Vi-n 1 Như vậy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Rājagaha (Vương Xá), Veḷuvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng con sóc.
I
Vi-n 2 Lúc bấy giờ Thế Tôn được cung kính, được tôn trọng, được kính lễ, được cúng dường, được tôn sùng và Ngài nhận được các vật dụng cúng dường như y áo, ẩm thực, sàng tọa và dược phẩm trị bệnh.
Vi-n 3 Chúng Tỷ-kheo cũng được cung kính, được tôn trọng, được kính lễ, được cúng dường, được tôn sùng và cũng nhận được các vật cúng dường như y áo, ẩm thực, sàng tọa và dược phẩm trị bệnh.
Vi-n 4 Nhưng các du sĩ ngoại đạo không được cung kính, không được tôn trọng, không được kính lễ, không được cúng dường, không được tôn sùng và cũng không nhận được các vật dụng cúng dường như y áo, ẩm thực, sàng tọa và dược phẩm trị bệnh.
II
Vi-n 5 Lúc bấy giờ du sĩ Susīma trú ở Rājagaha cùng với đại chúng du sĩ.
Vi-n 6 Rồi hội chúng du sĩ của Susīma nói với du sĩ Susīma:
—Thưa Hiền giả Susīma, ngài hãy đi đến và sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Sa-môn Gotama. Sau khi ngài học Chánh pháp xong hãy nói lại cho chúng tôi. Sau khi chúng tôi học pháp ấy chúng tôi sẽ nói lại với các gia chủ. Như vậy chúng tôi sẽ được cung kính, được tôn trọng, được kính lễ, được cúng dường, được tôn sùng và chúng tôi sẽ nhận được các vật dụng cúng dường như y áo, ẩm thực, sàng tọa và dược phẩm trị bệnh.
Vi-n 7 —Thưa vâng, các Hiền giả.
Du sĩ Susīma nghe theo hội chúng của mình, liền đi đến Tôn giả Ānanda; sau khi đến nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Tôn giả Ānanda; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
III
Vi-n 8 Ngồi xuống một bên, du sĩ Susīma nói với Tôn giả Ānanda:
—Này Hiền giả Ānanda, tôi muốn sống Phạm hạnh trong Pháp và Luật này.
Vi-n 9 Rồi Tôn giả Ānanda đưa du sĩ Susīma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 10 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, du sĩ Susīma này nói như sau: “Này Hiền giả Ānanda, tôi muốn sống Phạm hạnh trong Pháp và Luật này”.
Vi-n 11 —Vậy Ānanda, hãy cho Susīma xuất gia.
Vi-n 12 Và du sĩ Susīma được xuất gia dưới sự chỉ đạo của Thế Tôn và được thọ đại giới.
Vi-n 13 Lúc bấy giờ nhiều vị Tỷ-kheo ở trước mặt Thế Tôn đã tuyên bố chánh trí như sau: “Chúng tôi biết rõ rằng: 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.'”
IV
Vi-n 14 Tôn giả Susīma được nghe: Nhiều Tỷ-kheo trước mặt Thế Tôn đã tuyên bố chánh trí như sau: “Chúng tôi biết rõ rằng: 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.'”
Vi-n 15 Rồi Tôn giả Susīma đi đến các Tỷ-kheo; sau khi đến nói lên với những Tỷ-kheo ấy những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 16 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Susīma nói với các Tỷ-kheo ấy:
—Có đúng sự thật chăng, chư Tôn giả ở trước mặt Thế Tôn đã tuyên bố chánh trí như sau: “Chúng con biết rõ rằng: 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa'”?
—Thưa có vậy, này Hiền giả.
Vi-n 17 —Nhưng, chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy chắc chứng được nhiều loại thần thông khác nhau: Một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước; đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết-già đi trên hư không như con chim; với bàn tay chạm và rờ vào mặt trăng và mặt trời, những vật có oai lực, đại oai thần như vậy. Có thể sử dụng thân một cách tự tại cho đến cõi Phạm thiên?
—Thưa không phải vậy, này Hiền giả.
Vi-n 18 —Vậy có phải chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy, chứng được thiên nhĩ thông thanh tịnh siêu nhân, có thể nghe hai loại tiếng: chư Thiên và loài Người, xa và gần?
—Thưa không phải vậy, này Hiền giả.
Vi-n 19 —Vậy có phải chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy, với tâm của mình biết được tâm của các chúng sanh khác, các loài Người khác: Tâm có tham biết là tâm có tham; tâm không tham biết là tâm không tham; tâm có sân biết là tâm có sân; tâm không sân biết là tâm không sân; tâm có si biết là tâm có si; tâm không si biết là tâm không si; tâm chuyên chú biết là tâm chuyên chú; tâm tán loạn biết là tâm tán loạn. Ðại hành tâm biết là đại hành tâm; không phải đại hành tâm biết không phải là đại hành tâm. Tâm chưa vô thượng biết là tâm chưa vô thượng; tâm vô thượng biết là tâm vô thượng. Tâm Thiền định biết là tâm Thiền định; tâm không Thiền định biết là tâm không Thiền định. Tâm giải thoát biết là tâm giải thoát; tâm không giải thoát biết là tâm không giải thoát?
—Thưa không phải vậy, này Hiền giả.
Vi-n 20 —Vậy có phải chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy, nhớ được nhiều đời quá khứ. Như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy, chư Tôn giả nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết?
—Thưa không phải vậy, này Hiền giả.
Vi-n 21 —Vậy có phải chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Chư Tôn giả biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh này làm những ác hạnh về thân, làm những ác hạnh về lời nói, những ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh này làm những thiện hạnh về thân, làm những thiện hạnh về lời nói, làm những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người ấy sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên các thiện thú, cõi trời, trên đời này. Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, các vị thấy sự sống chết của chúng sanh. Các vị biết rõ rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ?
—Thưa không phải vậy, này Hiền giả.
Vi-n 22 —Vậy có phải chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy, sau khi vượt khỏi Sắc giới, thân cảm xúc Vô sắc giới, an trú vào tịch tịnh giải thoát?
—Thưa không phải vậy, này Hiền giả.
Vi-n 23 —Hay ở đây, có phải chư Tôn giả vừa trả lời như vậy, vừa không chứng được các pháp này?
Vi-n 24 -Này Hiền giả, không có chứng được gì.
Vi-n 25 —Như thế nào?
—Thưa Hiền giả Susīma, chúng tôi chứng được tuệ giải thoát.
Vi-n 26 —Tôi không biết được ý nghĩa một cách rộng rãi lời nói vắn tắt này của chư Tôn giả. Lành thay nếu được chư Tôn giả nói lên cho tôi, để tôi có thể hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi lời nói vắn tắt này của chư Tôn giả!
Vi-n 27 —Này Hiền giả Susīma, dù cho ông có biết hay ông không biết, chúng tôi chứng được tuệ giải thoát.
V
Vi-n 28 Rồi Tôn giả Susīma từ chỗ ngồi đứng dậy và đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.
Vi-n 29 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Susīma trình bày lên Thế Tôn tất cả câu chuyện với các Tỷ-kheo ấy.
Vi-n 30 —Này Susīma, trước hết là trí về pháp trú, sau là trí về Niết-bàn.
Vi-n 31 —Bạch Thế Tôn, con không hiểu được ý nghĩa một cách rộng rãi lời nói vắn tắt này của Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, lành thay nếu Thế Tôn nói lên cho con để con có thể hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn!
Vi-n 32 —Này Susīma, dù cho ông có biết hay ông không có biết, trước hết là trí về pháp trú, sau là trí về Niết-bàn. Này Susīma, ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn?
Vi-n 33 —Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi chúng ta quán vật ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 34 —Thọ là thường hay vô thường?
—Vô thường, bạch Thế Tôn.
Vi-n 35 —Tưởng là thường hay vô thường?
—Vô thường, bạch Thế Tôn.
Vi-n 36 —Các hành là thường hay vô thường?
—Vô thường, bạch Thế Tôn.
Vi-n 37 —Thức là thường hay vô thường?
—Vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu chúng ta quán vật ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 38 —Do vậy, này Susīma, cái gì thuộc sắc pháp quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả sắc pháp cần phải được quán như chơn như sau: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 39 Cái gì thuộc thọ quá khứ, vị lai hay hiện tại… (như trên)…
Vi-n 40 Cái gì thuộc tưởng quá khứ, vị lai hay hiện tại… (như trên)…
Vi-n 41 Cái gì thuộc hành quá khứ, vị lai hay hiện tại… (như trên)…
Vi-n 42 Cái gì thuộc thức quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả thức cần phải quán như chơn với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 43 Này Susīma, thấy như vậy, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Này Susīma, ông có thấy chăng: “Do duyên sanh, già chết sanh khởi”?
