānato evaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hoti.
Na heva kho rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ attānaṁ samanupassati, na attani rūpaṁ samanupassati;
api ca kho rūpasmiṁ attānaṁ samanupassati.
Yā kho pana sā, bhikkhave, samanupassanā saṅkhāro so.
So pana saṅkhāro kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo?
Avijjāsamphassajena, bhikkhave, vedayitena phuṭṭhassa assutavato puthujjanassa uppannā taṇhā;
tatojo so saṅkhāro.
Iti kho, bhikkhave, sopi saṅkhāro anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno.
Sāpi taṇhā …
sāpi vedanā …
sopi phasso …
sāpi avijjā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā.
Evampi kho, bhikkhave, jānato …pe… āsavānaṁ khayo hoti.
Na heva kho rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ attānaṁ, na attani rūpaṁ, na rūpasmiṁ attānaṁ samanupassati;
api ca kho vedanaṁ attato samanupassati, api ca kho vedanāvantaṁ attānaṁ samanupassati, api ca kho attani vedanaṁ samanupassati, api ca kho vedanāya attānaṁ samanupassati;
api ca kho saññaṁ …
api ca kho saṅkhāre attato samanupassati, api ca kho saṅkhāravantaṁ attānaṁ samanupassati, api ca kho attani saṅkhāre samanupassati, api ca kho saṅkhāresu attānaṁ samanupassati;
api ca kho viññāṇaṁ attato samanupassati, api ca kho viññāṇavantaṁ attānaṁ, api ca kho attani viññāṇaṁ, api ca kho viññāṇasmiṁ attānaṁ samanupassati.
Yā kho pana sā, bhikkhave, samanupassanā saṅkhāro so.
So pana saṅkhāro kiṁnidāno …pe… kiṁpabhavo?
Avijjāsamphassajena, bhikkhave, vedayitena phuṭṭhassa assutavato puthujjanassa uppannā taṇhā;
tatojo so saṅkhāro.
Iti kho, bhikkhave, sopi saṅkhāro anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno.
Sāpi taṇhā …
sāpi vedanā …
sopi phasso …
sāpi avijjā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā.
Evaṁ kho, bhikkhave, jānato evaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hoti.
Na heva kho rūpaṁ attato samanupassati,
na vedanaṁ attato samanupassati,
na saññaṁ …
na saṅkhāre …
na viññāṇaṁ attato samanupassati;
api ca kho evaṁdiṭṭhi hoti:
‘so attā so loko, so pecca bhavissāmi nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo’ti.
Yā kho pana sā, bhikkhave, sassatadiṭṭhi saṅkhāro so.
So pana saṅkhāro kiṁnidāno …pe…
evampi kho, bhikkhave, jānato evaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hoti.
Na heva kho rūpaṁ attato samanupassati,
na vedanaṁ …
na saññaṁ …
na saṅkhāre …
na viññāṇaṁ attato samanupassati;
nāpi evaṁdiṭṭhi hoti:
‘so attā so loko, so pecca bhavissāmi nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo’ti.
Api ca kho evaṁdiṭṭhi hoti:
‘no cassaṁ no ca me siyā nābhavissaṁ na me bhavissatī’ti.
Yā kho pana sā, bhikkhave, ucchedadiṭṭhi saṅkhāro so.
So pana saṅkhāro kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo?
Avijjāsamphassajena, bhikkhave, vedayitena phuṭṭhassa assutavato puthujjanassa uppannā taṇhā;
tatojo so saṅkhāro.
Iti kho, bhikkhave, sopi saṅkhāro anicco …pe…
evampi kho, bhikkhave, jānato evaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hoti.
