Vi-n 1 ..
Vi-n 2 Lúc bấy giờ lõa thể Kassapa đã đi đến Macchikàsanda, một bạn cũ của gia chủ Citta khi còn là gia chủ.
Vi-n 3 Gia chủ Citta nghe lõa thể Kassapa, một bạn cũ của mình khi còn là gia chủ, đã đến Macchikàsanda.
Rồi gia chủ Citta đi đến lõa thể Kassapa; sau khi đến, nói lên với lõa thể Kassapa những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 4 Ngồi một bên, gia chủ Citta nói với lõa thể Kassapa:
—Tôn giả Kassapa, Tôn giả xuất gia đã bao lâu?
—Này Gia chủ, ta đã xuất gia khoảng ba mươi năm.
Vi-n 5 —Thưa Tôn giả, trong ba mươi năm ấy, Tôn giả có chứng được pháp thượng nhơn nào, tri kiến thù thắng nào xứng đáng bậc Thánh và được lạc trú?
—Này Gia chủ, trong suốt ba mươi năm ấy, ta không chứng được và không được lạc trú một pháp thượng nhân nào, một tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh, ngoại trừ sự lõa thể, sự trọc đầu, sự phủi bụi và đất cát (pàvàlanipphotana).
Vi-n 6 Khi nghe nói vậy, gia chủ Citta nói với lõa thể Kassapa:
—Thật là bất tư nghì, thật là hy hữu, chánh pháp được thuyết trong suốt ba mươi năm ấy, không chứng được, không được lạc trú một pháp thượng nhân nào, một tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh!
Vi-n 7 —Này Gia chủ, đã bao lâu Ông làm người cư sĩ?
—Thưa Tôn giả, tôi thành người cư sĩ đã được ba mươi năm.
Vi-n 8 —Trong suốt ba mươi năm ấy, này Gia chủ, Ông có chứng được và được lạc trú pháp thượng nhân nào, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh?
—Sao lại không vậy được, thưa Tôn giả! Nếu tôi muốn, thưa Tôn giả, tôi ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Nếu tôi muốn, thưa Tôn giả, tôi chỉ tịnh tầm và tứ … chứng và trú Thiền thứ hai. Nếu tôi muốn, thưa Tôn giả, ly hỷ … tôi chứng và trú Thiền thứ ba. Nếu tôi muốn, thưa Tôn giả, đoạn tận lạc … tôi chứng và trú Thiền thứ tư. Nếu tôi mệnh chung sớm hơn Thế Tôn, thưa Tôn giả, không có gì lạ, nếu Thế Tôn sẽ nói về tôi như sau: “Không có một kiết sử nào, do bị trói buộc bởi kiết sử ấy, Citta trở lui tại thế giới này nữa”.
Vi-n 9 Khi nghe nói vậy, lõa thể Kassapa nói với gia chủ Citta:
—Thật là vi diệu, thưa Tôn giả! Thật là hy hữu, thưa Tôn giả, Chánh pháp được khéo thuyết. Một gia chủ mặc áo trắng lại có thể chứng đạt được, lại có thể lạc trú pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh! Thưa Gia chủ, hãy cho tôi được xuất gia trong Pháp và Luật này. Hãy cho tôi thọ đại giới.
Vi-n 10 Rồi gia chủ Citta đưa lõa thể Kassapa đến một số Tỷ-kheo trưởng lão; sau khi đến, thưa với các Tỷ-kheo trưởng lão:
—Bạch chư Thượng tọa, lõa thể Kassapa này là một người bạn của chúng con khi chúng con còn là gia chủ. Chư Thượng tọa hãy cho người này xuất gia, cho thọ đại giới. Con sẽ cố gắng cúng dường các vật liệu như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.
Vi-n 11 Lõa thể Kassapa được xuất gia trong Pháp và Luật này, được thọ đại giới. Ðược thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Kassapa sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Không bao lâu vị ấy đạt được mục đích mà các thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến: đó là Vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, tự mình chứng tri với thượng trí, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 12 Và Tôn giả Kassapa trở thành một vị A-la-hán nữa.
Tena kho pana samayena acelo kassapo macchikāsaṇḍaṁ anuppatto hoti cittassa gahapatino purāṇagihisahāyo.
Assosi kho citto gahapati: “acelo kira kassapo macchikāsaṇḍaṁ anuppatto amhākaṁ purāṇagihisahāyo”ti.
