Vi-n 1 Tại Sāvatthi.
Vi-n 2 Rồi Tỷ-kheo Kokālika đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo Kokālika bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Sāriputta và Moggallāna là hạng ác dục. Họ bị ác dục chi phối.
Vi-n 4 Khi được nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Tỷ-kheo Kokālika:
—Này Kokālika, chớ có nói như vậy. Này Kokālika, chớ có nói như vậy. Này Kokālika, hãy đặt tin tưởng vào Sāriputta và Moggallāna. Sāriputta và Moggallāna thật là hòa ái.
Vi-n 5 Lần thứ hai, Tỷ-kheo Kokālika bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, dầu Thế Tôn đáng tin tưởng, rất đáng tin cậy; nhưng Sāriputta và Moggallāna là hạng ác dục. Họ bị ác dục chi phối.
Vi-n 6 Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Tỷ-kheo Kokalika:
—Này Kokālika, chớ có nói như vậy. Này Kokālika, chớ có nói như vậy. Này Kokālika, hãy đặt tin tưởng vào Sāriputta và Moggallāna. Sāriputta và Moggallāna thật là hòa ái.
Vi-n 7 Lần thứ ba, Tỷ-kheo Kokālika bạch Thế Tôn:
—… Họ bị ác dục chi phối.
Vi-n 8 Lần thứ ba, Thế Tôn bảo Tỷ-kheo Kokālika:
—… Sāriputta và Moggallāna thật là hòa ái.
Vi-n 9 Rồi Tỷ-kheo Kokālika từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên phải hướng về Ngài, rồi ra đi.
Vi-n 10 Tỷ-kheo Kokālika ra đi không được bao lâu, toàn thân mọc lên những mụt nhọt lớn bằng hột cải. Từ hột cải, chúng lớn lên bằng hột đậu xanh (mugga). Từ hột đậu xanh, chúng lớn lên bằng hột đậu lớn (kalàya). Từ hột đậu lớn, chúng lớn lên bằng rolatthi (hột cây jujube, cây táo). Từ hột rolatthi, chúng lớn lên bằng hột kolama. Từ hột kolama, chúng lớn lên bằng hột āmala (a-ma-la quả). Từ quả āmala, chúng lớn lên bằng quả beluva chưa chín. Từ quả beluva chưa chín, chúng lớn lên bằng quả billa. Từ hình lớn bằng quả billa, chúng nứt vỡ ra, chảy máu và mủ.
Vi-n 11 Rồi Tỷ-kheo Kokālika do bệnh này bị mệnh chung. Bị mệnh chung, Tỷ-kheo Kokālika sanh trong địa ngục Sen hồng, với tâm hận thù đối với Tôn giả Sāriputta và Moggallāna.
Vi-n 12 Rồi Phạm thiên Sahampati, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên.
Vi-n 13 Ðứng một bên, Phạm thiên Sahampati bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokālika đã mệnh chung. Bạch Thế Tôn, sau khi mệnh chung Tỷ-kheo Kokālika phải sanh vào địa ngục Sen hồng với tâm hận thù đối với Tôn giả Sāriputta và Moggallāna.
Vi-n 14 Phạm thiên Sahampati nói như vậy. Sau khi nói xong, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ ấy.
Vi-n 15 Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã qua, liền bảo các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, hồi hôm, Phạm thiên Sahampati, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, này các Tỷ kheo, Phạm thiên Sahampati bạch với Ta: ” Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo Kokālika đã mệnh chung. Và bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokālika sau khi mệnh chung đã sanh vào địa ngục Sen hồng với tâm thù hận đối với Tôn giả Sāriputta và Moggattàna”. Này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Sahampati nói như vậy. Sau khi nói xong, đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về Ta, rồi biến mất tại chỗ.
Vi-n 16 Ðược nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, bao nhiêu lâu là tuổi thọ trong địa ngục Sen hồng?
Vi-n 17 —Thật dài, này Tỷ-kheo, là tuổi thọ trong địa ngục Sen hồng. Không dễ gì tính được là bao nhiêu năm, bao nhiêu trăm năm, bao nhiêu ngàn năm, bao nhiêu trăm ngàn năm.