Na heva kho rūpaṁ attato samanupassati, na vedanaṁ …
na saññaṁ …
na saṅkhāre …
na viññāṇaṁ attato samanupassati …pe…
na viññāṇasmiṁ attato samanupassati, nāpi evaṁdiṭṭhi hoti:
‘so attā so loko, so pecca bhavissāmi nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo’ti;
nāpi evaṁdiṭṭhi hoti:
‘no cassaṁ no ca me siyā nābhavissaṁ na me bhavissatī’ti;
api ca kho kaṅkhī hoti vicikicchī aniṭṭhaṅgato saddhamme.
Yā kho pana sā, bhikkhave, kaṅkhitā vicikicchitā aniṭṭhaṅgatatā saddhamme saṅkhāro so.
So pana saṅkhāro kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo?
Avijjāsamphassajena, bhikkhave, vedayitena phuṭṭhassa assutavato puthujjanassa uppannā taṇhā;
tatojo so saṅkhāro.
Iti kho, bhikkhave, sopi saṅkhāro anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno.
Sāpi taṇhā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā.
Sāpi vedanā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā.
Sopi phasso anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno.
Sāpi avijjā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā.
Evaṁ kho, bhikkhave, jānato evaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hotī”ti.
Navamaṁ.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling at Kosambi in Ghosita’s Park.
SC 2Then, in the morning, the Blessed One dressed and, taking bowl and robe, entered Kosambi for alms. When he had walked for alms in Kosambi and had returned from the alms round, after his meal sn.iii.95 he set his lodging in order himself, took his bowl and robe, and without informing his personal attendants, without taking leave of the Bhikkhu Saṅgha, he set out on tour alone, without a companion.
SC 3Then, not long after the Blessed One had departed, a certain bhikkhu approached the Venerable Ānanda and told him: “Friend Ānanda, the Blessed One has set his lodging in order himself, taken his bowl and robe, and without informing his personal attendants, without taking leave of the Bhikkhu Saṅgha, he has set out on tour alone, without a companion.”
SC 4“Friend, whenever the Blessed One sets out like that he wishes to dwell alone. On such an occasion the Blessed One should not be followed by anyone.”
SC 5Then the Blessed One, wandering by stages, arrived at Parileyyaka. There at Parileyyaka the Blessed One dwelt at the foot of an auspicious sal tree.
SC 6Then a number of bhikkhus approached the Venerable Ānanda and exchanged greetings with him. When they had concluded their greetings and cordial talk, they sat down to one side and said to the Venerable Ānanda: “Friend Ānanda, it has been a long time since we heard a Dhamma talk in the presence of the Blessed One. We should like to hear such a talk, friend Ānanda.”
SC 7Then the Venerable Ānanda together with those bhikkhus approached the Blessed One at Parileyyaka, at the foot of the auspicious sal tree. Having approached, they paid homage to the Blessed One and sat down to one side. The Blessed One then instructed, exhorted, inspired, and gladdened those bhikkhus with a Dhamma talk. sn.iii.96 Now on that occasion a reflection arose in the mind of a certain bhikkhu thus: “How should one know, how should one see, for the immediate destruction of the taints to occur?”
SC 8The Blessed One, having known with his own mind the reflection in that bhikkhu’s mind, addressed the bhikkhus thus:
SC 9“Bhikkhus, this Dhamma has been taught by me discriminately. The four establishments of mindfulness have been taught by me discriminately. The four right strivings … The four bases for spiritual power … The five spiritual faculties … The five powers … The seven factors of enlightenment … The Noble Eightfold Path has been taught by me discriminately. Bhikkhus, in regard to the Dhamma that has been thus taught by me discriminately, a reflection arose in the mind of a certain bhikkhu thus: ‘How should one know, how should one see, for the immediate destruction of the taints to occur?’
SC 10“And how, bhikkhus, should one know, how should one see, for the immediate destruction of the taints to occur? Here, bhikkhus, the uninstructed worldling, who is not a seer of the noble ones and is unskilled and undisciplined in their Dhamma, who is not a seer of superior persons and is unskilled and undisciplined in their Dhamma, regards form as self. That regarding, bhikkhus, is a formation. That formation—what is its source, what is its origin, from what is it born and produced? When the uninstructed worldling is contacted by a feeling born of ignorance-contact, craving arises: thence that formation is born.