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Vi-n 44 …
Vi-n 45 —“Do duyên thủ, hữu sanh khởi?” Này Susīma, ông có thấy chăng?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Vi-n 46 —Này Susīma, ông có thấy chăng: “Do duyên ái, thủ sanh khởi”?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Vi-n 47 —“Do duyên thọ, ái sanh khởi. Do duyên xúc, thọ sanh khởi. Do duyên sáu xứ, thọ sanh khởi. Do duyên danh sắc, sáu xứ sanh khởi. Do duyên thức, danh sắc sanh khởi. Do duyên hành thức sanh khởi. Do duyên vô minh, hành sanh khởi”. Này Susīma, ông có thấy chăng?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Vi-n 48 —“Do sanh diệt, già chết diệt”, này Susīma, ông có thấy chăng?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Vi-n 49 —“Do hữu diệt, nên sanh diệt”, này Susīma, ông có thấy chăng?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Vi-n 50 —“Do thủ diệt, nên hữu diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. Do danh sắc diệt, nên sáu xứ diệt. Do thức diệt, nên danh sắc diệt. Do hành diệt nên thức diệt. Do vô minh diệt, nên hành diệt!”. Này Susīma, ông có thấy chăng?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Vi-n 51 —Nhưng này, biết như vậy, thấy như vậy, ông có chứng được các thần thông nhiều loại sai khác: Một thân hiện ra nhiều thân; nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước; đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết-già đi trên hư không như con chim; với bàn tay chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy. Có thể sử dụng thân một cách tự tại cho đến cõi Phạm thiên?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 52 —Này Susīma, có phải biết như vậy, thấy như vậy, với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, ông có thể nghe hai loại tiếng, tiếng chư Thiên và tiếng loài Người, tiếng xa và tiếng gần?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 53 —Này Susīma, có phải biết như vậy, thấy như vậy, với tâm của mình biết được tâm của chúng sanh sai khác, của loài Người sai khác. Với tâm có tham, ông biết được tâm có tham… với tâm không giải thoát, ông biết được là tâm không giải thoát; với tâm giải thoát, ông biết được là tâm giải thoát?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 54 —Này Susīma, có phải biết như vậy, thấy như vậy, ông có thể nhớ được nhiều đời quá khứ sai khác. Như một đời… (như trên)… ông có thể nhớ được nhiều đời quá khứ sai khác cùng với các nét đại cương và các chi tiết?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 55 —Này Susīma, nhưng biết như vậy, thấy như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, ông có thể thấy các chúng sanh chết đi sanh lại… ông có thể biết các chúng sanh tùy theo hạnh nghiệp của họ?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 56 —Này Susīma, nhưng biết như vậy, thấy như vậy, có phải sau khi vượt khỏi các sắc pháp, với thân cảm thọ vô sắc pháp ông an trú với tịch tịnh giải thoát?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 57 —Nay ở đây, này Susīma, với câu trả lời như vậy, với những pháp này không chứng được, này Susīma, có phải ông không làm được điều này?
VI
Vi-n 58 Rồi Tôn giả Susīma cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
—Một tội lỗi con đã vi phạm, bạch Thế Tôn, vì ngu đần, vì si mê, vì bất thiện. Con đã xuất gia như một người ăn trộm pháp trong Pháp và Luật khéo giảng này. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận con tội lỗi này là một tội lỗi để con ngăn ngừa trong tương lai!
Vi-n 59 —Này Susīma, thật sự ông đã phạm tội, vì ngu đần, vì si mê, vì bất thiện, ông đã xuất gia như người ăn trộm pháp trong Pháp và Luật khéo giảng này.
Vi-n 60 Ví như, này Susīma, người ta bắt được một người ăn trộm, một người phạm tội, dắt đến cho vua và thưa: “Thưa Ðại vương, đây là người ăn trộm, người phạm tội. Ðại vương hãy gia phạt người ấy theo hình phạt nào như Ðại vương muốn”. Vua ấy nói như sau: “Các ông hãy đem người này, lấy dây thật chắc trói cánh tay người này thật chặt về phía sau, cạo đầu người ấy đi, dắt người ấy đi xung quanh trên một xe nhỏ với một cái trống, đi từ đường này tới đường khác, từ ngã ba này đến ngã ba khác, dắt người ấy ra khỏi cửa thành phía Nam, và hãy chặt đầu người ấy tại thành phía Nam”.
Những người kia vâng theo lời vua dạy, lấy dây thật chắc trói cánh tay người ấy thật chặt về phía sau, cạo trọc đầu, dắt người ấy đi xung quanh trên một xe nhỏ với một cái trống, đi từ đường này tới đường khác, từ ngã ba này tới ngã ba khác, dắt người ấy ra khỏi cửa thành phía Nam, và chặt đầu người ấy tại thành phía Nam.
Vi-n 61 Này Susīma, ông nghĩ thế nào? Người ấy do nhân duyên như vậy có cảm thọ khổ ưu hay không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Vi-n 62 —Này Susīma, dù cho người ấy do nhân duyên như vậy cảm thọ khổ ưu, hay không cảm thọ khổ ưu, thời sự xuất gia với tư cách ăn trộm pháp trong Pháp và Luật khéo thuyết này, do nhân duyên ấy phải rơi vào và chịu đựng khổ báo còn kịch liệt hơn và quả báo còn đau đớn hơn.
Vi-n 63 Này Susīma, ông thấy phạm tội là phạm tội và như pháp phát lộ, nên Ta chấp nhận tội ấy cho ông. Này Susīma, như vậy Luật của bậc Thánh được tăng trưởng, khi thấy được phạm tội là phạm tội và như pháp phát lộ để ngăn giữ trong tương lai.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Tena kho pana samayena bhagavā sakkato hoti garukato mānito pūjito apacito lābhī cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ.
Bhikkhusaṅghopi sakkato hoti garukato mānito pūjito apacito lābhī cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ.
Aññatitthiyā pana paribbājakā asakkatā honti agarukatā amānitā apūjitā anapacitā, na lābhino cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ.
Tena kho pana samayena susimo paribbājako rājagahe paṭivasati mahatiyā paribbājakaparisāya saddhiṁ.
Atha kho susimassa paribbājakassa parisā susimaṁ paribbājakaṁ etadavocuṁ:
“ehi tvaṁ, āvuso susima, samaṇe gotame brahmacariyaṁ cara.
Tvaṁ dhammaṁ pariyāpuṇitvā amhe vāceyyāsi.
Taṁ mayaṁ dhammaṁ pariyāpuṇitvā gihīnaṁ bhāsissāma.
Evaṁ mayampi sakkatā bhavissāma garukatā mānitā pūjitā apacitā lābhino cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānan”ti.
“Evamāvuso”ti kho susimo paribbājako sakāya parisāya paṭissuṇitvā yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā ānandena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho susimo paribbājako āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“icchāmahaṁ, āvuso ānanda, imasmiṁ dhammavinaye brahmacariyaṁ caritun”ti.
Atha kho āyasmā ānando susimaṁ paribbājakaṁ ādāya yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“ayaṁ, bhante, susimo paribbājako evamāha:
‘icchāmahaṁ, āvuso ānanda, imasmiṁ dhammavinaye brahmacariyaṁ caritun’”ti.
“Tenahānanda, susimaṁ pabbājethā”ti.
Alattha kho susimo paribbājako bhagavato santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ.
Tena kho pana samayena sambahulehi bhikkhūhi bhagavato santike aññā byākatā hoti:
“khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmā”ti.
Assosi kho āyasmā susimo:
“sambahulehi kira bhikkhūhi bhagavato santike aññā byākatā:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmā”ti.
Atha kho āyasmā susimo yena te bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā tehi bhikkhūhi saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā susimo te bhikkhū etadavoca:
“saccaṁ kirāyasmantehi bhagavato santike aññā byākatā:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmā”ti?
“Evamāvuso”ti.
