S.iv,221Vi-n 1 …
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn …
Vi-n 3 Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda đang ngồi một bên:
—Này Ānanda, thế nào là các thọ? Thế nào là thọ tập khởi? Thế nào là thọ đoạn diệt? Thế nào là con đường đưa đến thọ đoạn diệt? Thế nào là vị ngọt của thọ? Thế nào là sự nguy hiểm của thọ? Thế nào là sự xuất ly của thọ?
Vi-n 4 —Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm chỉ đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn nói cho ý nghĩa của lời nói này! Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
—Vậy này Ānanda, hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ānanda vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 5-8. Thế Tôn nói như sau:
—Này Ānanda, có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này Ānanda, đây gọi là các thọ. Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt … (như kinh trên từ số 4 đến số 7). Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tham được khinh an, sân được khinh an, si được khinh an.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ ānandaṁ bhagavā etadavoca:
“katamā nu kho, ānanda, vedanā, katamo vedanāsamudayo, katamo vedanānirodho, katamā vedanānirodhagāminī paṭipadā?
Ko vedanāya assādo, ko ādīnavo, kiṁ nissaraṇan”ti?
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā bhagavaṁnettikā bhagavaṁpaṭisaraṇā. Sādhu, bhante, bhagavantaññeva paṭibhātu etassa bhāsitassa attho. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tena hi, ānanda, suṇohi, sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Bhagavā etadavoca:
“tisso imā, ānanda, vedanā—
sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā—
imā vuccanti, ānanda, vedanā …pe…
phassasamudayā …pe…
khīṇāsavassa bhikkhuno rāgo paṭippassaddho hoti, doso paṭippassaddho hoti, moho paṭippassaddho hotī”ti.
Chaṭṭhaṁ.
SC 1Then the Venerable Ānanda approached the Blessed One, paid homage to him, and sat down to one side. The Blessed One then said to the Venerable Ānanda as he was sitting to one side: “Ānanda, what now is feeling? What is the origin of feeling? What is the cessation of feeling? What is the way leading to the cessation of feeling? What is the gratification in feeling? What is the danger? What is the escape?”
SC 2“Venerable sir, our teachings are rooted in the Blessed One, guided by the Blessed One, take recourse in the Blessed One. It would be good if the Blessed One would clear up the meaning of this statement. Having heard it from him, the bhikkhus will remember it.”
SC 3“Then listen and attend closely, Ānanda. I will speak.”
SC 4“Yes, venerable sir,” the Venerable Ānanda replied. The Blessed One said this:
SC 5“Ānanda, these three feelings—pleasant feeling, painful feeling, neither-painful-nor-pleasant feeling—are called feeling….”
All as in the preceding sutta.
S.iv,221Vi-n 1 …
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn …
Vi-n 3 Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda đang ngồi một bên:
—Này Ānanda, thế nào là các thọ? Thế nào là thọ tập khởi? Thế nào là thọ đoạn diệt? Thế nào là con đường đưa đến thọ đoạn diệt? Thế nào là vị ngọt của thọ? Thế nào là sự nguy hiểm của thọ? Thế nào là sự xuất ly của thọ?
Vi-n 4 —Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm chỉ đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn nói cho ý nghĩa của lời nói này! Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
—Vậy này Ānanda, hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ānanda vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 5-8. Thế Tôn nói như sau:
—Này Ānanda, có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này Ānanda, đây gọi là các thọ. Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt … (như kinh trên từ số 4 đến số 7). Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tham được khinh an, sân được khinh an, si được khinh an.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ ānandaṁ bhagavā etadavoca:
“katamā nu kho, ānanda, vedanā, katamo vedanāsamudayo, katamo vedanānirodho, katamā vedanānirodhagāminī paṭipadā?
Ko vedanāya assādo, ko ādīnavo, kiṁ nissaraṇan”ti?
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā bhagavaṁnettikā bhagavaṁpaṭisaraṇā. Sādhu, bhante, bhagavantaññeva paṭibhātu etassa bhāsitassa attho. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tena hi, ānanda, suṇohi, sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Bhagavā etadavoca:
“tisso imā, ānanda, vedanā—
sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā—
imā vuccanti, ānanda, vedanā …pe…
phassasamudayā …pe…
khīṇāsavassa bhikkhuno rāgo paṭippassaddho hoti, doso paṭippassaddho hoti, moho paṭippassaddho hotī”ti.
Chaṭṭhaṁ.