SC 11“Thus, bhikkhus, that formation is impermanent, conditioned, dependently arisen; that craving is impermanent, conditioned, dependently arisen; that feeling is impermanent, conditioned, dependently arisen; that contact is impermanent, conditioned, dependently arisen; that ignorance is impermanent, conditioned, dependently arisen. sn.iii.97 When one knows and sees thus, bhikkhus, the immediate destruction of the taints occurs.
SC 12“He may not regard form as self, but he regards self as possessing form. That regarding is a formation … all as above … When one knows and sees thus, bhikkhus, the immediate destruction of the taints occurs.
SC 13“He may not regard form as self or self as possessing form, but he regards form as in self. That regarding is a formation….
SC 14“He may not regard form as self or self as possessing form or form as in self, but he regards self as in form. That regarding is a formation…. sn.iii.98
SC 15“He may not regard form as self … or self as in form, but he regards feeling as self … perception as self … volitional formations as self … consciousness as self … self as in consciousness. That regarding is a formation…. When one knows and sees thus, bhikkhus, the immediate destruction of the taints occurs.
SC 16“He may not regard form as self … sn.iii.99 … or self as in consciousness, but he holds such a view as this: ‘That which is the self is the world; having passed away, that I shall be—permanent, stable, eternal, not subject to change.’ That eternalist view is a formation…. When one knows and sees thus, bhikkhus, the immediate destruction of the taints occurs.
SC 17“He may not regard form as self … or hold such an eternalist view, but he holds such a view as this: ‘I might not be, and it might not be for me; I will not be, and it will not be for me.’ That annihilationist view is a formation….
SC 18“He may not regard form as self … or hold such an annihilationist view, but he is perplexed, doubtful, indecisive in regard to the true Dhamma. That perplexity, doubtfulness, indecisive-ness in regard to the true Dhamma is a formation. That formation—what is its source, what is its origin, from what is it born and produced? When the uninstructed worldling is contacted by a feeling born of ignorance-contact, craving arises: thence that formation is born.
SC 19“So that formation, bhikkhus, is impermanent, conditioned, dependently arisen; that craving is impermanent, conditioned, dependently arisen; that feeling is impermanent, conditioned, dependently arisen; that contact is impermanent, conditioned, dependently arisen; that ignorance is impermanent, conditioned, dependently arisen. When one knows and sees thus, bhikkhus, the immediate destruction of the taints occurs.” sn.iii.100
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Kosambi, tại vườn Ghosita.
Vi-n 2 Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Kosambi để khất thực. Khất thực xong, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, Ngài dọn dẹp chỗ nằm của mình, cầm y bát, không gọi thị giả, không tin cho chúng Tăng biết, một mình, không có người đi theo, ra đi du hành.
Vi-n 3 Rồi một Tỷ-kheo, khi Thế Tôn đi chưa bao lâu, liền đi đến Tôn giả Ānanda; sau khi đến, nói với Tôn giả Ānanda:
—Này Hiền giả Ānanda, Thế Tôn tự sắp xếp sàng tọa của mình, cầm y bát, không gọi thị giả, không tin cho chúng Tăng biết, một mình, không có người đi theo, ra đi du hành.
Vi-n 4 —Này Hiền giả, trong khi Thế Tôn tự sắp xếp sàng tọa của mình, cầm y bát, không gọi thị giả, không tin cho chúng Tăng biết, một mình, không có người đi theo, ra đi du hành; trong khi ấy, Thế Tôn ưa sống một mình; trong khi ấy, Thế Tôn không muốn ai đi theo Ngài.
Vi-n 5 Rồi Thế Tôn tuần tự du hành, đi đến Pālileyyaka. Tại đây, Thế Tôn trú ở Pālileyyaka, dưới gốc cây bhaddasàla.