Vi-n 18 —Bạch Thế Tôn, có thể tính được chăng bằng một ví dụ?
Vi-n 19 Thế Tôn đáp:
—Có thể được, này Tỷ-kheo. Này Tỷ-kheo, ví như có một bao hột đậu mè, nặng hai mươi khārika, theo đo lường ở nước Kosala. Ví dụ sau một trăm năm, một người lấy ra một lần một hột mè. Này Tỷ-kheo, còn mau hơn là bao hột mè, nặng hai mươi khārika ấy, theo đo lường của nước Kosala, đi đến tiêu hao, đi đến hao mòn do phương tiện ấy, so sánh (với tuổi thọ) ở địa ngục Abhuda. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Abhuda bằng một tuổi thọ ở địa ngục Nirabbuda. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Nirabbuda bằng một tuổi thọ ở địa ngục Ababa. Này-Tỷ kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Ababa bằng một tuổi thọ ở địa ngục Aṭaṭa. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Aṭaṭa bằng một tuổi thọ ở địa ngục Ahaha. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Ahaha bằng một tuổi thọ ở địa ngục Kumuda. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Kumuda bằng một tuổi thọ ở địa ngục Sogandhika. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Sogandhika bằng một tuổi thọ ở địa ngục Uppala (Hoa sen xanh). Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Uppala bằng một tuổi thọ ở địa ngục Puṇḍarīka (Sen trắng). Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Sen trắng bằng một tuổi thọ ở địa ngục Sen hồng. Này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo Kokālika sanh tại địa ngục Sen hồng với tâm hận thù đối với tôn giả Sāriputta và Moggallāna.
Vi-n 20 Thế Tôn nói như vậy. Sau khi nói như vậy, bậc Thiện Thệ lại nói thêm:
Phàm con người đã sanh,
Sanh với búa trong miệng,
Kẻ ngu khi nói bậy,
Tự chặt đứt lấy thân.
Ai khen kẻ làm bậy,
Ai chê người làm hay,
Tự nhen nhúm bất hạnh,
Do nơi miệng của mình,
Chính do bất hạnh ấy,
Nên không được an lạc.
Nhỏ thay bất hạnh này,
Trong canh bạc rủi may,
Bị tan hoang tài sản,
Trong giờ phút đỏ đen.
Lớn hơn sự bất hạnh,
Hơn mọi bất hạnh khác,
Do tự mình gây nên,
Cho tự ngã của mình.
Ai đối xử ác ý,
Với chư Phật, Thiện Thệ,
Phải trải qua thời gian,
Trăm ngàn nhiều hơn nữa,
Ba mươi sáu và năm,
Trải thời gian thật dài.
Ai với lời và ý,
Phỉ báng bậc Hiền Thánh,
Dùng ác tâm chống đối,
Sẽ sa đọa địa ngục.
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho kokāliko bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho kokāliko bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“pāpicchā, bhante, sāriputtamoggallānā pāpikānaṁ icchānaṁ vasaṁ gatā”ti.
Evaṁ vutte, bhagavā kokālikaṁ bhikkhuṁ etadavoca:
“mā hevaṁ, kokālika, avaca; mā hevaṁ, kokālika, avaca.
Pasādehi, kokālika, sāriputtamoggallānesu cittaṁ. Pesalā sāriputtamoggallānā”ti.
Dutiyampi kho kokāliko bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“kiñcāpi me, bhante, bhagavā saddhāyiko paccayiko; atha kho pāpicchāva bhante, sāriputtamoggallānā pāpikānaṁ icchānaṁ vasaṁ gatā”ti.
Dutiyampi kho bhagavā kokālikaṁ bhikkhuṁ etadavoca:
“mā hevaṁ, kokālika, avaca; mā hevaṁ, kokālika, avaca.
Pasādehi, kokālika, sāriputtamoggallānesu cittaṁ. Pesalā sāriputtamoggallānā”ti.
Tatiyampi kho kokāliko bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“kiñcāpi …pe… icchānaṁ vasaṁ gatā”ti.