“Api pana tumhe āyasmanto evaṁ jānantā evaṁ passantā anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhotha—ekopi hutvā bahudhā hotha, bahudhāpi hutvā eko hotha; āvibhāvaṁ, tirobhāvaṁ, tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ asajjamānā gacchatha, seyyathāpi ākāse; pathaviyāpi ummujjanimujjaṁ karotha, seyyathāpi udake; udakepi abhijjamāne gacchatha, seyyathāpi pathaviyaṁ; ākāsepi pallaṅkena kamatha, seyyathāpi pakkhī sakuṇo; imepi candimasūriye evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve pāṇinā parimasatha parimajjatha, yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vattethā”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Api pana tumhe āyasmanto evaṁ jānantā evaṁ passantā dibbāya sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya ubho sadde suṇātha dibbe ca mānuse ca ye dūre santike cā”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Api pana tumhe āyasmanto evaṁ jānantā evaṁ passantā parasattānaṁ parapuggalānaṁ cetasā ceto paricca pajānātha—
sarāgaṁ vā cittaṁ sarāgaṁ cittanti pajānātha;
vītarāgaṁ vā cittaṁ vītarāgaṁ cittanti pajānātha;
sadosaṁ vā cittaṁ sadosaṁ cittanti pajānātha;
vītadosaṁ vā cittaṁ vītadosaṁ cittanti pajānātha;
samohaṁ vā cittaṁ samohaṁ cittanti pajānātha;
vītamohaṁ vā cittaṁ vītamohaṁ cittanti pajānātha;
saṅkhittaṁ vā cittaṁ saṅkhittaṁ cittanti pajānātha;
vikkhittaṁ vā cittaṁ vikkhittaṁ cittanti pajānātha;
mahaggataṁ vā cittaṁ mahaggataṁ cittanti pajānātha;
amahaggataṁ vā cittaṁ amahaggataṁ cittanti pajānātha;
sauttaraṁ vā cittaṁ sauttaraṁ cittanti pajānātha;
anuttaraṁ vā cittaṁ anuttaraṁ cittanti pajānātha;
samāhitaṁ vā cittaṁ samāhitaṁ cittanti pajānātha;
asamāhitaṁ vā cittaṁ asamāhitaṁ cittanti pajānātha;
vimuttaṁ vā cittaṁ vimuttaṁ cittanti pajānātha;
avimuttaṁ vā cittaṁ avimuttaṁ cittanti pajānāthā”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Api pana tumhe āyasmanto evaṁ jānantā evaṁ passantā anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussaratha, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo dasapi jātiyo vīsampi jātiyo tiṁsampi jātiyo cattārīsampi jātiyo paññāsampi jātiyo jātisatampi jātisahassampi jātisatasahassampi, anekepi saṁvaṭṭakappe anekepi vivaṭṭakappe anekepi saṁvaṭṭavivaṭṭakappe: ‘amutrāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhapaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto amutra udapādiṁ; tatrāpāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhapaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto idhūpapanno’ti. Iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarathā”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Api pana tumhe āyasmanto evaṁ jānantā evaṁ passantā dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passatha cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage satte pajānātha: ‘ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā, ariyānaṁ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā; ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā vacīsucaritena samannāgatā manosucaritena samannāgatā, ariyānaṁ anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannā’ti, iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passatha cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage satte pajānāthā”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Api pana tumhe āyasmanto evaṁ jānantā evaṁ passantā ye te santā vimokkhā atikkamma rūpe āruppā, te kāyena phusitvā viharathā”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Ettha dāni āyasmanto idañca veyyākaraṇaṁ imesañca dhammānaṁ asamāpatti; idaṁ no, āvuso, kathan”ti?
“Paññāvimuttā kho mayaṁ, āvuso susimā”ti.
“Na khvāhaṁ imassa āyasmantānaṁ saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ ājānāmi.
Sādhu me āyasmanto tathā bhāsantu yathāhaṁ imassa āyasmantānaṁ saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ ājāneyyan”ti.
“Ājāneyyāsi vā tvaṁ, āvuso susima, na vā tvaṁ ājāneyyāsi atha kho paññāvimuttā mayan”ti.
Atha kho āyasmā susimo uṭṭhāyāsanā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā susimo yāvatako tehi bhikkhūhi saddhiṁ ahosi kathāsallāpo taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesi.
“Pubbe kho, susima, dhammaṭṭhitiñāṇaṁ, pacchā nibbāne ñāṇan”ti.
“Na khvāhaṁ, bhante, imassa bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ ājānāmi.
Sādhu me, bhante, bhagavā tathā bhāsatu yathāhaṁ imassa bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ ājāneyyan”ti.
“Ājāneyyāsi vā tvaṁ, susima, na vā tvaṁ ājāneyyāsi, atha kho dhammaṭṭhitiñāṇaṁ pubbe, pacchā nibbāne ñāṇaṁ.
Taṁ kiṁ maññasi, susima,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Vedanā niccā vā aniccā vā”ti?
“Aniccā, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Saññā niccā vā aniccā vā”ti?
“Aniccā, bhante” …pe…
“saṅkhārā niccā vā aniccā vā”ti?
“Aniccā, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Tasmātiha, susima, yaṁ kiñci rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ rūpaṁ netaṁ mama nesohamasmi na meso attāti; evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Yā kāci vedanā atītānāgatapaccuppannā ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikā vā sukhumā vā hīnā vā paṇītā vā yā dūre santike vā, sabbā vedanā netaṁ mama nesohamasmi na meso attāti; evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Yā kāci saññā …pe…
ye keci saṅkhārā atītānāgatapaccuppannā ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikā vā sukhumā vā hīnā vā paṇītā vā ye dūre santike vā, sabbe saṅkhārā netaṁ mama nesohamasmi na meso attāti; evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ viññāṇaṁ netaṁ mama nesohamasmi na meso attāti; evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Evaṁ passaṁ, susima, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi nibbindati, vedanāyapi nibbindati, saññāyapi nibbindati, saṅkhāresupi nibbindati, viññāṇasmimpi nibbindati.
Nibbindaṁ virajjati, virāgā vimuccati, vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
‘Jātipaccayā jarāmaraṇan’ti, susima, passasī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“‘Bhavapaccayā jātī’ti, susima, passasī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“‘Upādānapaccayā bhavo’ti, susima, passasī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“‘Taṇhāpaccayā upādānan’ti, susima, passasī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Vedanāpaccayā taṇhāti …
phassapaccayā vedanāti …
saḷāyatanapaccayā phassoti …
nāmarūpapaccayā saḷāyatananti …
viññāṇapaccayā nāmarūpanti …
saṅkhārapaccayā viññāṇanti …
avijjāpaccayā saṅkhārāti, susima, passasī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“‘Jātinirodhā jarāmaraṇanirodho’ti, susima, passasī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“‘Bhavanirodhā jātinirodho’ti susima, passasī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Upādānanirodhā bhavanirodhoti …
taṇhānirodhā upādānanirodhoti …
vedanānirodhā taṇhānirodhoti …
phassanirodhā vedanānirodhoti …
saḷāyatananirodhā phassanirodhoti …
nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodhoti …
viññāṇanirodhā nāmarūpanirodhoti …
saṅkhāranirodhā viññāṇanirodhoti …
avijjānirodhā saṅkhāranirodhoti, susima, passasī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Api pana tvaṁ, susima, evaṁ jānanto evaṁ passanto anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhosi—ekopi hutvā bahudhā hosi, bahudhāpi hutvā eko hosi; āvibhāvaṁ, tirobhāvaṁ, tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ asajjamāno gacchasi, seyyathāpi ākāse; pathaviyāpi ummujjanimujjaṁ karosi, seyyathāpi udake; udakepi abhijjamāno gacchasi, seyyathāpi pathaviyaṁ; ākāsepi pallaṅkena kamasi, seyyathāpi pakkhī sakuṇo; imepi candimasūriye evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve pāṇinā parimasasi parimajjasi, yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vattesī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Api pana tvaṁ, susima, evaṁ jānanto evaṁ passanto dibbāya sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya ubho sadde suṇasi dibbe ca mānuse ca ye dūre santike cā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Api pana tvaṁ, susima, evaṁ jānanto evaṁ passanto parasattānaṁ parapuggalānaṁ cetasā ceto paricca pajānāsi—
sarāgaṁ vā cittaṁ sarāgaṁ cittanti pajānāsi …pe…
vimuttaṁ vā cittaṁ vimuttaṁ cittanti pajānāsī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Api pana tvaṁ, susima, evaṁ jānanto evaṁ passanto anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarasi, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Api pana tvaṁ, susima, evaṁ jānanto evaṁ passanto dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passasi cavamāne …pe… yathākammūpage satte pajānāsī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Api pana tvaṁ, susima, evaṁ jānanto evaṁ passanto ye te santā vimokkhā atikkamma rūpe āruppā, te kāyena phusitvā viharasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Ettha dāni, susima, idañca veyyākaraṇaṁ imesañca dhammānaṁ asamāpatti, idaṁ no, susima, kathan”ti?
Atha kho āyasmā susimo bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavantaṁ etadavoca:
“accayo maṁ, bhante, accagamā yathābālaṁ yathāmūḷhaṁ yathāakusalaṁ, yvāhaṁ evaṁ svākkhāte dhammavinaye dhammatthenako pabbajito.
Tassa me, bhante, bhagavā accayaṁ accayato paṭiggaṇhātu āyatiṁ saṁvarāyā”ti.