Vi-n 6 Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Tôn giả Ānanda; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Ānanda những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 7 Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy nói với Tôn giả Ānanda:
—Ðã lâu lắm, này Hiền giả Ānanda, chúng tôi chưa được tận mặt nghe Thế Tôn thuyết pháp. Chúng tôi muốn, này Hiền giả Ānanda, được tận mặt nghe Thế Tôn thuyết pháp.
Vi-n 8 Rồi Tôn giả Ānanda cùng với các Tỷ-kheo ấy đi đến Pālileyyaka, gốc cây bhaddasàla, chỗ Thế Tôn ở; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 9 Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho các Tỷ-kheo ấy, giảng giải, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ.
Vi-n 10 Lúc bấy giờ, một Tỷ-kheo sanh khởi suy nghĩ như sau: “Biết như thế nào, thấy như thế nào, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức?”
Vi-n 11 Thế Tôn với tâm của mình biết được suy nghĩ của Tỷ-kheo ấy, liền nói với các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, pháp đã được giải thích, thuyết giảng. Bốn niệm xứ đã được giải thích, thuyết giảng. Bốn chánh cần đã được giải thích, thuyết giảng. Bốn như ý túc đã được giải thích, thuyết giảng. Năm căn đã được giải thích, thuyết giảng. Năm lực đã được giải thích, thuyết giảng. Bảy bồ-đề phần đã được giải thích, thuyết giảng. Thánh đạo Tám ngành đã được giải thích, thuyết giảng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, pháp được Ta giải thích, thuyết giảng.
Vi-n 12 Dầu cho, này các Tỷ-kheo, các pháp được Ta giải thích, thuyết giảng như vậy, nhưng ở đây có Tỷ-kheo khởi lên suy nghĩ sau đây: “Biết như thế nào, thấy như thế nào, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức?”
Vi-n 13-16. Này các Tỷ-kheo, biết như thế nào, thấy như thế nào, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức? Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, sự quán như vầy là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Từ khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Thọ ấy … xúc ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, do thấy vậy, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.
Vi-n 17 Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã, nhưng có thể quán tự ngã như là có sắc. Sự quán ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy … thọ ấy … xúc ấy … vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, thấy vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.
Vi-n 18 Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã, không quán tự ngã như là có sắc, nhưng có thể quán sắc ở trong tự ngã. Quán ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy … thọ ấy … xúc ấy … vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, thấy vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.
Vi-n 19 Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã, có thể không quán tự ngã như là có sắc, có thể không quán sắc ở trong tự ngã, nhưng có thể quán tự ngã ở trong sắc. Sự quán ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, do cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy … thọ ấy … xúc ấy … vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, thấy vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.
Vi-n 20-21. Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã, có thể không quán tự ngã như là có sắc, có thể không quán sắc ở trong tự ngã, có thể không quán tự ngã ở trong sắc. Nhưng có thể quán thọ như là tự ngã, và có thể quán tự ngã như là có thọ, có thể quán thọ ở trong tự ngã, và có thể quán tự ngã ở trong thọ.
Vi-n 22-23... có thể quán tưởng … có thể quán các hành …
Vi-n 24 .. có thể quán thức như là tự ngã, có thể quán tự ngã như là có thức; có thể quán thức ở trong tự ngã; và có thể quán tự ngã ở trong thức. Sự quán ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, do cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy … thọ ấy … xúc ấy … vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, thấy vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.
Vi-n 25 Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã; có thể không quán thọ như là tự ngã; có thể không quán tưởng … không quán các hành … không quán thức như là tự ngã. Nhưng có thể có (tà) kiến như sau: “Ðây là tự ngã, đây là thế giới; sau khi chết, tôi sẽ trở thành thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại”. Nhưng thường kiến ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi … Do biết như vậy, thấy như vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.
