Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Vi-n 2 Rồi Mahānāma …
Vi-n 3 —Ở đây, bạch Thế Tôn, Kapilavatthu …
Vi-n 4 —Chớ có sợ hãi, này Mahānāma! Chớ có sợ hãi, này Mahānāma! Không ác sẽ là cái chết của Ông! Không ác là cái chết của Ông! Do thành tựu bốn pháp, này Mahānāma, vị Thánh đệ tử thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn. Thế nào là bốn?
Vi-n 5 Ở đây, này Mahānāma, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng … Phật, Thế Tôn.” … đối với Pháp … đối với Tăng … thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính … đưa đến Thiền định.
Vi-n 6 Ví như, này Mahānāma, một cây thiên về phía Ðông, hướng về phía Ðông, xuôi về phía Ðông, nếu bị chặt đứt từ gốc rễ, nó sẽ ngả về phía nào?
—Bạch Thế Tôn, về phía nào nó thiên, về phía nào nó hướng, về phía nào nó xuôi.
—Cũng vậy, này Mahānāma, do thành tựu bốn pháp này, vị Thánh đệ tử thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme.
Atha kho mahānāmo sakko yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho mahānāmo sakko bhagavantaṁ etadavoca:
“idaṁ, bhante, kapilavatthu iddhañceva phītañca bāhujaññaṁ ākiṇṇamanussaṁ sambādhabyūhaṁ.
So khvāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ vā payirupāsitvā manobhāvanīye vā bhikkhū sāyanhasamayaṁ kapilavatthuṁ pavisanto;
bhantenapi hatthinā samāgacchāmi;
bhantenapi assena samāgacchāmi;
bhantenapi rathena samāgacchāmi;
bhantenapi sakaṭena samāgacchāmi;
bhantenapi purisena samāgacchāmi.
Tassa mayhaṁ, bhante, tasmiṁ samaye mussateva bhagavantaṁ ārabbha sati, mussati dhammaṁ ārabbha sati, mussati saṅghaṁ ārabbha sati.
Tassa mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti:
‘imamhi cāhaṁ samaye kālaṁ kareyyaṁ, kā mayhaṁ gati, ko abhisamparāyo’”ti?
“Mā bhāyi, mahānāma, mā bhāyi, mahānāma.
Apāpakaṁ te maraṇaṁ bhavissati apāpikā kālaṅkiriyā.
Catūhi kho, mahānāma, dhammehi samannāgato ariyasāvako nibbānaninno hoti nibbānapoṇo nibbānapabbhāro.
Katamehi catūhi?
Idha, mahānāma, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi …pe… samādhisaṁvattanikehi.
Seyyathāpi, mahānāma, rukkho pācīnaninno pācīnapoṇo pācīnapabbhāro, so mūlacchinno katamena papateyyā”ti?
“Yena, bhante, ninno yena poṇo yena pabbhāro”ti.
“Evameva kho, mahānāma, imehi catūhi dhammehi samannāgato ariyasāvako nibbānaninno hoti nibbānapoṇo nibbānapabbhāro”ti.
Dutiyaṁ.
So I have heard.
At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans, near Kapilavatthu in the Banyan Tree Monastery.
Then Mahānāma the Sakyan went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, this Kapilavatthu is successful and prosperous, populous, full of people, with cramped cul-de-sacs.
In the late afternoon, after paying homage to the Buddha or an esteemed mendicant, I enter Kapilavatthu.
I encounter a stray elephant,
horse,
chariot,
cart,
or person.
At that time I lose mindfulness regarding the Buddha, the teaching, and the Saṅgha.
I think:
‘If I were to die at this time, where would I be reborn in my next life?’”
“Do not fear, Mahānāma, do not fear!
Your death will not be a bad one; your passing will not be a bad one.
A noble disciple who has four things slants, slopes, and inclines towards extinguishment.
What four?
It’s when a noble disciple has experiential confidence in the Buddha …
the teaching …
the Saṅgha …
And they have the ethical conduct loved by the noble ones … leading to immersion.
Suppose there was a tree that slants, slopes, and inclines to the east. If it was cut off at the root where would it fall?”
“Sir, it would fall in the direction that it slants, slopes, and inclines.”
“In the same way, a noble disciple who has four things slants, slopes, and inclines towards extinguishment.”
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Vi-n 2 Rồi Mahānāma …
Vi-n 3 —Ở đây, bạch Thế Tôn, Kapilavatthu …
Vi-n 4 —Chớ có sợ hãi, này Mahānāma! Chớ có sợ hãi, này Mahānāma! Không ác sẽ là cái chết của Ông! Không ác là cái chết của Ông! Do thành tựu bốn pháp, này Mahānāma, vị Thánh đệ tử thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn. Thế nào là bốn?
Vi-n 5 Ở đây, này Mahānāma, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng … Phật, Thế Tôn.” … đối với Pháp … đối với Tăng … thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính … đưa đến Thiền định.
Vi-n 6 Ví như, này Mahānāma, một cây thiên về phía Ðông, hướng về phía Ðông, xuôi về phía Ðông, nếu bị chặt đứt từ gốc rễ, nó sẽ ngả về phía nào?
—Bạch Thế Tôn, về phía nào nó thiên, về phía nào nó hướng, về phía nào nó xuôi.
—Cũng vậy, này Mahānāma, do thành tựu bốn pháp này, vị Thánh đệ tử thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme.
Atha kho mahānāmo sakko yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho mahānāmo sakko bhagavantaṁ etadavoca:
“idaṁ, bhante, kapilavatthu iddhañceva phītañca bāhujaññaṁ ākiṇṇamanussaṁ sambādhabyūhaṁ.
So khvāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ vā payirupāsitvā manobhāvanīye vā bhikkhū sāyanhasamayaṁ kapilavatthuṁ pavisanto;
bhantenapi hatthinā samāgacchāmi;
bhantenapi assena samāgacchāmi;
bhantenapi rathena samāgacchāmi;
bhantenapi sakaṭena samāgacchāmi;
bhantenapi purisena samāgacchāmi.
Tassa mayhaṁ, bhante, tasmiṁ samaye mussateva bhagavantaṁ ārabbha sati, mussati dhammaṁ ārabbha sati, mussati saṅghaṁ ārabbha sati.
Tassa mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti:
‘imamhi cāhaṁ samaye kālaṁ kareyyaṁ, kā mayhaṁ gati, ko abhisamparāyo’”ti?
“Mā bhāyi, mahānāma, mā bhāyi, mahānāma.
Apāpakaṁ te maraṇaṁ bhavissati apāpikā kālaṅkiriyā.
Catūhi kho, mahānāma, dhammehi samannāgato ariyasāvako nibbānaninno hoti nibbānapoṇo nibbānapabbhāro.
Katamehi catūhi?
Idha, mahānāma, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi …pe… samādhisaṁvattanikehi.
Seyyathāpi, mahānāma, rukkho pācīnaninno pācīnapoṇo pācīnapabbhāro, so mūlacchinno katamena papateyyā”ti?
“Yena, bhante, ninno yena poṇo yena pabbhāro”ti.
“Evameva kho, mahānāma, imehi catūhi dhammehi samannāgato ariyasāvako nibbānaninno hoti nibbānapoṇo nibbānapabbhāro”ti.
Dutiyaṁ.