Tatiyampi kho bhagavā kokālikaṁ bhikkhuṁ etadavoca:
“mā hevaṁ …pe…
pesalā sāriputtamoggallānā”ti.
Atha kho kokāliko bhikkhu uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Acirapakkantassa ca kokālikassa bhikkhuno sāsapamattīhi pīḷakāhi sabbo kāyo phuṭo ahosi.
Sāsapamattiyo hutvā muggamattiyo ahesuṁ, muggamattiyo hutvā kalāyamattiyo ahesuṁ, kalāyamattiyo hutvā kolaṭṭhimattiyo ahesuṁ, kolaṭṭhimattiyo hutvā kolamattiyo ahesuṁ, kolamattiyo hutvā āmalakamattiyo ahesuṁ, āmalakamattiyo hutvā beluvasalāṭukamattiyo ahesuṁ, beluvasalāṭukamattiyo hutvā billamattiyo ahesuṁ, billamattiyo hutvā pabhijjiṁsu. Pubbañca lohitañca pagghariṁsu.
Atha kho kokāliko bhikkhu teneva ābādhena kālamakāsi.
Kālaṅkato ca kokāliko bhikkhu padumaṁ nirayaṁ upapajji sāriputtamoggallānesu cittaṁ āghātetvā.
Atha kho brahmā sahampati abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho brahmā sahampati bhagavantaṁ etadavoca:
“kokāliko, bhante, bhikkhu kālaṅkato.
Kālaṅkato ca, bhante, kokāliko bhikkhu padumaṁ nirayaṁ upapanno sāriputtamoggallānesu cittaṁ āghātetvā”ti.
Idamavoca brahmā sahampati.
Idaṁ vatvā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyīti.
Atha kho bhagavā tassā rattiyā accayena bhikkhū āmantesi:
“imaṁ, bhikkhave, rattiṁ brahmā sahampati abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho, bhikkhave, brahmā sahampati maṁ etadavoca:
‘kokāliko, bhante, bhikkhu kālaṅkato.
Kālaṅkato ca, bhante, kokāliko bhikkhu padumaṁ nirayaṁ upapanno sāriputtamoggallānesu cittaṁ āghātetvā’ti.
Idamavoca, bhikkhave, brahmā sahampati, idaṁ vatvā maṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyī”ti.
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“kīvadīghaṁ nu kho, bhante, padume niraye āyuppamāṇan”ti?
“Dīghaṁ kho, bhikkhu, padume niraye āyuppamāṇaṁ.
Taṁ na sukaraṁ saṅkhātuṁ:
‘ettakāni vassāni iti vā, ettakāni vassasatāni iti vā, ettakāni vassasahassāni iti vā, ettakāni vassasatasahassāni iti vā’”ti.
“Sakkā pana, bhante, upamaṁ kātun”ti?
“Sakkā, bhikkhū”ti bhagavā avoca:
“Seyyathāpi, bhikkhu vīsatikhāriko kosalako tilavāho. Tato puriso vassasatassa vassasatassa accayena ekamekaṁ tilaṁ uddhareyya;
khippataraṁ kho so, bhikkhu, vīsatikhāriko kosalako tilavāho iminā upakkamena parikkhayaṁ pariyādānaṁ gaccheyya, na tveva eko abbudo nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati abbudā nirayā, evameko nirabbudanirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati nirabbudā nirayā, evameko ababo nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati ababā nirayā, evameko aṭaṭo nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati aṭaṭā nirayā, evameko ahaho nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati ahahā nirayā, evameko kumudo nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati kumudā nirayā, evameko sogandhiko nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati sogandhikā nirayā, evameko uppalanirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati uppalā nirayā, evameko puṇḍariko nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati puṇḍarikā nirayā, evameko padumo nirayo.
Padume pana, bhikkhu, niraye kokāliko bhikkhu upapanno sāriputtamoggallānesu cittaṁ āghātetvā”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Purisassa hi jātassa,
kuṭhārī jāyate mukhe;
Yāya chindati attānaṁ,
bālo dubbhāsitaṁ bhaṇaṁ.
