Vi-n 1 Như vầy tôi nghe. Một thời Tôn giả Mahākassapa (Ðại Ca-diếp), và Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) trú ở Bārāṇasī (Ba-la-nại), chỗ Isipatana (chư Tiên đọa xứ), tại Migadāya (Lộc Uyển).
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Sāriputta vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahākassapa; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Mahākassapa những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Mahākassapa:
Vi-n 4 —Này Hiền giả Kassapa, được nói rằng không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách; và có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
Vi-n 5 Như thế nào, này Hiền giả, là không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách? Và như thế nào là có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách?
I
Vi-n 6 —Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo suy nghĩ: “Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, chúng có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy không khởi nhiệt tâm. “Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, chúng có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy không khởi nhiệt tâm. “Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy không khởi nhiệt tâm. “Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy không khởi nhiệt tâm.
Như vậy, này Hiền giả, là không có nhiệt tâm.
II
Vi-n 7 Và này Hiền giả, như thế nào là không biết sợ?
Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo suy nghĩ: “Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, chúng có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy không có biết sợ. “Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy không biết sợ. “Các thiện pháp không khởi lên ta. Nếu chúng không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy không biết sợ. “Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy không biết sợ.
Như vậy, này Hiền giả, là không biết sợ.
Vi-n 8 Như vậy, này Hiền giả, không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
III
Vi-n 9 Và này Hiền giả, thế nào là có nhiệt tâm?
Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo suy nghĩ: “Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy khởi nhiệt tâm. “Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy khởi nhiệt tâm. “Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy khởi nhiệt tâm. “Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy khởi nhiệt tâm. “Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy khởi lên nhiệt tâm.
Như vậy, này Hiền giả, là có nhiệt tâm.
IV
Vi-n 10 Và này Hiền giả, như thế nào là có biết sợ?
Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo suy nghĩ: “Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy có biết sợ. “Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy có biết sợ. “Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy có biết sợ. “Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy có biết sợ.
Như vậy, này Hiền giả, là có biết sợ.
Vi-n 11 Như vậy, này Hiền giả, là có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể đưa đến chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ āyasmā ca mahākassapo āyasmā ca sāriputto bārāṇasiyaṁ viharanti isipatane migadāye.
Atha kho āyasmā sāriputto sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā mahākassapo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā mahākassapena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto āyasmantaṁ mahākassapaṁ etadavoca:
“vuccati hidaṁ, āvuso kassapa, anātāpī anottappī abhabbo sambodhāya abhabbo nibbānāya abhabbo anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya;
ātāpī ca kho ottappī bhabbo sambodhāya bhabbo nibbānāya bhabbo anuttarassa yogakkhemassa adhigamāyā”ti.
“Kittāvatā nu kho, āvuso, anātāpī hoti anottappī abhabbo sambodhāya abhabbo nibbānāya abhabbo anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya;
kittāvatā ca panāvuso, ātāpī hoti ottappī bhabbo sambodhāya bhabbo nibbānāya bhabbo anuttarassa yogakkhemassa adhigamāyā”ti?
“Idhāvuso, bhikkhu ‘anuppannā me pāpakā akusalā dhammā uppajjamānā anatthāya saṁvatteyyun’ti na ātappaṁ karoti, ‘uppannā me pāpakā akusalā dhammā appahīyamānā anatthāya saṁvatteyyun’ti na ātappaṁ karoti, ‘anuppannā me kusalā dhammā nuppajjamānā anatthāya saṁvatteyyun’ti na ātappaṁ karoti, ‘uppannā me kusalā dhammā nirujjhamānā anatthāya saṁvatteyyun’ti na ātappaṁ karoti.
Evaṁ kho, āvuso, anātāpī hoti.
Kathañcāvuso, anottappī hoti?
Idhāvuso, bhikkhu ‘anuppannā me pāpakā akusalā dhammā uppajjamānā anatthāya saṁvatteyyun’ti na ottappati, ‘uppannā me pāpakā akusalā dhammā appahīyamānā anatthāya saṁvatteyyun’ti na ottappati, ‘anuppannā me kusalā dhammā nuppajjamānā anatthāya saṁvatteyyun’ti na ottappati, ‘uppannā me kusalā dhammā nirujjhamānā anatthāya saṁvatteyyun’ti na ottappati.
Evaṁ kho, āvuso, anottappī hoti.
Evaṁ kho, āvuso, anātāpī anottappī abhabbo sambodhāya abhabbo nibbānāya abhabbo anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya.
Kathañcāvuso, ātāpī hoti?
Idhāvuso, bhikkhu ‘anuppannā me pāpakā akusalā dhammā uppajjamānā anatthāya saṁvatteyyun’ti ātappaṁ karoti, ‘uppannā me pāpakā akusalā dhammā appahīyamānā anatthāya saṁvatteyyun’ti ātappaṁ karoti, anuppannā me kusalā dhammā …pe… ātappaṁ karoti.