“Taggha tvaṁ, susima, accayo accagamā yathābālaṁ yathāmūḷhaṁ yathāakusalaṁ, yo tvaṁ evaṁ svākkhāte dhammavinaye dhammatthenako pabbajito.
Seyyathāpi, susima, coraṁ āgucāriṁ gahetvā rañño dasseyyuṁ:
‘ayaṁ te, deva, coro āgucārī, imassa yaṁ icchasi taṁ daṇḍaṁ paṇehī’ti.
Tamenaṁ rājā evaṁ vadeyya:
‘gacchatha, bho, imaṁ purisaṁ daḷhāya rajjuyā pacchābāhaṁ gāḷhabandhanaṁ bandhitvā khuramuṇḍaṁ karitvā kharassarena paṇavena rathiyāya rathiyaṁ siṅghāṭakena siṅghāṭakaṁ parinetvā dakkhiṇena dvārena nikkhāmetvā dakkhiṇato nagarassa sīsaṁ chindathā’ti.
Tamenaṁ rañño purisā daḷhāya rajjuyā pacchābāhaṁ gāḷhabandhanaṁ bandhitvā khuramuṇḍaṁ karitvā kharassarena paṇavena rathiyāya rathiyaṁ siṅghāṭakena siṅghāṭakaṁ parinetvā dakkhiṇena dvārena nikkhāmetvā dakkhiṇato nagarassa sīsaṁ chindeyyuṁ.
Taṁ kiṁ maññasi, susima,
api nu so puriso tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvediyethā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Yaṁ kho so, susima, puriso tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvediyetha.
Yā evaṁ svākkhāte dhammavinaye dhammatthenakassa pabbajjā, ayaṁ tato dukkhavipākatarā ca kaṭukavipākatarā ca, api ca vinipātāya saṁvattati.
Yato ca kho tvaṁ, susima, accayaṁ accayato disvā yathādhammaṁ paṭikarosi taṁ te mayaṁ paṭiggaṇhāma.
Vuddhi hesā, susima, ariyassa vinaye yo accayaṁ accayato disvā yathādhammaṁ paṭikaroti, āyatiñca saṁvaraṁ āpajjatī”ti.
Dasamaṁ.
Mahāvaggo sattamo.
Tassuddānaṁ
Dve assutavatā vuttā,
puttamaṁsena cāparaṁ;
Atthirāgo ca nagaraṁ,
sammasaṁ naḷakalāpiyaṁ;
Kosambī upayanti ca,
dasamo susimena cāti.
SC 1Thus have I heard. On one occasion the Blessed One was dwelling at Rajagaha in the Bamboo Grove, the Squirrel Sanctuary.
i
SC 2Now on that occasion the Blessed One was honoured, respected, esteemed, venerated, and revered, and he obtained robes, almsfood, lodgings, and medicinal requisites. The Bhikkhu Saṅgha too was honoured, respected, esteemed, venerated, and revered, and the bhikkhus too obtained robes, almsfood, lodgings, and medicinal requisites. But the wanderers of other sects were not honoured, respected, esteemed, venerated, and revered, and they did not obtain robes, almsfood, lodgings, and medicinal requisites.
SC 3Now on that occasion the wanderer Susīma was residing in Rajagaha along with a large company of wanderers. sn.ii.120 Then his company said to the wanderer Susīma: “Come, friend Susīma, lead the holy life under the ascetic Gotama. Master his Dhamma and teach it to us. We will master his Dhamma and preach it to the lay people. Thus we too will be honoured, respected, esteemed, venerated, and revered, and we too will obtain robes, almsfood, lodgings, and medicinal requisites.”
SC 4“All right, friends,” the wanderer Susīma replied. He then approached the Venerable Ānanda and exchanged greetings with him. When they had concluded their greetings and cordial talk, he sat down to one side and said to him: “Friend Ānanda, I wish to lead the holy life in this Dhamma and Discipline.”
SC 5Then the Venerable Ānanda took the wanderer Susīma and approached the Blessed One. He paid homage to the Blessed One, and then he sat down to one side and said to him: “Venerable sir, this wanderer Susīma says that he wishes to lead the holy life in this Dhamma and Discipline.”
SC 6“Well then, Ānanda, give him the going forth.” The wanderer Susīma then received the going forth and the higher ordination under the Blessed One.
ii
SC 7Now on that occasion a number of bhikkhus had declared final knowledge in the presence of the Blessed One, saying: “We understand: Destroyed is birth, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this state of being.” The Venerable Susīma heard about this, sn.ii.121 so he approached those bhikkhus, exchanged greetings with them, and then sat down to one side and said to them: “Is it true that you venerable ones have declared final knowledge in the presence of the Blessed One, saying: ‘We understand: Destroyed is birth, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this state of being’?”
“Yes, friend.”
SC 8“Then knowing and seeing thus, do you venerable ones wield the various kinds of spiritual power, such that: having been one, you become many; having been many, you become one; you appear and vanish; you go unhindered through a wall, through a rampart, through a mountain as though through space; you dive in and out of the earth as though it were water; you walk on water without sinking as though it were earth; seated cross-legged, you travel in space like a bird; with your hand you touch and stroke the moon and sun so powerful and mighty; you exercise mastery with the body as far as the brahma world?”
“No, friend.”
SC 9“Then knowing and seeing thus, do you venerable ones, with the divine ear element, which is purified and surpasses the human, hear both kinds of sounds, the divine and human, those that are far as well as near?”
“No, friend.”
SC 10“Then knowing and seeing thus, do you venerable ones understand the minds of other beings and persons, having encompassed them with your own minds? Do you understand a mind with lust as a mind with lust; a mind without lust as a mind without lust; a mind with hatred as a mind with hatred; a mind without hatred as a mind without hatred; a mind with delusion sn.ii.122 as a mind with delusion; a mind without delusion as a mind without delusion; a contracted mind as contracted and a distracted mind as distracted; an exalted mind as exalted and an unexalted mind as unexalted; a surpassable mind as surpassable and an unsurpassable mind as unsurpassable; a concentrated mind as concentrated and an unconcentrated mind as unconcentrated; a liberated mind as liberated and an unliberated mind as unliberated?”
“No, friend.”
SC 11“Then knowing and seeing thus, do you venerable ones recollect your manifold past abodes, that is, one birth, two births, three births, four births, five births, ten births, twenty births, thirty births, forty births, fifty births, a hundred births, a thousand births, a hundred thousand births, many aeons of world-contraction, many aeons of world-expansion, many aeons of world-contraction and expansion thus: ‘There I was so named, of such a clan, with such an appearance, such was my food, such my experience of pleasure and pain, such my life span; passing away from there, I was reborn elsewhere, and there too I was so named, of such a clan, with such an appearance, such was my food, such my experience of pleasure and pain, such my life span; passing away from there, I was reborn here’? Do you thus recollect your manifold past abodes with their modes and details?”
“No, friend.”
SC 12“Then knowing and seeing thus, do you venerable ones, with the divine eye, which is purified and surpasses the human, see beings passing away and being reborn, inferior and superior, beautiful and ugly, fortunate and unfortunate, and understand how beings fare on in accordance with their kamma thus: ‘These beings who engaged in misconduct of body, sn.ii.123 speech, and mind, who reviled the noble ones, held wrong view, and undertook actions based on wrong view, with the breakup of the body, after death, have been reborn in a state of misery, in a bad destination, in the nether world, in hell; but these beings who engaged in good conduct of body, speech, and mind, who did not revile the noble ones, who held right view, and undertook action based on right view, with the breakup of the body, after death, have been reborn in a good destination, in a heavenly world’? Thus with the divine eye, which is purified and surpasses the human, do you see beings passing away and being reborn, inferior and superior, beautiful and ugly, fortunate and unfortunate, and understand how beings fare on in accordance with their kamma?”
“No, friend.”
SC 13“Then knowing and seeing thus, do you venerable ones dwell in those peaceful deliverances that transcend forms, the formless attainments, having touched them with the body?”
“No, friend.”
SC 14“Here now, venerable ones: this answer and the nonattainment of those states, how could this be, friends?”
“We are liberated by wisdom, friend Susīma.”
SC 15“I do not understand in detail, friends, the meaning of what has been stated in brief by the venerable ones. It would be good if the venerable ones would explain to me in such a way that I could understand in detail what has been stated in brief.” sn.ii.124
SC 16“Whether or not you understand, friend Susīma, we are liberated by wisdom.”
iii
SC 17Then the Venerable Susīma rose from his seat and approached the Blessed One. Having approached, he paid homage to the Blessed One, sat down to one side, and reported to the Blessed One the entire conversation he had had with those bhikkhus. The Blessed One said:
SC 18“First, Susīma, comes knowledge of the stability of the Dhamma, afterwards knowledge of Nibbāna.”
