Vi-n 1 Một thời, một Tỷ-kheo trú giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo ấy đang ngủ ngày.
Vi-n 3 Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, thương xót Tỷ-kheo ấy, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác, liền đi đến Tỷ-kheo ấy.
Vi-n 4 Sau khi đến, vị ấy nói lên những bài kệ cho Tỷ-kheo ấy:
Tỷ-kheo, hãy thức dậy,
Sao Ông hãy còn nằm?
Ông được lợi ích gì,
Trong giấc ngủ của ông?
Kẻ bịnh, kẻ trúng tên,
Bị đánh sao ngủ được?
Vì lòng tin, xuất gia,
Bỏ nhà, sống không nhà,
Tín ấy cần phát triển,
Chớ để ngủ chinh phục.
Vi-n 5 (Vị Tỷ-kheo):
Các dục là vô thường,
Chỉ kẻ ngu say đắm,
Ðã giải thoát triền phược,
Không còn bị ái trước.
Hạnh xuất gia như vậy,
Sao để dục nhiệt não?
Ðã nhiếp phục dục ái,
Vượt thoát lưới vô minh,
Với chánh trí thanh tịnh,
Hạnh xuất gia như vậy,
Sao để dục nhiệt não?
Với minh phá vô minh,
Ðoạn diệt các lậu hoặc,
Không sầu, không ưu não,
Hạnh xuất gia như vậy,
Sao để dục nhiệt não?
Tinh tấn và nhiệt tâm,
Thường dõng mãnh cầu tiến,
Hướng vọng đến Niết-bàn,
Hạnh xuất gia như vậy,
Sao để dục nhiệt não?
Ekaṁ samayaṁ aññataro bhikkhu kosalesu viharati aññatarasmiṁ vanasaṇḍe.
Tena kho pana samayena so bhikkhu divāvihāragato supati.
Atha kho yā tasmiṁ vanasaṇḍe adhivatthā devatā tassa bhikkhuno anukampikā atthakāmā taṁ bhikkhuṁ saṁvejetukāmā yena so bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ gāthāhi ajjhabhāsi:
“Uṭṭhehi bhikkhu kiṁ sesi,
ko attho supitena te;
Āturassa hi kā niddā,
sallaviddhassa ruppato.
Yāya saddhāya pabbajito,
agārasmānagāriyaṁ;
Tameva saddhaṁ brūhehi,
mā niddāya vasaṁ gamī”ti.
“Aniccā addhuvā kāmā,
yesu mandova mucchito;
Baddhesu muttaṁ asitaṁ,
kasmā pabbajitaṁ tape.
Chandarāgassa vinayā,
avijjāsamatikkamā;
Taṁ ñāṇaṁ paramodānaṁ,
kasmā pabbajitaṁ tape.
Chetvā avijjaṁ vijjāya,
āsavānaṁ parikkhayā;
Asokaṁ anupāyāsaṁ,
kasmā pabbajitaṁ tape.
Āraddhavīriyaṁ pahitattaṁ,
Niccaṁ daḷhaparakkamaṁ;
Nibbānaṁ abhikaṅkhantaṁ,
Kasmā pabbajitaṁ tape”ti.
At one time one of the mendicants was staying in the land of the Kosalans in a certain forest grove.
Now at that time that mendicant went for the day’s meditation, but fell asleep.
The deity haunting that forest had sympathy for that mendicant, and wanted what’s best for them. So they approached that mendicant wanting to stir them up, and addressed them in verse:
“Get up, mendicant! Why lie down?
What’s the point in sleeping?
How can the afflicted slumber,
inflicted by an arrow strike?
You should amplify the faith
that led you to go forth
from the home life to homelessness.
Don’t fall under the sway of slumber.”
“Sensual pleasures are impermanent and unstable,
but dullards still fall for them.
Among those who are bound, they’re free and unattached:
why bother a renunciate?
By removing desire and greed,
by going beyond ignorance,
that knowledge has been perfectly cleansed:
why bother a renunciate?
By breaking ignorance with knowledge,
by the ending of defilements,
they’re sorrowless, unstressed:
why bother a renunciate?
Energetic, resolute,
always staunchly vigorous,
aspiring to extinguishment:
why bother a renunciate?”
Vi-n 1 Một thời, một Tỷ-kheo trú giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo ấy đang ngủ ngày.
Vi-n 3 Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, thương xót Tỷ-kheo ấy, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác, liền đi đến Tỷ-kheo ấy.
Vi-n 4 Sau khi đến, vị ấy nói lên những bài kệ cho Tỷ-kheo ấy:
Tỷ-kheo, hãy thức dậy,
Sao Ông hãy còn nằm?
Ông được lợi ích gì,
Trong giấc ngủ của ông?
Kẻ bịnh, kẻ trúng tên,
Bị đánh sao ngủ được?
Vì lòng tin, xuất gia,
Bỏ nhà, sống không nhà,
Tín ấy cần phát triển,
Chớ để ngủ chinh phục.
Vi-n 5 (Vị Tỷ-kheo):
Các dục là vô thường,
Chỉ kẻ ngu say đắm,
Ðã giải thoát triền phược,
Không còn bị ái trước.
Hạnh xuất gia như vậy,
Sao để dục nhiệt não?
Ðã nhiếp phục dục ái,
Vượt thoát lưới vô minh,
Với chánh trí thanh tịnh,
Hạnh xuất gia như vậy,
Sao để dục nhiệt não?
Với minh phá vô minh,
Ðoạn diệt các lậu hoặc,
Không sầu, không ưu não,
Hạnh xuất gia như vậy,
Sao để dục nhiệt não?
Tinh tấn và nhiệt tâm,
Thường dõng mãnh cầu tiến,
Hướng vọng đến Niết-bàn,
Hạnh xuất gia như vậy,
Sao để dục nhiệt não?
Ekaṁ samayaṁ aññataro bhikkhu kosalesu viharati aññatarasmiṁ vanasaṇḍe.
Tena kho pana samayena so bhikkhu divāvihāragato supati.
Atha kho yā tasmiṁ vanasaṇḍe adhivatthā devatā tassa bhikkhuno anukampikā atthakāmā taṁ bhikkhuṁ saṁvejetukāmā yena so bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ gāthāhi ajjhabhāsi:
“Uṭṭhehi bhikkhu kiṁ sesi,
ko attho supitena te;
Āturassa hi kā niddā,
sallaviddhassa ruppato.
Yāya saddhāya pabbajito,
agārasmānagāriyaṁ;
Tameva saddhaṁ brūhehi,
mā niddāya vasaṁ gamī”ti.
“Aniccā addhuvā kāmā,
yesu mandova mucchito;
Baddhesu muttaṁ asitaṁ,
kasmā pabbajitaṁ tape.
Chandarāgassa vinayā,
avijjāsamatikkamā;
Taṁ ñāṇaṁ paramodānaṁ,
kasmā pabbajitaṁ tape.
Chetvā avijjaṁ vijjāya,
āsavānaṁ parikkhayā;
Asokaṁ anupāyāsaṁ,
kasmā pabbajitaṁ tape.
Āraddhavīriyaṁ pahitattaṁ,
Niccaṁ daḷhaparakkamaṁ;
Nibbānaṁ abhikaṅkhantaṁ,
Kasmā pabbajitaṁ tape”ti.