Vi-n 1 … Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2 —Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây lao có lưỡi sắc bén. Rồi một người đến và nói: “Với tay hay với nắm tay, tôi sẽ bẻ gập đôi lưỡi sắc bén của cây lao này, tôi sẽ đánh phía cạnh cho nó quặp dài lại, tôi sẽ uốn cong nó lại”.
Vi-n 3 Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy có thể với tay hay nắm tay bẻ gập đôi lưỡi sắc bén của cây lao này, đánh phía cạnh cho nó quặp dài lại, uốn cong nó lại không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 4 Vì sao?
Bạch Thế Tôn, không dễ gì, với tay hay nắm tay bẻ gập đôi lưỡi sắc bén của cây lao này, đánh phía cạnh cho nó quặp dài lại, uống cong nó lại, mà không khiến cho người ấy mệt nhọc và bị não hại.
Vi-n 5 —Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi một ai (vị Tỷ-kheo) tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo thực hiện, thời một phi nhân nào nghĩ rằng, có thể đánh ngã một tâm như vậy, kẻ phi nhân ấy ở đây sẽ mệt nhọc và bị não hại.
Vi-n 6 Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: “Chúng tôi sẽ tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo thực hiện”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Seyyathāpi, bhikkhave, satti tiṇhaphalā.
Atha puriso āgaccheyya:
‘ahaṁ imaṁ sattiṁ tiṇhaphalaṁ pāṇinā vā muṭṭhinā vā paṭileṇissāmi paṭikoṭṭissāmi paṭivaṭṭessāmī’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
bhabbo nu kho so puriso amuṁ sattiṁ tiṇhaphalaṁ pāṇinā vā muṭṭhinā vā paṭileṇetuṁ paṭikoṭṭetuṁ paṭivaṭṭetun”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kissa hetu”?
“Asu hi, bhante, satti tiṇhaphalā na sukarā pāṇinā vā muṭṭhinā vā paṭileṇetuṁ paṭikoṭṭetuṁ paṭivaṭṭetuṁ.
Yāvadeva ca pana so puriso kilamathassa vighātassa bhāgī assā”ti.
“Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci bhikkhuno mettācetovimutti bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, tassa ce amanusso cittaṁ khipitabbaṁ maññeyya;
atha kho sveva amanusso kilamathassa vighātassa bhāgī assa.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘mettā no cetovimutti bhāvitā bhavissati bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā’ti.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Pañcamaṁ.
At Sāvatthī.
“Mendicants, suppose there was a sharp-pointed spear.
And a man came along and thought,
‘With my hand or fist I’ll fold this sharp spear over, crumple it, and bend it back!’
What do you think, mendicants?
Is that man capable of doing so?”
“No, sir.
Why not?
Because it’s not easy to fold that sharp spear over, crumple it, and bend it back with the hand or fist.
That man will eventually get weary and frustrated.”
“In the same way, suppose a mendicant has developed the heart’s release by love, has cultivated it, made it a vehicle and a basis, kept it up, consolidated it, and properly implemented it. Should any non-human think to overthrow their mind,
they’ll eventually get weary and frustrated.
So you should train like this:
‘We will develop the heart’s release by love. We’ll cultivate it, make it our vehicle and our basis, keep it up, consolidate it, and properly implement it.’
That’s how you should train.”
Vi-n 1 … Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2 —Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây lao có lưỡi sắc bén. Rồi một người đến và nói: “Với tay hay với nắm tay, tôi sẽ bẻ gập đôi lưỡi sắc bén của cây lao này, tôi sẽ đánh phía cạnh cho nó quặp dài lại, tôi sẽ uốn cong nó lại”.
Vi-n 3 Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy có thể với tay hay nắm tay bẻ gập đôi lưỡi sắc bén của cây lao này, đánh phía cạnh cho nó quặp dài lại, uốn cong nó lại không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 4 Vì sao?
Bạch Thế Tôn, không dễ gì, với tay hay nắm tay bẻ gập đôi lưỡi sắc bén của cây lao này, đánh phía cạnh cho nó quặp dài lại, uống cong nó lại, mà không khiến cho người ấy mệt nhọc và bị não hại.
Vi-n 5 —Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi một ai (vị Tỷ-kheo) tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo thực hiện, thời một phi nhân nào nghĩ rằng, có thể đánh ngã một tâm như vậy, kẻ phi nhân ấy ở đây sẽ mệt nhọc và bị não hại.
Vi-n 6 Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: “Chúng tôi sẽ tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo thực hiện”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Seyyathāpi, bhikkhave, satti tiṇhaphalā.
Atha puriso āgaccheyya:
‘ahaṁ imaṁ sattiṁ tiṇhaphalaṁ pāṇinā vā muṭṭhinā vā paṭileṇissāmi paṭikoṭṭissāmi paṭivaṭṭessāmī’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
bhabbo nu kho so puriso amuṁ sattiṁ tiṇhaphalaṁ pāṇinā vā muṭṭhinā vā paṭileṇetuṁ paṭikoṭṭetuṁ paṭivaṭṭetun”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kissa hetu”?
“Asu hi, bhante, satti tiṇhaphalā na sukarā pāṇinā vā muṭṭhinā vā paṭileṇetuṁ paṭikoṭṭetuṁ paṭivaṭṭetuṁ.
Yāvadeva ca pana so puriso kilamathassa vighātassa bhāgī assā”ti.
“Evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci bhikkhuno mettācetovimutti bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, tassa ce amanusso cittaṁ khipitabbaṁ maññeyya;
atha kho sveva amanusso kilamathassa vighātassa bhāgī assa.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘mettā no cetovimutti bhāvitā bhavissati bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā’ti.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Pañcamaṁ.