Yo nindiyaṁ pasaṁsati,
Taṁ vā nindati yo pasaṁsiyo;
Vicināti mukhena so kaliṁ,
Kalinā tena sukhaṁ na vindati.
Appamattako ayaṁ kali,
Yo akkhesu dhanaparājayo;
Sabbassāpi sahāpi attanā,
Ayameva mahantaro kali;
Yo sugatesu manaṁ padosaye.
Sataṁ sahassānaṁ nirabbudānaṁ,
Chattiṁsati pañca ca abbudāni;
Yamariyagarahī nirayaṁ upeti,
Vācaṁ manañca paṇidhāya pāpakan”ti.
Paṭhamo vaggo.
Tassuddānaṁ
Āyācanaṁ gāravo brahmadevo,
Bako ca brahmā aparā ca diṭṭhi;
Pamādakokālikatissako ca,
Turū ca brahmā aparo ca kokālikoti.
At Sāvatthī.
Then the mendicant Kokālika went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him,
“Sir, Sāriputta and Moggallāna have corrupt wishes. They’ve fallen under the sway of corrupt wishes.”
When this was said, the Buddha said to Kokālika,
“Don’t say that, Kokālika! Don’t say that, Kokālika!
Have confidence in Sāriputta and Moggallāna, they’re good monks.”
For a second time Kokālika said to the Buddha,
“Despite my faith and trust in the Buddha, Sāriputta and Moggallāna have corrupt wishes. They’ve fallen under the sway of corrupt wishes.”
For a second time, the Buddha said to Kokālika,
“Don’t say that, Kokālika! Don’t say that, Kokālika!
Have confidence in Sāriputta and Moggallāna, they’re good monks.”
For a third time Kokālika said to the Buddha,
“Despite my faith and trust in the Buddha, Sāriputta and Moggallāna have corrupt wishes. They’ve fallen under the sway of corrupt wishes.”
For a third time, the Buddha said to Kokālika,
“Don’t say that, Kokālika! Don’t say that, Kokālika!
Have confidence in Sāriputta and Moggallāna, they’re good monks.”
Then Kokālika got up from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving.
Not long after he left his body erupted with boils the size of mustard seeds.
The boils grew to the size of mung beans, then chickpeas, then jujube seeds, then jujubes, then myrobalans, then unripe wood-apples, then ripe wood-apples. Finally they burst open, and pus and blood oozed out.
Then the mendicant Kokālika died of that illness.
He was reborn in the Pink Lotus hell because of his resentment for Sāriputta and Moggallāna.
Then, late at night, the glorious divinity Sahampati, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him,
“Sir, the mendicant Kokālika has passed away.
He was reborn in the Pink Lotus hell because of his resentment for Sāriputta and Moggallāna.”
That’s what the divinity Sahampati said.
Then he bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right side, before vanishing right there.
Then, when the night had passed, the Buddha told the mendicants all that had happened.
When he said this, one of the mendicants asked the Buddha,
“Sir, how long is the lifespan in the Pink Lotus hell?”
“It’s long, mendicant.
It’s not easy to calculate
how many years, how many hundreds or thousands or hundreds of thousands of years it lasts.”
“But sir, is it possible to give a simile?”
“It’s possible,” said the Buddha.
“Suppose there was a Kosalan load of twenty packs of sesame seed. And at the end of every hundred years someone would remove a single seed from it.
By this means the Kosalan load of twenty packs of sesame seed would run out faster than a single lifetime in the Abbuda hell.
Now, twenty lifetimes in the Abbuda hell equal one lifetime in the Nirabbuda hell.
Twenty lifetimes in the Nirabbuda hell equal one lifetime in the Ababa hell.
Twenty lifetimes in the Ababa hell equal one lifetime in the Aṭaṭa hell.
Twenty lifetimes in the Aṭaṭa hell equal one lifetime in the Ahaha hell.
Twenty lifetimes in the Ahaha hell equal one lifetime in the Yellow Lotus hell.
Twenty lifetimes in the Yellow Lotus hell equal one lifetime in the Fragrant Water Lily hell.
Twenty lifetimes in the Fragrant Water Lily hell equal one lifetime in the Blue Water Lily hell.