Atha kho citto gahapati yena acelo kassapo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā acelena kassapena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho citto gahapati acelaṁ kassapaṁ etadavoca:
“kīvaciraṁ pabbajitassa, bhante kassapā”ti?
“Tiṁsamattāni kho me, gahapati, vassāni pabbajitassā”ti.
“Imehi pana te, bhante, tiṁsamattehi vassehi atthi koci uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāro”ti?
“Imehi kho me, gahapati, tiṁsamattehi vassehi pabbajitassa natthi koci uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāro, aññatra naggeyyā ca muṇḍeyyā ca pāvaḷanipphoṭanāya cā”ti.
Evaṁ vutte, citto gahapati acelaṁ kassapaṁ etadavoca:
“acchariyaṁ vata, bho, abbhutaṁ vata, bho.
Dhammassa svākkhātatā yatra hi nāma tiṁsamattehi vassehi na koci uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso adhigato abhavissa phāsuvihāro, aññatra naggeyyā ca muṇḍeyyā ca pāvaḷanipphoṭanāya cā”ti.
“Tuyhaṁ pana, gahapati, kīvaciraṁ upāsakattaṁ upagatassā”ti?
“Mayhampi kho pana, bhante, tiṁsamattāni vassāni upāsakattaṁ upagatassā”ti.
“Imehi pana te, gahapati, tiṁsamattehi vassehi atthi koci uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāro”ti?
“Gihinopi siyā, bhante.
Ahañhi, bhante, yāvadeva ākaṅkhāmi, vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharāmi.
Ahañhi, bhante, yāvadeva ākaṅkhāmi, vitakkavicārānaṁ vūpasamā … dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharāmi.
Ahañhi, bhante, yāvadeva ākaṅkhāmi, pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharāmi.
Ahañhi, bhante, yāvadeva ākaṅkhāmi, sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharāmi.
Sace kho panāhaṁ, bhante, bhagavato paṭhamataraṁ kālaṁ kareyyaṁ, anacchariyaṁ kho panetaṁ yaṁ maṁ bhagavā evaṁ byākareyya:
‘natthi taṁ saṁyojanaṁ yena saṁyojanena saṁyutto citto gahapati puna imaṁ lokaṁ āgaccheyyā’”ti.
Evaṁ vutte, acelo kassapo cittaṁ gahapatiṁ etadavoca:
“acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho.
Dhammassa svākkhātatā, yatra hi nāma gihī odātavasano evarūpaṁ uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ adhigamissati phāsuvihāraṁ.
Labheyyāhaṁ, gahapati, imasmiṁ dhammavinaye pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti.
Atha kho citto gahapati acelaṁ kassapaṁ ādāya yena therā bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā there bhikkhū etadavoca:
“ayaṁ, bhante, acelo kassapo amhākaṁ purāṇagihisahāyo.
Imaṁ therā pabbājentu upasampādentu.
Ahamassa ussukkaṁ karissāmi cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānan”ti.
Alattha kho acelo kassapo imasmiṁ dhammavinaye pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ.
Acirūpasampanno ca panāyasmā kassapo eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi.
“Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti abbhaññāsi.
Aññataro ca panāyasmā kassapo arahataṁ ahosīti.
Navamaṁ.
Now at that time the naked ascetic Kassapa, an old friend of Citta in the lay life, had arrived at Macchikāsaṇḍa.
Citta the householder heard that he had arrived.
So he went up to him, and they exchanged greetings.
When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the naked ascetic Kassapa,
“Honorable Kassapa, how long has it been since you went forth?”
“It’s been thirty years, householder.”
“But sir, in these thirty years have you achieved any superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones, a comfortable meditation?”
“I have no such achievement, householder, only nudity, baldness, and pokes in the buttocks.”
Citta said to him,
“Oh lord, how incredible, how amazing,
how well explained the teaching is. For in thirty years you have achieved no superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones, no comfortable meditation, only nudity, baldness, and pokes in the buttocks.”
“But householder, how long have you been a lay follower?”
“It’s been thirty years, sir.”
“But householder, in these thirty years have you achieved any superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones, a comfortable meditation?”
“How, sir, could I not?
For whenever I want, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, I enter and remain in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected.
And whenever I want, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled … I enter and remain in the second absorption.
And whenever I want, with the fading away of rapture … I enter and remain in the third absorption.