SC 19“I do not understand in detail, venerable sir, the meaning of what was stated in brief by the Blessed One. It would be good if the Blessed One would explain to me in such a way that I could understand in detail what has been stated in brief.”
SC 20“Whether or not you understand, Susīma, first comes knowledge of the stability of the Dhamma, afterwards knowledge of Nibbāna.
SC 21“What do you think, Susīma, is form permanent or impermanent?” –“Impermanent, venerable sir.”–“Is what is impermanent suffering or happiness?”–“Suffering, venerable sir.”–“Is what is impermanent, suffering, and subject to change fit to be regarded thus: ‘This is mine, this I am, this is my self’?”–“No, venerable sir.”
SC 22“Is feeling permanent or impermanent?… Is perception permanent or impermanent?… Are volitional formations permanent or impermanent?… Is consciousness permanent or impermanent?” sn.ii.125 –“Impermanent, venerable sir.”–“Is what is impermanent suffering or happiness?”–“Suffering, venerable sir.”–“Is what is impermanent, suffering, and subject to change fit to be regarded thus: ‘This is mine, this I am, this is my self’?”–“No, venerable sir.”
SC 23“Therefore, Susīma, any kind of form whatsoever, whether past, future, or present, internal or external, gross or subtle, inferior or superior, far or near, all form should be seen as it really is with correct wisdom thus: ‘This is not mine, this I am not, this is not my self.’
SC 24“Any kind of feeling whatsoever … Any kind of perception whatsoever … Any kind of volitional formations whatsoever … Any kind of consciousness whatsoever, whether past, future, or present, internal or external, gross or subtle, inferior or superior, far or near, all consciousness should be seen as it really is with correct wisdom thus: ‘This is not mine, this I am not, this is not my self.’
SC 25“Seeing thus, Susīma, the instructed noble disciple experiences revulsion towards form, revulsion towards feeling, revulsion towards perception, revulsion towards volitional formations, revulsion towards consciousness. Experiencing revulsion, he becomes dispassionate. Through dispassion his mind is liberated. When it is liberated there comes the knowledge: ‘It’s liberated. ’ He understands: ‘Destroyed is birth, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this state of being.’
SC 26“Do you see, Susīma: ‘With birth as condition, aging-and-death comes to be’?”
“Yes, venerable sir.”
SC 27“Do you see, Susīma: ‘With existence as condition, birth’?… ‘With clinging as condition, existence’?… sn.ii.126 … ‘With craving as condition, clinging’?… ‘With feeling as condition, craving’?… ‘With contact as condition, feeling’?… ‘With the six sense bases as condition, contact’?… ‘With name-and-form as condition, the six sense bases’?… ‘With consciousness as condition, name-and-form’? … ‘With volitional formations as condition, consciousness’? … ‘With ignorance as condition, volitional formations come to be’?”
“Yes, venerable sir.”
SC 28“Do you see, Susīma: ‘With the cessation of birth comes cessation of aging-and-death’?”
“Yes, venerable sir.”
SC 29“Do you see, Susīma: ‘With the cessation of existence comes cessation of birth’?… ‘With the cessation of clinging comes cessation of existence’?… ‘With the cessation of ignorance comes cessation of volitional formations’?”
“Yes, venerable sir.”
SC 30“Knowing and seeing thus, Susīma, do you wield the various kinds of spiritual power, such that: having been one, you become many … and exercise bodily mastery as far as the brahma world?”
“No, venerable sir.”
SC 31“Then knowing and seeing thus, Susīma, do you, with the divine ear element, which is purified and surpasses the human, hear both kinds of sounds, the divine and human, those that are far as well as near?” sn.ii.127
“No, venerable sir.”
SC 32“Then knowing and seeing thus, Susīma, do you understand the minds of other beings and persons, having encompassed them with your own mind?”
“No, venerable sir.”
SC 33“Then knowing and seeing thus, Susīma, do you recollect your manifold past abodes with their modes and details?”
“No, venerable sir.”
SC 34“Then knowing and seeing thus, Susīma, do you, with the divine eye, which is purified and surpasses the human, see beings passing away and being reborn and understand how beings fare on in accordance with their kamma?”
“No, venerable sir.”
SC 35“Then knowing and seeing thus, Susīma, do you dwell in those peaceful deliverances that transcend forms, the formless attainments, having touched them with the body?”
“No, venerable sir.”
SC 36“Here now, Susīma: this answer and the nonattainment of those states, how could this be, Susīma?”
iv
SC 37Then the Venerable Susīma prostrated himself with his head at the Blessed One’s feet and said: “Venerable sir, I have committed a transgression in that I was so foolish, so confused, so inept that I went forth as a thief of the Dhamma in such a well-expounded Dhamma and Discipline as this. Venerable sir, may the Blessed One pardon me for my transgression seen as a transgression for the sake of future restraint.”
SC 38“Surely, Susīma, you have committed a transgression in that you were so foolish, so confused, so inept that you went forth as a thief of the Dhamma in such a well-expounded Dhamma and Discipline as this. sn.ii.128 Suppose, Susīma, they were to arrest a bandit, a criminal, and bring him before the king, saying: ‘Sire, this man is a bandit, a criminal. Impose on him whatever punishment you wish.’ The king would say to them: ‘Come, men, bind this man’s arms tightly behind his back with a strong rope, shave his head, and lead him around from street to street and from square to square, beating a drum. Then take him out through the southern gate and to the south of the city cut off his head.’ What do you think, Susīma, would that man experience pain and displeasure on that account?”
“Yes, venerable sir.”
SC 39“Although that man would experience pain and displeasure on that account, going forth as a thief of the Dhamma in such a well-expounded Dhamma and Discipline as this has results that are far more painful, far more bitter, and further, it leads to the nether world. But since you see your transgression as a transgression and make amends for it in accordance with the Dhamma, we pardon you for it. For it is growth in the Noble One’s Discipline when one sees one’s transgression as a transgression, makes amends for it in accordance with the Dhamma, and undertakes future restraint.” sn.ii.129
Vi-n 1 Như vậy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Rājagaha (Vương Xá), Veḷuvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng con sóc.
I
Vi-n 2 Lúc bấy giờ Thế Tôn được cung kính, được tôn trọng, được kính lễ, được cúng dường, được tôn sùng và Ngài nhận được các vật dụng cúng dường như y áo, ẩm thực, sàng tọa và dược phẩm trị bệnh.
Vi-n 3 Chúng Tỷ-kheo cũng được cung kính, được tôn trọng, được kính lễ, được cúng dường, được tôn sùng và cũng nhận được các vật cúng dường như y áo, ẩm thực, sàng tọa và dược phẩm trị bệnh.
Vi-n 4 Nhưng các du sĩ ngoại đạo không được cung kính, không được tôn trọng, không được kính lễ, không được cúng dường, không được tôn sùng và cũng không nhận được các vật dụng cúng dường như y áo, ẩm thực, sàng tọa và dược phẩm trị bệnh.
II
Vi-n 5 Lúc bấy giờ du sĩ Susīma trú ở Rājagaha cùng với đại chúng du sĩ.
Vi-n 6 Rồi hội chúng du sĩ của Susīma nói với du sĩ Susīma:
—Thưa Hiền giả Susīma, ngài hãy đi đến và sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Sa-môn Gotama. Sau khi ngài học Chánh pháp xong hãy nói lại cho chúng tôi. Sau khi chúng tôi học pháp ấy chúng tôi sẽ nói lại với các gia chủ. Như vậy chúng tôi sẽ được cung kính, được tôn trọng, được kính lễ, được cúng dường, được tôn sùng và chúng tôi sẽ nhận được các vật dụng cúng dường như y áo, ẩm thực, sàng tọa và dược phẩm trị bệnh.
Vi-n 7 —Thưa vâng, các Hiền giả.
Du sĩ Susīma nghe theo hội chúng của mình, liền đi đến Tôn giả Ānanda; sau khi đến nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Tôn giả Ānanda; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
III
Vi-n 8 Ngồi xuống một bên, du sĩ Susīma nói với Tôn giả Ānanda:
—Này Hiền giả Ānanda, tôi muốn sống Phạm hạnh trong Pháp và Luật này.
Vi-n 9 Rồi Tôn giả Ānanda đưa du sĩ Susīma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 10 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, du sĩ Susīma này nói như sau: “Này Hiền giả Ānanda, tôi muốn sống Phạm hạnh trong Pháp và Luật này”.
Vi-n 11 —Vậy Ānanda, hãy cho Susīma xuất gia.
Vi-n 12 Và du sĩ Susīma được xuất gia dưới sự chỉ đạo của Thế Tôn và được thọ đại giới.