Vi-n 26 Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã; không quán thọ … không quán tưởng … không quán các hành … không quán thức là tự ngã; có thể không có (tà) kiến như sau: “Ðây là tự ngã, đây là thế giới; sau khi chết, tôi sẽ trở thành thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại”. Nhưng vị ấy có thể có (tà) kiến như sau: “Nếu trước ta không có, thời nay không có của ta. Nếu ta sẽ không có, thời sẽ không có của ta”.
Vi-n 27 Ðoạn kiến ấy, này các Tỷ-kheo, là hành. Nhưng hành ấy, lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh khởi, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, do cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy … thọ ấy … vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do biết vậy, thấy vậy, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.
Vi-n 28 Vị ấy có thể không quán sắc như là tự ngã … không quán thọ … không quán tưởng … không quán các hành … không quán thức như là tự ngã … không quán tự ngã ở trong thức; không có (tà) kiến như sau: “Ðây là tự ngã, đây là thế giới; sau khi chết tôi sẽ thường còn, thườg hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại”; có thể không có (tà) kiến như sau: “Nếu trước ta không có, thời nay không có của ta. Nếu ta sẽ không có, thời sẽ không có của ta”. Nhưng vị ấy có thể nghi hoặc, do dự, không đạt được cứu cánh trong Chánh pháp này.
Vi-n 29 Nhưng này các Tỷ-kheo, sự nghi hoặc, do dự, không đạt được cứu cánh trong Chánh pháp này là hành. Hành ấy lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì sanh, lấy gì làm hiện hữu? Ðối với kẻ vô văn phàm phu, này các Tỷ-kheo, do cảm xúc bởi thọ sanh ra do xúc chạm với vô minh, khát ái sanh. Do khát ái ấy, hành ấy sanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, hành ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Khát ái ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Thọ ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Xúc ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Vô minh ấy là vô thường, hữu vi, do duyên sanh.
Vi-n 30 Này các Tỷ-kheo, do biết như vậy, thấy như vậy, các lậu hoặc được đoạn tận lập tức.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kosambiyaṁ viharati ghositārāme.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya kosambiṁ piṇḍāya pāvisi.
Kosambiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto sāmaṁ senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya anāmantetvā upaṭṭhāke anapaloketvā bhikkhusaṅghaṁ eko adutiyo cārikaṁ pakkāmi.
Atha kho aññataro bhikkhu acirapakkantassa bhagavato yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“esāvuso ānanda, bhagavā sāmaṁ senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya anāmantetvā upaṭṭhāke anapaloketvā bhikkhusaṅghaṁ eko adutiyo cārikaṁ pakkanto”ti.
“Yasmiṁ, āvuso, samaye bhagavā sāmaṁ senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya anāmantetvā upaṭṭhāke anapaloketvā bhikkhusaṅghaṁ eko adutiyo cārikaṁ pakkamati, ekova bhagavā tasmiṁ samaye viharitukāmo hoti;
na bhagavā tasmiṁ samaye kenaci anubandhitabbo hotī”ti.
Atha kho bhagavā anupubbena cārikaṁ caramāno yena pālileyyakaṁ tadavasari.
Tatra sudaṁ bhagavā pālileyyake viharati bhaddasālamūle.
Atha kho sambahulā bhikkhū yenāyasmā ānando tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmatā ānandena saddhiṁ sammodiṁsu.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū āyasmantaṁ ānandaṁ etadavocuṁ:
“cirassutā kho no, āvuso ānanda, bhagavato sammukhā dhammī kathā;
icchāma mayaṁ, āvuso ānanda, bhagavato sammukhā dhammiṁ kathaṁ sotun”ti.
Atha kho āyasmā ānando tehi bhikkhūhi saddhiṁ yena pālileyyakaṁ bhaddasālamūlaṁ yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinne kho te bhikkhū bhagavā dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Tena kho pana samayena aññatarassa bhikkhuno evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
“kathaṁ nu kho jānato kathaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hotī”ti?