And whenever I want, giving up pleasure and pain … I enter and remain in the fourth absorption.
If I pass away before the Buddha, it would be no wonder if the Buddha declares of me:
‘The householder Citta is bound by no fetter that might return him to this world.’”
When this was said, Kassapa said to Citta,
“Oh lord, how incredible, how amazing,
how well explained the teaching is. For a white-clothed layperson can achieve such a superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones, a comfortable meditation.
Householder, may I receive the going forth, the ordination in this teaching and training?”
Then Citta the householder took the naked ascetic Kassapa to see the senior mendicants, and said to them:
“Sirs, this is the naked ascetic Kassapa, who in lay life was an old friend of mine.
May the senior monks give him the going forth, the ordination.
I’ll make sure that he’s provided with robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick.”
And the naked ascetic Kassapa received the going forth, the ordination in this teaching and training.
Not long after his ordination, Venerable Kassapa, living alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute, soon realized the supreme end of the spiritual path in this very life. He lived having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.
He understood: “Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.”
And Venerable Kassapa became one of the perfected.
Vi-n 1 ..
Vi-n 2 Lúc bấy giờ lõa thể Kassapa đã đi đến Macchikàsanda, một bạn cũ của gia chủ Citta khi còn là gia chủ.
Vi-n 3 Gia chủ Citta nghe lõa thể Kassapa, một bạn cũ của mình khi còn là gia chủ, đã đến Macchikàsanda.
Rồi gia chủ Citta đi đến lõa thể Kassapa; sau khi đến, nói lên với lõa thể Kassapa những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 4 Ngồi một bên, gia chủ Citta nói với lõa thể Kassapa:
—Tôn giả Kassapa, Tôn giả xuất gia đã bao lâu?
—Này Gia chủ, ta đã xuất gia khoảng ba mươi năm.
Vi-n 5 —Thưa Tôn giả, trong ba mươi năm ấy, Tôn giả có chứng được pháp thượng nhơn nào, tri kiến thù thắng nào xứng đáng bậc Thánh và được lạc trú?
—Này Gia chủ, trong suốt ba mươi năm ấy, ta không chứng được và không được lạc trú một pháp thượng nhân nào, một tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh, ngoại trừ sự lõa thể, sự trọc đầu, sự phủi bụi và đất cát (pàvàlanipphotana).
Vi-n 6 Khi nghe nói vậy, gia chủ Citta nói với lõa thể Kassapa:
—Thật là bất tư nghì, thật là hy hữu, chánh pháp được thuyết trong suốt ba mươi năm ấy, không chứng được, không được lạc trú một pháp thượng nhân nào, một tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh!
Vi-n 7 —Này Gia chủ, đã bao lâu Ông làm người cư sĩ?
—Thưa Tôn giả, tôi thành người cư sĩ đã được ba mươi năm.
Vi-n 8 —Trong suốt ba mươi năm ấy, này Gia chủ, Ông có chứng được và được lạc trú pháp thượng nhân nào, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh?
—Sao lại không vậy được, thưa Tôn giả! Nếu tôi muốn, thưa Tôn giả, tôi ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Nếu tôi muốn, thưa Tôn giả, tôi chỉ tịnh tầm và tứ … chứng và trú Thiền thứ hai. Nếu tôi muốn, thưa Tôn giả, ly hỷ … tôi chứng và trú Thiền thứ ba. Nếu tôi muốn, thưa Tôn giả, đoạn tận lạc … tôi chứng và trú Thiền thứ tư. Nếu tôi mệnh chung sớm hơn Thế Tôn, thưa Tôn giả, không có gì lạ, nếu Thế Tôn sẽ nói về tôi như sau: “Không có một kiết sử nào, do bị trói buộc bởi kiết sử ấy, Citta trở lui tại thế giới này nữa”.
Vi-n 9 Khi nghe nói vậy, lõa thể Kassapa nói với gia chủ Citta:
—Thật là vi diệu, thưa Tôn giả! Thật là hy hữu, thưa Tôn giả, Chánh pháp được khéo thuyết. Một gia chủ mặc áo trắng lại có thể chứng đạt được, lại có thể lạc trú pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh! Thưa Gia chủ, hãy cho tôi được xuất gia trong Pháp và Luật này. Hãy cho tôi thọ đại giới.