Vi-n 13 Lúc bấy giờ nhiều vị Tỷ-kheo ở trước mặt Thế Tôn đã tuyên bố chánh trí như sau: “Chúng tôi biết rõ rằng: 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.'”
IV
Vi-n 14 Tôn giả Susīma được nghe: Nhiều Tỷ-kheo trước mặt Thế Tôn đã tuyên bố chánh trí như sau: “Chúng tôi biết rõ rằng: 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.'”
Vi-n 15 Rồi Tôn giả Susīma đi đến các Tỷ-kheo; sau khi đến nói lên với những Tỷ-kheo ấy những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 16 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Susīma nói với các Tỷ-kheo ấy:
—Có đúng sự thật chăng, chư Tôn giả ở trước mặt Thế Tôn đã tuyên bố chánh trí như sau: “Chúng con biết rõ rằng: 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa'”?
—Thưa có vậy, này Hiền giả.
Vi-n 17 —Nhưng, chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy chắc chứng được nhiều loại thần thông khác nhau: Một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước; đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết-già đi trên hư không như con chim; với bàn tay chạm và rờ vào mặt trăng và mặt trời, những vật có oai lực, đại oai thần như vậy. Có thể sử dụng thân một cách tự tại cho đến cõi Phạm thiên?
—Thưa không phải vậy, này Hiền giả.
Vi-n 18 —Vậy có phải chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy, chứng được thiên nhĩ thông thanh tịnh siêu nhân, có thể nghe hai loại tiếng: chư Thiên và loài Người, xa và gần?
—Thưa không phải vậy, này Hiền giả.
Vi-n 19 —Vậy có phải chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy, với tâm của mình biết được tâm của các chúng sanh khác, các loài Người khác: Tâm có tham biết là tâm có tham; tâm không tham biết là tâm không tham; tâm có sân biết là tâm có sân; tâm không sân biết là tâm không sân; tâm có si biết là tâm có si; tâm không si biết là tâm không si; tâm chuyên chú biết là tâm chuyên chú; tâm tán loạn biết là tâm tán loạn. Ðại hành tâm biết là đại hành tâm; không phải đại hành tâm biết không phải là đại hành tâm. Tâm chưa vô thượng biết là tâm chưa vô thượng; tâm vô thượng biết là tâm vô thượng. Tâm Thiền định biết là tâm Thiền định; tâm không Thiền định biết là tâm không Thiền định. Tâm giải thoát biết là tâm giải thoát; tâm không giải thoát biết là tâm không giải thoát?
—Thưa không phải vậy, này Hiền giả.
Vi-n 20 —Vậy có phải chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy, nhớ được nhiều đời quá khứ. Như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy, chư Tôn giả nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết?
—Thưa không phải vậy, này Hiền giả.
Vi-n 21 —Vậy có phải chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Chư Tôn giả biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh này làm những ác hạnh về thân, làm những ác hạnh về lời nói, những ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh này làm những thiện hạnh về thân, làm những thiện hạnh về lời nói, làm những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người ấy sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên các thiện thú, cõi trời, trên đời này. Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, các vị thấy sự sống chết của chúng sanh. Các vị biết rõ rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ?
—Thưa không phải vậy, này Hiền giả.
Vi-n 22 —Vậy có phải chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy, sau khi vượt khỏi Sắc giới, thân cảm xúc Vô sắc giới, an trú vào tịch tịnh giải thoát?
—Thưa không phải vậy, này Hiền giả.
Vi-n 23 —Hay ở đây, có phải chư Tôn giả vừa trả lời như vậy, vừa không chứng được các pháp này?
Vi-n 24 -Này Hiền giả, không có chứng được gì.
Vi-n 25 —Như thế nào?
—Thưa Hiền giả Susīma, chúng tôi chứng được tuệ giải thoát.
Vi-n 26 —Tôi không biết được ý nghĩa một cách rộng rãi lời nói vắn tắt này của chư Tôn giả. Lành thay nếu được chư Tôn giả nói lên cho tôi, để tôi có thể hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi lời nói vắn tắt này của chư Tôn giả!
Vi-n 27 —Này Hiền giả Susīma, dù cho ông có biết hay ông không biết, chúng tôi chứng được tuệ giải thoát.
V
Vi-n 28 Rồi Tôn giả Susīma từ chỗ ngồi đứng dậy và đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.
Vi-n 29 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Susīma trình bày lên Thế Tôn tất cả câu chuyện với các Tỷ-kheo ấy.
Vi-n 30 —Này Susīma, trước hết là trí về pháp trú, sau là trí về Niết-bàn.
Vi-n 31 —Bạch Thế Tôn, con không hiểu được ý nghĩa một cách rộng rãi lời nói vắn tắt này của Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, lành thay nếu Thế Tôn nói lên cho con để con có thể hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn!
Vi-n 32 —Này Susīma, dù cho ông có biết hay ông không có biết, trước hết là trí về pháp trú, sau là trí về Niết-bàn. Này Susīma, ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn?
Vi-n 33 —Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi chúng ta quán vật ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 34 —Thọ là thường hay vô thường?
—Vô thường, bạch Thế Tôn.
Vi-n 35 —Tưởng là thường hay vô thường?
—Vô thường, bạch Thế Tôn.
Vi-n 36 —Các hành là thường hay vô thường?
—Vô thường, bạch Thế Tôn.
Vi-n 37 —Thức là thường hay vô thường?
—Vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu chúng ta quán vật ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 38 —Do vậy, này Susīma, cái gì thuộc sắc pháp quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả sắc pháp cần phải được quán như chơn như sau: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 39 Cái gì thuộc thọ quá khứ, vị lai hay hiện tại… (như trên)…
Vi-n 40 Cái gì thuộc tưởng quá khứ, vị lai hay hiện tại… (như trên)…
Vi-n 41 Cái gì thuộc hành quá khứ, vị lai hay hiện tại… (như trên)…
Vi-n 42 Cái gì thuộc thức quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả thức cần phải quán như chơn với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 43 Này Susīma, thấy như vậy, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Này Susīma, ông có thấy chăng: “Do duyên sanh, già chết sanh khởi”?
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Vi-n 44 …
Vi-n 45 —“Do duyên thủ, hữu sanh khởi?” Này Susīma, ông có thấy chăng?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Vi-n 46 —Này Susīma, ông có thấy chăng: “Do duyên ái, thủ sanh khởi”?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Vi-n 47 —“Do duyên thọ, ái sanh khởi. Do duyên xúc, thọ sanh khởi. Do duyên sáu xứ, thọ sanh khởi. Do duyên danh sắc, sáu xứ sanh khởi. Do duyên thức, danh sắc sanh khởi. Do duyên hành thức sanh khởi. Do duyên vô minh, hành sanh khởi”. Này Susīma, ông có thấy chăng?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Vi-n 48 —“Do sanh diệt, già chết diệt”, này Susīma, ông có thấy chăng?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Vi-n 49 —“Do hữu diệt, nên sanh diệt”, này Susīma, ông có thấy chăng?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Vi-n 50 —“Do thủ diệt, nên hữu diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. Do danh sắc diệt, nên sáu xứ diệt. Do thức diệt, nên danh sắc diệt. Do hành diệt nên thức diệt. Do vô minh diệt, nên hành diệt!”. Này Susīma, ông có thấy chăng?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Vi-n 51 —Nhưng này, biết như vậy, thấy như vậy, ông có chứng được các thần thông nhiều loại sai khác: Một thân hiện ra nhiều thân; nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước; đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết-già đi trên hư không như con chim; với bàn tay chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy. Có thể sử dụng thân một cách tự tại cho đến cõi Phạm thiên?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 52 —Này Susīma, có phải biết như vậy, thấy như vậy, với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, ông có thể nghe hai loại tiếng, tiếng chư Thiên và tiếng loài Người, tiếng xa và tiếng gần?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 53 —Này Susīma, có phải biết như vậy, thấy như vậy, với tâm của mình biết được tâm của chúng sanh sai khác, của loài Người sai khác. Với tâm có tham, ông biết được tâm có tham… với tâm không giải thoát, ông biết được là tâm không giải thoát; với tâm giải thoát, ông biết được là tâm giải thoát?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 54 —Này Susīma, có phải biết như vậy, thấy như vậy, ông có thể nhớ được nhiều đời quá khứ sai khác. Như một đời… (như trên)… ông có thể nhớ được nhiều đời quá khứ sai khác cùng với các nét đại cương và các chi tiết?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 55 —Này Susīma, nhưng biết như vậy, thấy như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, ông có thể thấy các chúng sanh chết đi sanh lại… ông có thể biết các chúng sanh tùy theo hạnh nghiệp của họ?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 56 —Này Susīma, nhưng biết như vậy, thấy như vậy, có phải sau khi vượt khỏi các sắc pháp, với thân cảm thọ vô sắc pháp ông an trú với tịch tịnh giải thoát?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 57 —Nay ở đây, này Susīma, với câu trả lời như vậy, với những pháp này không chứng được, này Susīma, có phải ông không làm được điều này?