Evaṁ kho, āvuso, ātāpī hoti.
Kathañcāvuso, ottappī hoti?
Idhāvuso, bhikkhu ‘anuppannā me pāpakā akusalā dhammā uppajjamānā anatthāya saṁvatteyyun’ti ottappati, ‘uppannā me pāpakā akusalā dhammā appahīyamānā anatthāya saṁvatteyyun’ti ottappati, ‘anuppannā me kusalā dhammā anuppajjamānā anatthāya saṁvatteyyun’ti ottappati, ‘uppannā me kusalā dhammā nirujjhamānā anatthāya saṁvatteyyun’ti ottappati.
Evaṁ kho, āvuso, ottappī hoti.
Evaṁ kho, āvuso, ātāpī ottappī bhabbo sambodhāya bhabbo nibbānāya bhabbo anuttarassa yogakkhemassa adhigamāyā”ti.
Dutiyaṁ.
SC 1Thus have I heard. On one occasion the Venerable Mahakassapa and the Venerable Sāriputta were dwelling at Baraṇasī in the Deer Park at Isipatana. Then, in the evening, the Venerable Sāriputta emerged from seclusion and approached the Venerable Mahakassapa. He exchanged greetings with the Venerable Mahakassapa and, when they had concluded their greetings and cordial talk, he sat down to one side and said to him:
SC 2“Friend, it is said that one who is not ardent and who is unafraid of wrongdoing is incapable of enlightenment, incapable of Nibbāna, incapable of achieving the unsurpassed security from bondage; but one who is ardent sn.ii.196 and afraid of wrongdoing is capable of enlightenment, capable of Nibbāna, capable of achieving the unsurpassed security from bondage. In what way is this so, friend?”
SC 3“Here, friend, a bhikkhu does not arouse ardour by thinking: ‘If unarisen evil unwholesome states arise in me, this may lead to my harm’; nor by thinking: ‘If evil unwholesome states that have arisen in me are not abandoned, this may lead to my harm’; nor by thinking: ‘If unarisen wholesome states do not arise in me, this may lead to my harm’; nor by thinking: ‘If wholesome states that have arisen in me cease, this may lead to my harm.’ Thus he is not ardent.
SC 4“And how, friend, is he unafraid of wrongdoing? Here, friend, a bhikkhu does not become afraid at the thought: ‘If unarisen evil unwholesome states arise in me, this may lead to my harm’ … nor at the thought: ‘If wholesome states that have arisen in me cease, this may lead to my harm.’ Thus he is unafraid of wrongdoing.
SC 5“It is in this way, friend, that one who is not ardent and who is unafraid of wrongdoing is incapable of enlightenment, incapable of Nibbāna, incapable of achieving the unsurpassed security from bondage.
SC 6“And how, friend, is one ardent? Here, friend, a bhikkhu arouses ardour by thinking: ‘If unarisen evil unwholesome states arise in me, this may lead to my harm’ … and by thinking: ‘If wholesome states that have arisen in me cease, this may lead to my harm.’ Thus he is ardent.
SC 7“And how, friend, is he afraid of wrongdoing? Here, friend, a bhikkhu becomes afraid at the thought: ‘If unarisen evil unwholesome states arise in me, this may lead to my harm’; … and at the thought: ‘If wholesome states that have arisen in me cease, this may lead to my harm.’ sn.ii.197 Thus he is afraid of wrongdoing.
SC 8“It is in this way, friend, that one who is ardent and afraid of wrongdoing is capable of enlightenment, capable of Nibbāna, capable of achieving the unsurpassed security from bondage.”
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe. Một thời Tôn giả Mahākassapa (Ðại Ca-diếp), và Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) trú ở Bārāṇasī (Ba-la-nại), chỗ Isipatana (chư Tiên đọa xứ), tại Migadāya (Lộc Uyển).
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Sāriputta vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahākassapa; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Mahākassapa những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Mahākassapa:
Vi-n 4 —Này Hiền giả Kassapa, được nói rằng không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách; và có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
Vi-n 5 Như thế nào, này Hiền giả, là không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách? Và như thế nào là có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách?
I
Vi-n 6 —Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo suy nghĩ: “Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, chúng có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy không khởi nhiệt tâm. “Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, chúng có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy không khởi nhiệt tâm. “Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy không khởi nhiệt tâm. “Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy không khởi nhiệt tâm.
Như vậy, này Hiền giả, là không có nhiệt tâm.
II
Vi-n 7 Và này Hiền giả, như thế nào là không biết sợ?
Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo suy nghĩ: “Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, chúng có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy không có biết sợ. “Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy không biết sợ. “Các thiện pháp không khởi lên ta. Nếu chúng không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy không biết sợ. “Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy không biết sợ.
Như vậy, này Hiền giả, là không biết sợ.