Vi-n 10 Rồi gia chủ Citta đưa lõa thể Kassapa đến một số Tỷ-kheo trưởng lão; sau khi đến, thưa với các Tỷ-kheo trưởng lão:
—Bạch chư Thượng tọa, lõa thể Kassapa này là một người bạn của chúng con khi chúng con còn là gia chủ. Chư Thượng tọa hãy cho người này xuất gia, cho thọ đại giới. Con sẽ cố gắng cúng dường các vật liệu như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.
Vi-n 11 Lõa thể Kassapa được xuất gia trong Pháp và Luật này, được thọ đại giới. Ðược thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Kassapa sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Không bao lâu vị ấy đạt được mục đích mà các thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến: đó là Vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, tự mình chứng tri với thượng trí, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 12 Và Tôn giả Kassapa trở thành một vị A-la-hán nữa.
Tena kho pana samayena acelo kassapo macchikāsaṇḍaṁ anuppatto hoti cittassa gahapatino purāṇagihisahāyo.
Assosi kho citto gahapati: “acelo kira kassapo macchikāsaṇḍaṁ anuppatto amhākaṁ purāṇagihisahāyo”ti.
Atha kho citto gahapati yena acelo kassapo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā acelena kassapena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho citto gahapati acelaṁ kassapaṁ etadavoca:
“kīvaciraṁ pabbajitassa, bhante kassapā”ti?
“Tiṁsamattāni kho me, gahapati, vassāni pabbajitassā”ti.
“Imehi pana te, bhante, tiṁsamattehi vassehi atthi koci uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāro”ti?
“Imehi kho me, gahapati, tiṁsamattehi vassehi pabbajitassa natthi koci uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāro, aññatra naggeyyā ca muṇḍeyyā ca pāvaḷanipphoṭanāya cā”ti.
Evaṁ vutte, citto gahapati acelaṁ kassapaṁ etadavoca:
“acchariyaṁ vata, bho, abbhutaṁ vata, bho.
Dhammassa svākkhātatā yatra hi nāma tiṁsamattehi vassehi na koci uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso adhigato abhavissa phāsuvihāro, aññatra naggeyyā ca muṇḍeyyā ca pāvaḷanipphoṭanāya cā”ti.
“Tuyhaṁ pana, gahapati, kīvaciraṁ upāsakattaṁ upagatassā”ti?
“Mayhampi kho pana, bhante, tiṁsamattāni vassāni upāsakattaṁ upagatassā”ti.
“Imehi pana te, gahapati, tiṁsamattehi vassehi atthi koci uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanaviseso adhigato phāsuvihāro”ti?
“Gihinopi siyā, bhante.
Ahañhi, bhante, yāvadeva ākaṅkhāmi, vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharāmi.
Ahañhi, bhante, yāvadeva ākaṅkhāmi, vitakkavicārānaṁ vūpasamā … dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharāmi.
Ahañhi, bhante, yāvadeva ākaṅkhāmi, pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharāmi.
Ahañhi, bhante, yāvadeva ākaṅkhāmi, sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharāmi.
Sace kho panāhaṁ, bhante, bhagavato paṭhamataraṁ kālaṁ kareyyaṁ, anacchariyaṁ kho panetaṁ yaṁ maṁ bhagavā evaṁ byākareyya:
‘natthi taṁ saṁyojanaṁ yena saṁyojanena saṁyutto citto gahapati puna imaṁ lokaṁ āgaccheyyā’”ti.
Evaṁ vutte, acelo kassapo cittaṁ gahapatiṁ etadavoca:
“acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho.
Dhammassa svākkhātatā, yatra hi nāma gihī odātavasano evarūpaṁ uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ adhigamissati phāsuvihāraṁ.
Labheyyāhaṁ, gahapati, imasmiṁ dhammavinaye pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti.
Atha kho citto gahapati acelaṁ kassapaṁ ādāya yena therā bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā there bhikkhū etadavoca:
“ayaṁ, bhante, acelo kassapo amhākaṁ purāṇagihisahāyo.
Imaṁ therā pabbājentu upasampādentu.
Ahamassa ussukkaṁ karissāmi cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānan”ti.
Alattha kho acelo kassapo imasmiṁ dhammavinaye pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ.
Acirūpasampanno ca panāyasmā kassapo eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi.
“Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti abbhaññāsi.
Aññataro ca panāyasmā kassapo arahataṁ ahosīti.
Navamaṁ.