VI
Vi-n 58 Rồi Tôn giả Susīma cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
—Một tội lỗi con đã vi phạm, bạch Thế Tôn, vì ngu đần, vì si mê, vì bất thiện. Con đã xuất gia như một người ăn trộm pháp trong Pháp và Luật khéo giảng này. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận con tội lỗi này là một tội lỗi để con ngăn ngừa trong tương lai!
Vi-n 59 —Này Susīma, thật sự ông đã phạm tội, vì ngu đần, vì si mê, vì bất thiện, ông đã xuất gia như người ăn trộm pháp trong Pháp và Luật khéo giảng này.
Vi-n 60 Ví như, này Susīma, người ta bắt được một người ăn trộm, một người phạm tội, dắt đến cho vua và thưa: “Thưa Ðại vương, đây là người ăn trộm, người phạm tội. Ðại vương hãy gia phạt người ấy theo hình phạt nào như Ðại vương muốn”. Vua ấy nói như sau: “Các ông hãy đem người này, lấy dây thật chắc trói cánh tay người này thật chặt về phía sau, cạo đầu người ấy đi, dắt người ấy đi xung quanh trên một xe nhỏ với một cái trống, đi từ đường này tới đường khác, từ ngã ba này đến ngã ba khác, dắt người ấy ra khỏi cửa thành phía Nam, và hãy chặt đầu người ấy tại thành phía Nam”.
Những người kia vâng theo lời vua dạy, lấy dây thật chắc trói cánh tay người ấy thật chặt về phía sau, cạo trọc đầu, dắt người ấy đi xung quanh trên một xe nhỏ với một cái trống, đi từ đường này tới đường khác, từ ngã ba này tới ngã ba khác, dắt người ấy ra khỏi cửa thành phía Nam, và chặt đầu người ấy tại thành phía Nam.
Vi-n 61 Này Susīma, ông nghĩ thế nào? Người ấy do nhân duyên như vậy có cảm thọ khổ ưu hay không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Vi-n 62 —Này Susīma, dù cho người ấy do nhân duyên như vậy cảm thọ khổ ưu, hay không cảm thọ khổ ưu, thời sự xuất gia với tư cách ăn trộm pháp trong Pháp và Luật khéo thuyết này, do nhân duyên ấy phải rơi vào và chịu đựng khổ báo còn kịch liệt hơn và quả báo còn đau đớn hơn.
Vi-n 63 Này Susīma, ông thấy phạm tội là phạm tội và như pháp phát lộ, nên Ta chấp nhận tội ấy cho ông. Này Susīma, như vậy Luật của bậc Thánh được tăng trưởng, khi thấy được phạm tội là phạm tội và như pháp phát lộ để ngăn giữ trong tương lai.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Tena kho pana samayena bhagavā sakkato hoti garukato mānito pūjito apacito lābhī cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ.
Bhikkhusaṅghopi sakkato hoti garukato mānito pūjito apacito lābhī cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ.
Aññatitthiyā pana paribbājakā asakkatā honti agarukatā amānitā apūjitā anapacitā, na lābhino cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ.
Tena kho pana samayena susimo paribbājako rājagahe paṭivasati mahatiyā paribbājakaparisāya saddhiṁ.
Atha kho susimassa paribbājakassa parisā susimaṁ paribbājakaṁ etadavocuṁ:
“ehi tvaṁ, āvuso susima, samaṇe gotame brahmacariyaṁ cara.
Tvaṁ dhammaṁ pariyāpuṇitvā amhe vāceyyāsi.
Taṁ mayaṁ dhammaṁ pariyāpuṇitvā gihīnaṁ bhāsissāma.
Evaṁ mayampi sakkatā bhavissāma garukatā mānitā pūjitā apacitā lābhino cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānan”ti.
“Evamāvuso”ti kho susimo paribbājako sakāya parisāya paṭissuṇitvā yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā ānandena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho susimo paribbājako āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“icchāmahaṁ, āvuso ānanda, imasmiṁ dhammavinaye brahmacariyaṁ caritun”ti.
Atha kho āyasmā ānando susimaṁ paribbājakaṁ ādāya yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“ayaṁ, bhante, susimo paribbājako evamāha:
‘icchāmahaṁ, āvuso ānanda, imasmiṁ dhammavinaye brahmacariyaṁ caritun’”ti.
“Tenahānanda, susimaṁ pabbājethā”ti.
Alattha kho susimo paribbājako bhagavato santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ.
Tena kho pana samayena sambahulehi bhikkhūhi bhagavato santike aññā byākatā hoti:
“khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmā”ti.
Assosi kho āyasmā susimo:
“sambahulehi kira bhikkhūhi bhagavato santike aññā byākatā:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmā”ti.
Atha kho āyasmā susimo yena te bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā tehi bhikkhūhi saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā susimo te bhikkhū etadavoca:
“saccaṁ kirāyasmantehi bhagavato santike aññā byākatā:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmā”ti?
“Evamāvuso”ti.
“Api pana tumhe āyasmanto evaṁ jānantā evaṁ passantā anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhotha—ekopi hutvā bahudhā hotha, bahudhāpi hutvā eko hotha; āvibhāvaṁ, tirobhāvaṁ, tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ asajjamānā gacchatha, seyyathāpi ākāse; pathaviyāpi ummujjanimujjaṁ karotha, seyyathāpi udake; udakepi abhijjamāne gacchatha, seyyathāpi pathaviyaṁ; ākāsepi pallaṅkena kamatha, seyyathāpi pakkhī sakuṇo; imepi candimasūriye evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve pāṇinā parimasatha parimajjatha, yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vattethā”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Api pana tumhe āyasmanto evaṁ jānantā evaṁ passantā dibbāya sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya ubho sadde suṇātha dibbe ca mānuse ca ye dūre santike cā”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Api pana tumhe āyasmanto evaṁ jānantā evaṁ passantā parasattānaṁ parapuggalānaṁ cetasā ceto paricca pajānātha—
sarāgaṁ vā cittaṁ sarāgaṁ cittanti pajānātha;
vītarāgaṁ vā cittaṁ vītarāgaṁ cittanti pajānātha;
sadosaṁ vā cittaṁ sadosaṁ cittanti pajānātha;
vītadosaṁ vā cittaṁ vītadosaṁ cittanti pajānātha;
samohaṁ vā cittaṁ samohaṁ cittanti pajānātha;
vītamohaṁ vā cittaṁ vītamohaṁ cittanti pajānātha;
saṅkhittaṁ vā cittaṁ saṅkhittaṁ cittanti pajānātha;
vikkhittaṁ vā cittaṁ vikkhittaṁ cittanti pajānātha;
mahaggataṁ vā cittaṁ mahaggataṁ cittanti pajānātha;
amahaggataṁ vā cittaṁ amahaggataṁ cittanti pajānātha;
sauttaraṁ vā cittaṁ sauttaraṁ cittanti pajānātha;
anuttaraṁ vā cittaṁ anuttaraṁ cittanti pajānātha;
samāhitaṁ vā cittaṁ samāhitaṁ cittanti pajānātha;
asamāhitaṁ vā cittaṁ asamāhitaṁ cittanti pajānātha;
vimuttaṁ vā cittaṁ vimuttaṁ cittanti pajānātha;
avimuttaṁ vā cittaṁ avimuttaṁ cittanti pajānāthā”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Api pana tumhe āyasmanto evaṁ jānantā evaṁ passantā anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussaratha, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo dasapi jātiyo vīsampi jātiyo tiṁsampi jātiyo cattārīsampi jātiyo paññāsampi jātiyo jātisatampi jātisahassampi jātisatasahassampi, anekepi saṁvaṭṭakappe anekepi vivaṭṭakappe anekepi saṁvaṭṭavivaṭṭakappe: ‘amutrāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhapaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto amutra udapādiṁ; tatrāpāsiṁ evaṁnāmo evaṅgotto evaṁvaṇṇo evamāhāro evaṁsukhadukkhapaṭisaṁvedī evamāyupariyanto, so tato cuto idhūpapanno’ti. Iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarathā”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Api pana tumhe āyasmanto evaṁ jānantā evaṁ passantā dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passatha cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage satte pajānātha: ‘ime vata bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā manoduccaritena samannāgatā, ariyānaṁ upavādakā micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapannā; ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā vacīsucaritena samannāgatā manosucaritena samannāgatā, ariyānaṁ anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapannā’ti, iti dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passatha cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage satte pajānāthā”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Api pana tumhe āyasmanto evaṁ jānantā evaṁ passantā ye te santā vimokkhā atikkamma rūpe āruppā, te kāyena phusitvā viharathā”ti?
