Vi-n 1 Một thời, rất nhiều Tỷ-kheo trú ở giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng nọ, cống cao, ngạo mạn, ồn ào, lắm miệng, lắm lời, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, các căn không chế ngự.
Vi-n 2 Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, vì lòng thương xót các Tỷ-kheo, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác, liền đi đến các Tỷ-kheo.
Vi-n 3 Sau khi đến, vị Thiên ấy nói lên những bài kệ với các Tỷ-kheo:
Xưa sống thật an lạc,
Chúng đệ tử Cù-đàm,
Không tham tìm món ăn,
Không tham tìm chỗ trú,
Biết đời là vô thường,
Họ chấm dứt khổ đau.
Nay tự làm ác hạnh,
Như thôn trưởng trong làng,
Họ ăn, ăn ngã gục,
Thèm khát vật nhà người.
Con vái chào chúng Tăng,
Ðảnh lễ một vài vị,
Vất vưởng, không hướng dẫn.
Họ sống như ngạ quỉ.
Những ai sống phóng dật,
Vì họ, con nói lên,
Những ai không phóng dật,
Chân thành con đảnh lễ.
Vi-n 4 Các Tỷ-kheo ấy, được vị Thiên ấy cảnh giác, tâm hết sức xúc động.
Ekaṁ samayaṁ sambahulā bhikkhū kosalesu viharanti aññatarasmiṁ vanasaṇḍe uddhatā unnaḷā capalā mukharā vikiṇṇavācā muṭṭhassatino asampajānā asamāhitā vibbhantacittā pākatindriyā.
Atha kho yā tasmiṁ vanasaṇḍe adhivatthā devatā tesaṁ bhikkhūnaṁ anukampikā atthakāmā te bhikkhū saṁvejetukāmā yena te bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te bhikkhū gāthāhi ajjhabhāsi:
“Sukhajīvino pure āsuṁ,
bhikkhū gotamasāvakā;
Anicchā piṇḍamesanā,
anicchā sayanāsanaṁ;
Loke aniccataṁ ñatvā,
dukkhassantaṁ akaṁsu te.
Dupposaṁ katvā attānaṁ,
gāme gāmaṇikā viya;
Bhutvā bhutvā nipajjanti,
parāgāresu mucchitā.
Saṅghassa añjaliṁ katvā,
idhekacce vadāmahaṁ;
Apaviddhā anāthā te,
yathā petā tatheva te.
Ye kho pamattā viharanti,
te me sandhāya bhāsitaṁ;
Ye appamattā viharanti,
namo tesaṁ karomahan”ti.
Atha kho te bhikkhū tāya devatāya saṁvejitā saṁvegamāpādunti.
At one time several mendicants were staying in the Kosalan lands in a certain forest grove. They were restless, insolent, fickle, scurrilous, loose-tongued, unmindful, lacking situational awareness and immersion, with straying minds and undisciplined faculties.
The deity haunting that forest had sympathy for those mendicants, and wanted what’s best for them. So they approached those mendicants wanting to stir them up, and addressed them in verse:
“The mendicants used to live happily,
as disciples of Gotama.
Desireless they sought alms;
desireless they used their lodgings.
Knowing that the world was impermanent
they made an end of suffering.
But now they’ve made themselves hard to look after,
like chiefs in a village.
They eat and eat and then lie down,
unconscious in the homes of others.
Having raised my joined palms to the Saṅgha,
I speak here only about certain people.
They’re dregs, with no protector,
just like those who have passed away.
I’m speaking about
those who live negligently.
To those who live diligently
I pay homage.”
Impelled by that deity, those mendicants were struck with a sense of urgency.
Vi-n 1 Một thời, rất nhiều Tỷ-kheo trú ở giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng nọ, cống cao, ngạo mạn, ồn ào, lắm miệng, lắm lời, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, các căn không chế ngự.
Vi-n 2 Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, vì lòng thương xót các Tỷ-kheo, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác, liền đi đến các Tỷ-kheo.
Vi-n 3 Sau khi đến, vị Thiên ấy nói lên những bài kệ với các Tỷ-kheo:
Xưa sống thật an lạc,
Chúng đệ tử Cù-đàm,
Không tham tìm món ăn,
Không tham tìm chỗ trú,
Biết đời là vô thường,
Họ chấm dứt khổ đau.
Nay tự làm ác hạnh,
Như thôn trưởng trong làng,
Họ ăn, ăn ngã gục,
Thèm khát vật nhà người.
Con vái chào chúng Tăng,
Ðảnh lễ một vài vị,
Vất vưởng, không hướng dẫn.
Họ sống như ngạ quỉ.
Những ai sống phóng dật,
Vì họ, con nói lên,
Những ai không phóng dật,
Chân thành con đảnh lễ.
Vi-n 4 Các Tỷ-kheo ấy, được vị Thiên ấy cảnh giác, tâm hết sức xúc động.
Ekaṁ samayaṁ sambahulā bhikkhū kosalesu viharanti aññatarasmiṁ vanasaṇḍe uddhatā unnaḷā capalā mukharā vikiṇṇavācā muṭṭhassatino asampajānā asamāhitā vibbhantacittā pākatindriyā.
Atha kho yā tasmiṁ vanasaṇḍe adhivatthā devatā tesaṁ bhikkhūnaṁ anukampikā atthakāmā te bhikkhū saṁvejetukāmā yena te bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te bhikkhū gāthāhi ajjhabhāsi:
“Sukhajīvino pure āsuṁ,
bhikkhū gotamasāvakā;
Anicchā piṇḍamesanā,
anicchā sayanāsanaṁ;
Loke aniccataṁ ñatvā,
dukkhassantaṁ akaṁsu te.
Dupposaṁ katvā attānaṁ,
gāme gāmaṇikā viya;
Bhutvā bhutvā nipajjanti,
parāgāresu mucchitā.
Saṅghassa añjaliṁ katvā,
idhekacce vadāmahaṁ;
Apaviddhā anāthā te,
yathā petā tatheva te.
Ye kho pamattā viharanti,
te me sandhāya bhāsitaṁ;
Ye appamattā viharanti,
namo tesaṁ karomahan”ti.
Atha kho te bhikkhū tāya devatāya saṁvejitā saṁvegamāpādunti.