Vi-n 8 Như vậy, này Hiền giả, không có nhiệt tâm, không có biết sợ, không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
III
Vi-n 9 Và này Hiền giả, thế nào là có nhiệt tâm?
Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo suy nghĩ: “Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy khởi nhiệt tâm. “Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy khởi nhiệt tâm. “Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy khởi nhiệt tâm. “Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy khởi nhiệt tâm. “Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy khởi lên nhiệt tâm.
Như vậy, này Hiền giả, là có nhiệt tâm.
IV
Vi-n 10 Và này Hiền giả, như thế nào là có biết sợ?
Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo suy nghĩ: “Các ác bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy có biết sợ. “Các ác bất thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng không bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy có biết sợ. “Các thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy có biết sợ. “Các thiện pháp khởi lên nơi ta. Nếu chúng bị đoạn diệt, có thể đưa đến bất lợi”, vị ấy có biết sợ.
Như vậy, này Hiền giả, là có biết sợ.
Vi-n 11 Như vậy, này Hiền giả, là có nhiệt tâm, có biết sợ, có thể có giác ngộ, có thể có Niết-bàn, có thể đưa đến chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ āyasmā ca mahākassapo āyasmā ca sāriputto bārāṇasiyaṁ viharanti isipatane migadāye.
Atha kho āyasmā sāriputto sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā mahākassapo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā mahākassapena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto āyasmantaṁ mahākassapaṁ etadavoca:
“vuccati hidaṁ, āvuso kassapa, anātāpī anottappī abhabbo sambodhāya abhabbo nibbānāya abhabbo anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya;
ātāpī ca kho ottappī bhabbo sambodhāya bhabbo nibbānāya bhabbo anuttarassa yogakkhemassa adhigamāyā”ti.
“Kittāvatā nu kho, āvuso, anātāpī hoti anottappī abhabbo sambodhāya abhabbo nibbānāya abhabbo anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya;
kittāvatā ca panāvuso, ātāpī hoti ottappī bhabbo sambodhāya bhabbo nibbānāya bhabbo anuttarassa yogakkhemassa adhigamāyā”ti?
“Idhāvuso, bhikkhu ‘anuppannā me pāpakā akusalā dhammā uppajjamānā anatthāya saṁvatteyyun’ti na ātappaṁ karoti, ‘uppannā me pāpakā akusalā dhammā appahīyamānā anatthāya saṁvatteyyun’ti na ātappaṁ karoti, ‘anuppannā me kusalā dhammā nuppajjamānā anatthāya saṁvatteyyun’ti na ātappaṁ karoti, ‘uppannā me kusalā dhammā nirujjhamānā anatthāya saṁvatteyyun’ti na ātappaṁ karoti.
Evaṁ kho, āvuso, anātāpī hoti.
Kathañcāvuso, anottappī hoti?
Idhāvuso, bhikkhu ‘anuppannā me pāpakā akusalā dhammā uppajjamānā anatthāya saṁvatteyyun’ti na ottappati, ‘uppannā me pāpakā akusalā dhammā appahīyamānā anatthāya saṁvatteyyun’ti na ottappati, ‘anuppannā me kusalā dhammā nuppajjamānā anatthāya saṁvatteyyun’ti na ottappati, ‘uppannā me kusalā dhammā nirujjhamānā anatthāya saṁvatteyyun’ti na ottappati.
Evaṁ kho, āvuso, anottappī hoti.
Evaṁ kho, āvuso, anātāpī anottappī abhabbo sambodhāya abhabbo nibbānāya abhabbo anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya.
Kathañcāvuso, ātāpī hoti?
Idhāvuso, bhikkhu ‘anuppannā me pāpakā akusalā dhammā uppajjamānā anatthāya saṁvatteyyun’ti ātappaṁ karoti, ‘uppannā me pāpakā akusalā dhammā appahīyamānā anatthāya saṁvatteyyun’ti ātappaṁ karoti, anuppannā me kusalā dhammā …pe… ātappaṁ karoti.
Evaṁ kho, āvuso, ātāpī hoti.
Kathañcāvuso, ottappī hoti?
Idhāvuso, bhikkhu ‘anuppannā me pāpakā akusalā dhammā uppajjamānā anatthāya saṁvatteyyun’ti ottappati, ‘uppannā me pāpakā akusalā dhammā appahīyamānā anatthāya saṁvatteyyun’ti ottappati, ‘anuppannā me kusalā dhammā anuppajjamānā anatthāya saṁvatteyyun’ti ottappati, ‘uppannā me kusalā dhammā nirujjhamānā anatthāya saṁvatteyyun’ti ottappati.
Evaṁ kho, āvuso, ottappī hoti.
Evaṁ kho, āvuso, ātāpī ottappī bhabbo sambodhāya bhabbo nibbānāya bhabbo anuttarassa yogakkhemassa adhigamāyā”ti.
Dutiyaṁ.