Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Rādha bạch Thế Tôn:
: “Māra, Māra”, bạch Thế Tôn, như vậy được gọi đến. Thế nào là Māra, bạch Thế Tôn?
Vi-n 4 —Sắc, này Rādha, là Māra. Thọ là Māra. Tưởng là Māra. Hành là Māra. Thức là Māra.
Vi-n 5 Do thấy vậy, này Rādha, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Sāvatthinidānaṁ.
Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā rādho bhagavantaṁ etadavoca:
“‘māro, māro’ti, bhante, vuccati.
Katamo nu kho, bhante, māro”ti?
“Rūpaṁ kho, rādha, māro, vedanā māro, saññā māro, saṅkhārā māro, viññāṇaṁ māro.
Evaṁ passaṁ, rādha, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi nibbindati, vedanāyapi nibbindati, saññāyapi nibbindati, saṅkhāresupi nibbindati, viññāṇasmimpi nibbindati.
Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Paṭhamaṁ.
At Sāvatthī.
Seated to one side, Venerable Rādha said to the Buddha:
“Sir, they speak of this thing called ‘Māra’.
How is Māra defined?”
“Rādha, form is Māra, feeling is Māra, perception is Māra, choices are Māra, consciousness is Māra.
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with form, feeling, perception, choices, and consciousness.
Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’”
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Rādha bạch Thế Tôn:
: “Māra, Māra”, bạch Thế Tôn, như vậy được gọi đến. Thế nào là Māra, bạch Thế Tôn?
Vi-n 4 —Sắc, này Rādha, là Māra. Thọ là Māra. Tưởng là Māra. Hành là Māra. Thức là Māra.
Vi-n 5 Do thấy vậy, này Rādha, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Sāvatthinidānaṁ.
Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā rādho bhagavantaṁ etadavoca:
“‘māro, māro’ti, bhante, vuccati.
Katamo nu kho, bhante, māro”ti?
“Rūpaṁ kho, rādha, māro, vedanā māro, saññā māro, saṅkhārā māro, viññāṇaṁ māro.
Evaṁ passaṁ, rādha, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi nibbindati, vedanāyapi nibbindati, saññāyapi nibbindati, saṅkhāresupi nibbindati, viññāṇasmimpi nibbindati.
Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Paṭhamaṁ.