Atha kho bhagavā tassa bhikkhuno cetasā cetoparivitakkamaññāya bhikkhū āmantesi:
“vicayaso desito, bhikkhave, mayā dhammo;
vicayaso desitā cattāro satipaṭṭhānā;
vicayaso desitā cattāro sammappadhānā;
vicayaso desitā cattāro iddhipādā;
vicayaso desitāni pañcindriyāni;
vicayaso desitāni pañca balāni;
vicayaso desitā sattabojjhaṅgā;
vicayaso desito ariyo aṭṭhaṅgiko maggo.
Evaṁ vicayaso desito, bhikkhave, mayā dhammo.
Evaṁ vicayaso desite kho, bhikkhave, mayā dhamme atha ca panidhekaccassa bhikkhuno evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
‘kathaṁ nu kho jānato kathaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hotī’ti?
Kathañca, bhikkhave, jānato kathaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hoti?
Idha bhikkhave, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto, sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto
rūpaṁ attato samanupassati.
Yā kho pana sā, bhikkhave, samanupassanā saṅkhāro so.
So pana saṅkhāro kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo?
Avijjāsamphassajena, bhikkhave, vedayitena phuṭṭhassa assutavato puthujjanassa uppannā taṇhā;
tatojo so saṅkhāro.
Iti kho, bhikkhave, sopi saṅkhāro anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno.
Sāpi taṇhā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā.
Sāpi vedanā, sopi phasso anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno.
Sāpi avijjā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā.
Evampi kho, bhikkhave, jānato evaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hoti.
Na heva kho rūpaṁ attato samanupassati;
api ca kho rūpavantaṁ attānaṁ samanupassati.
Yā kho pana sā, bhikkhave, samanupassanā saṅkhāro so.
So pana saṅkhāro kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo?
Avijjāsamphassajena, bhikkhave, vedayitena phuṭṭhassa assutavato puthujjanassa uppannā taṇhā;
tatojo so saṅkhāro.
Iti kho, bhikkhave, sopi saṅkhāro anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno.
Sāpi taṇhā …
sāpi vedanā …
sopi phasso …
sāpi avijjā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā.
Evampi kho, bhikkhave, jānato evaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hoti.
Na heva kho rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ attānaṁ samanupassati;
api ca kho attani rūpaṁ samanupassati.
Yā kho pana sā, bhikkhave, samanupassanā saṅkhāro so.
So pana saṅkhāro kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo?
Avijjāsamphassajena, bhikkhave, vedayitena phuṭṭhassa assutavato puthujjanassa uppannā taṇhā;
tatojo so saṅkhāro.
Iti kho, bhikkhave, sopi saṅkhāro anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno.
Sāpi taṇhā …
sāpi vedanā …
sopi phasso …
sāpi avijjā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā.
Evampi kho, bhikkhave, jānato evaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hoti.
Na heva kho rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ attānaṁ samanupassati, na attani rūpaṁ samanupassati;
api ca kho rūpasmiṁ attānaṁ samanupassati.
Yā kho pana sā, bhikkhave, samanupassanā saṅkhāro so.
So pana saṅkhāro kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo?
Avijjāsamphassajena, bhikkhave, vedayitena phuṭṭhassa assutavato puthujjanassa uppannā taṇhā;
tatojo so saṅkhāro.
Iti kho, bhikkhave, sopi saṅkhāro anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno.
Sāpi taṇhā …
sāpi vedanā …
sopi phasso …
sāpi avijjā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā.
Evampi kho, bhikkhave, jānato …pe… āsavānaṁ khayo hoti.