“No hetaṁ, āvuso”.
“Ettha dāni āyasmanto idañca veyyākaraṇaṁ imesañca dhammānaṁ asamāpatti; idaṁ no, āvuso, kathan”ti?
“Paññāvimuttā kho mayaṁ, āvuso susimā”ti.
“Na khvāhaṁ imassa āyasmantānaṁ saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ ājānāmi.
Sādhu me āyasmanto tathā bhāsantu yathāhaṁ imassa āyasmantānaṁ saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ ājāneyyan”ti.
“Ājāneyyāsi vā tvaṁ, āvuso susima, na vā tvaṁ ājāneyyāsi atha kho paññāvimuttā mayan”ti.
Atha kho āyasmā susimo uṭṭhāyāsanā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā susimo yāvatako tehi bhikkhūhi saddhiṁ ahosi kathāsallāpo taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesi.
“Pubbe kho, susima, dhammaṭṭhitiñāṇaṁ, pacchā nibbāne ñāṇan”ti.
“Na khvāhaṁ, bhante, imassa bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ ājānāmi.
Sādhu me, bhante, bhagavā tathā bhāsatu yathāhaṁ imassa bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṁ ājāneyyan”ti.
“Ājāneyyāsi vā tvaṁ, susima, na vā tvaṁ ājāneyyāsi, atha kho dhammaṭṭhitiñāṇaṁ pubbe, pacchā nibbāne ñāṇaṁ.
Taṁ kiṁ maññasi, susima,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Vedanā niccā vā aniccā vā”ti?
“Aniccā, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Saññā niccā vā aniccā vā”ti?
“Aniccā, bhante” …pe…
“saṅkhārā niccā vā aniccā vā”ti?
“Aniccā, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Tasmātiha, susima, yaṁ kiñci rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ rūpaṁ netaṁ mama nesohamasmi na meso attāti; evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Yā kāci vedanā atītānāgatapaccuppannā ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikā vā sukhumā vā hīnā vā paṇītā vā yā dūre santike vā, sabbā vedanā netaṁ mama nesohamasmi na meso attāti; evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Yā kāci saññā …pe…
ye keci saṅkhārā atītānāgatapaccuppannā ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikā vā sukhumā vā hīnā vā paṇītā vā ye dūre santike vā, sabbe saṅkhārā netaṁ mama nesohamasmi na meso attāti; evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ viññāṇaṁ netaṁ mama nesohamasmi na meso attāti; evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Evaṁ passaṁ, susima, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi nibbindati, vedanāyapi nibbindati, saññāyapi nibbindati, saṅkhāresupi nibbindati, viññāṇasmimpi nibbindati.
Nibbindaṁ virajjati, virāgā vimuccati, vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
‘Jātipaccayā jarāmaraṇan’ti, susima, passasī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“‘Bhavapaccayā jātī’ti, susima, passasī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“‘Upādānapaccayā bhavo’ti, susima, passasī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“‘Taṇhāpaccayā upādānan’ti, susima, passasī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Vedanāpaccayā taṇhāti …
phassapaccayā vedanāti …
saḷāyatanapaccayā phassoti …
nāmarūpapaccayā saḷāyatananti …
viññāṇapaccayā nāmarūpanti …
saṅkhārapaccayā viññāṇanti …
avijjāpaccayā saṅkhārāti, susima, passasī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“‘Jātinirodhā jarāmaraṇanirodho’ti, susima, passasī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“‘Bhavanirodhā jātinirodho’ti susima, passasī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Upādānanirodhā bhavanirodhoti …
taṇhānirodhā upādānanirodhoti …
vedanānirodhā taṇhānirodhoti …
phassanirodhā vedanānirodhoti …
saḷāyatananirodhā phassanirodhoti …
nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodhoti …
viññāṇanirodhā nāmarūpanirodhoti …
saṅkhāranirodhā viññāṇanirodhoti …
avijjānirodhā saṅkhāranirodhoti, susima, passasī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Api pana tvaṁ, susima, evaṁ jānanto evaṁ passanto anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhosi—ekopi hutvā bahudhā hosi, bahudhāpi hutvā eko hosi; āvibhāvaṁ, tirobhāvaṁ, tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ asajjamāno gacchasi, seyyathāpi ākāse; pathaviyāpi ummujjanimujjaṁ karosi, seyyathāpi udake; udakepi abhijjamāno gacchasi, seyyathāpi pathaviyaṁ; ākāsepi pallaṅkena kamasi, seyyathāpi pakkhī sakuṇo; imepi candimasūriye evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve pāṇinā parimasasi parimajjasi, yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vattesī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Api pana tvaṁ, susima, evaṁ jānanto evaṁ passanto dibbāya sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya ubho sadde suṇasi dibbe ca mānuse ca ye dūre santike cā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Api pana tvaṁ, susima, evaṁ jānanto evaṁ passanto parasattānaṁ parapuggalānaṁ cetasā ceto paricca pajānāsi—
sarāgaṁ vā cittaṁ sarāgaṁ cittanti pajānāsi …pe…
vimuttaṁ vā cittaṁ vimuttaṁ cittanti pajānāsī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Api pana tvaṁ, susima, evaṁ jānanto evaṁ passanto anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarasi, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Api pana tvaṁ, susima, evaṁ jānanto evaṁ passanto dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passasi cavamāne …pe… yathākammūpage satte pajānāsī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Api pana tvaṁ, susima, evaṁ jānanto evaṁ passanto ye te santā vimokkhā atikkamma rūpe āruppā, te kāyena phusitvā viharasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Ettha dāni, susima, idañca veyyākaraṇaṁ imesañca dhammānaṁ asamāpatti, idaṁ no, susima, kathan”ti?
Atha kho āyasmā susimo bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavantaṁ etadavoca:
“accayo maṁ, bhante, accagamā yathābālaṁ yathāmūḷhaṁ yathāakusalaṁ, yvāhaṁ evaṁ svākkhāte dhammavinaye dhammatthenako pabbajito.
Tassa me, bhante, bhagavā accayaṁ accayato paṭiggaṇhātu āyatiṁ saṁvarāyā”ti.
“Taggha tvaṁ, susima, accayo accagamā yathābālaṁ yathāmūḷhaṁ yathāakusalaṁ, yo tvaṁ evaṁ svākkhāte dhammavinaye dhammatthenako pabbajito.
Seyyathāpi, susima, coraṁ āgucāriṁ gahetvā rañño dasseyyuṁ:
‘ayaṁ te, deva, coro āgucārī, imassa yaṁ icchasi taṁ daṇḍaṁ paṇehī’ti.
Tamenaṁ rājā evaṁ vadeyya:
‘gacchatha, bho, imaṁ purisaṁ daḷhāya rajjuyā pacchābāhaṁ gāḷhabandhanaṁ bandhitvā khuramuṇḍaṁ karitvā kharassarena paṇavena rathiyāya rathiyaṁ siṅghāṭakena siṅghāṭakaṁ parinetvā dakkhiṇena dvārena nikkhāmetvā dakkhiṇato nagarassa sīsaṁ chindathā’ti.
Tamenaṁ rañño purisā daḷhāya rajjuyā pacchābāhaṁ gāḷhabandhanaṁ bandhitvā khuramuṇḍaṁ karitvā kharassarena paṇavena rathiyāya rathiyaṁ siṅghāṭakena siṅghāṭakaṁ parinetvā dakkhiṇena dvārena nikkhāmetvā dakkhiṇato nagarassa sīsaṁ chindeyyuṁ.
Taṁ kiṁ maññasi, susima,
api nu so puriso tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvediyethā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Yaṁ kho so, susima, puriso tatonidānaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvediyetha.
Yā evaṁ svākkhāte dhammavinaye dhammatthenakassa pabbajjā, ayaṁ tato dukkhavipākatarā ca kaṭukavipākatarā ca, api ca vinipātāya saṁvattati.
Yato ca kho tvaṁ, susima, accayaṁ accayato disvā yathādhammaṁ paṭikarosi taṁ te mayaṁ paṭiggaṇhāma.
Vuddhi hesā, susima, ariyassa vinaye yo accayaṁ accayato disvā yathādhammaṁ paṭikaroti, āyatiñca saṁvaraṁ āpajjatī”ti.
Dasamaṁ.
Mahāvaggo sattamo.
Tassuddānaṁ
Dve assutavatā vuttā,
puttamaṁsena cāparaṁ;
Atthirāgo ca nagaraṁ,
sammasaṁ naḷakalāpiyaṁ;
Kosambī upayanti ca,
dasamo susimena cāti.