Na heva kho rūpaṁ attato samanupassati, na rūpavantaṁ attānaṁ, na attani rūpaṁ, na rūpasmiṁ attānaṁ samanupassati;
api ca kho vedanaṁ attato samanupassati, api ca kho vedanāvantaṁ attānaṁ samanupassati, api ca kho attani vedanaṁ samanupassati, api ca kho vedanāya attānaṁ samanupassati;
api ca kho saññaṁ …
api ca kho saṅkhāre attato samanupassati, api ca kho saṅkhāravantaṁ attānaṁ samanupassati, api ca kho attani saṅkhāre samanupassati, api ca kho saṅkhāresu attānaṁ samanupassati;
api ca kho viññāṇaṁ attato samanupassati, api ca kho viññāṇavantaṁ attānaṁ, api ca kho attani viññāṇaṁ, api ca kho viññāṇasmiṁ attānaṁ samanupassati.
Yā kho pana sā, bhikkhave, samanupassanā saṅkhāro so.
So pana saṅkhāro kiṁnidāno …pe… kiṁpabhavo?
Avijjāsamphassajena, bhikkhave, vedayitena phuṭṭhassa assutavato puthujjanassa uppannā taṇhā;
tatojo so saṅkhāro.
Iti kho, bhikkhave, sopi saṅkhāro anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno.
Sāpi taṇhā …
sāpi vedanā …
sopi phasso …
sāpi avijjā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā.
Evaṁ kho, bhikkhave, jānato evaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hoti.
Na heva kho rūpaṁ attato samanupassati,
na vedanaṁ attato samanupassati,
na saññaṁ …
na saṅkhāre …
na viññāṇaṁ attato samanupassati;
api ca kho evaṁdiṭṭhi hoti:
‘so attā so loko, so pecca bhavissāmi nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo’ti.
Yā kho pana sā, bhikkhave, sassatadiṭṭhi saṅkhāro so.
So pana saṅkhāro kiṁnidāno …pe…
evampi kho, bhikkhave, jānato evaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hoti.
Na heva kho rūpaṁ attato samanupassati,
na vedanaṁ …
na saññaṁ …
na saṅkhāre …
na viññāṇaṁ attato samanupassati;
nāpi evaṁdiṭṭhi hoti:
‘so attā so loko, so pecca bhavissāmi nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo’ti.
Api ca kho evaṁdiṭṭhi hoti:
‘no cassaṁ no ca me siyā nābhavissaṁ na me bhavissatī’ti.
Yā kho pana sā, bhikkhave, ucchedadiṭṭhi saṅkhāro so.
So pana saṅkhāro kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo?
Avijjāsamphassajena, bhikkhave, vedayitena phuṭṭhassa assutavato puthujjanassa uppannā taṇhā;
tatojo so saṅkhāro.
Iti kho, bhikkhave, sopi saṅkhāro anicco …pe…
evampi kho, bhikkhave, jānato evaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hoti.
Na heva kho rūpaṁ attato samanupassati, na vedanaṁ …
na saññaṁ …
na saṅkhāre …
na viññāṇaṁ attato samanupassati …pe…
na viññāṇasmiṁ attato samanupassati, nāpi evaṁdiṭṭhi hoti:
‘so attā so loko, so pecca bhavissāmi nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo’ti;
nāpi evaṁdiṭṭhi hoti:
‘no cassaṁ no ca me siyā nābhavissaṁ na me bhavissatī’ti;
api ca kho kaṅkhī hoti vicikicchī aniṭṭhaṅgato saddhamme.
Yā kho pana sā, bhikkhave, kaṅkhitā vicikicchitā aniṭṭhaṅgatatā saddhamme saṅkhāro so.
So pana saṅkhāro kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo?
Avijjāsamphassajena, bhikkhave, vedayitena phuṭṭhassa assutavato puthujjanassa uppannā taṇhā;
tatojo so saṅkhāro.
Iti kho, bhikkhave, sopi saṅkhāro anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno.
Sāpi taṇhā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā.
Sāpi vedanā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā.
Sopi phasso anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno.
Sāpi avijjā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā.
Evaṁ kho, bhikkhave, jānato evaṁ passato anantarā āsavānaṁ khayo hotī”ti.
Navamaṁ.