Twenty lifetimes in the Blue Water Lily hell equal one lifetime in the White Lotus hell.
Twenty lifetimes in the White Lotus hell equal one lifetime in the Pink Lotus hell.
The mendicant Kokālika has been reborn in the Pink Lotus hell because of his resentment for Sāriputta and Moggallāna.”
That is what the Buddha said.
Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
“A man is born
with an axe in his mouth.
A fool cuts themselves with it
when they say bad words.
When you praise someone worthy of criticism,
or criticize someone worthy of praise,
you choose a losing hand with your own mouth:
you’ll never find happiness that way.
A losing hand at dice is a trivial thing,
if all you lose is your money
and all you own, even yourself.
What’s a really terrible hand
is to hate the holy ones.
For a hundred thousand times a hundred million,
times five hundred and thirty-six times a thousand times ten million years
a slanderer of noble ones goes to hell,
having aimed bad words and thoughts at them.”
Vi-n 1 Tại Sāvatthi.
Vi-n 2 Rồi Tỷ-kheo Kokālika đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo Kokālika bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Sāriputta và Moggallāna là hạng ác dục. Họ bị ác dục chi phối.
Vi-n 4 Khi được nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Tỷ-kheo Kokālika:
—Này Kokālika, chớ có nói như vậy. Này Kokālika, chớ có nói như vậy. Này Kokālika, hãy đặt tin tưởng vào Sāriputta và Moggallāna. Sāriputta và Moggallāna thật là hòa ái.
Vi-n 5 Lần thứ hai, Tỷ-kheo Kokālika bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, dầu Thế Tôn đáng tin tưởng, rất đáng tin cậy; nhưng Sāriputta và Moggallāna là hạng ác dục. Họ bị ác dục chi phối.
Vi-n 6 Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Tỷ-kheo Kokalika:
—Này Kokālika, chớ có nói như vậy. Này Kokālika, chớ có nói như vậy. Này Kokālika, hãy đặt tin tưởng vào Sāriputta và Moggallāna. Sāriputta và Moggallāna thật là hòa ái.
Vi-n 7 Lần thứ ba, Tỷ-kheo Kokālika bạch Thế Tôn:
—… Họ bị ác dục chi phối.
Vi-n 8 Lần thứ ba, Thế Tôn bảo Tỷ-kheo Kokālika:
—… Sāriputta và Moggallāna thật là hòa ái.
Vi-n 9 Rồi Tỷ-kheo Kokālika từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên phải hướng về Ngài, rồi ra đi.
Vi-n 10 Tỷ-kheo Kokālika ra đi không được bao lâu, toàn thân mọc lên những mụt nhọt lớn bằng hột cải. Từ hột cải, chúng lớn lên bằng hột đậu xanh (mugga). Từ hột đậu xanh, chúng lớn lên bằng hột đậu lớn (kalàya). Từ hột đậu lớn, chúng lớn lên bằng rolatthi (hột cây jujube, cây táo). Từ hột rolatthi, chúng lớn lên bằng hột kolama. Từ hột kolama, chúng lớn lên bằng hột āmala (a-ma-la quả). Từ quả āmala, chúng lớn lên bằng quả beluva chưa chín. Từ quả beluva chưa chín, chúng lớn lên bằng quả billa. Từ hình lớn bằng quả billa, chúng nứt vỡ ra, chảy máu và mủ.
Vi-n 11 Rồi Tỷ-kheo Kokālika do bệnh này bị mệnh chung. Bị mệnh chung, Tỷ-kheo Kokālika sanh trong địa ngục Sen hồng, với tâm hận thù đối với Tôn giả Sāriputta và Moggallāna.
Vi-n 12 Rồi Phạm thiên Sahampati, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên.
Vi-n 13 Ðứng một bên, Phạm thiên Sahampati bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokālika đã mệnh chung. Bạch Thế Tôn, sau khi mệnh chung Tỷ-kheo Kokālika phải sanh vào địa ngục Sen hồng với tâm hận thù đối với Tôn giả Sāriputta và Moggallāna.
Vi-n 14 Phạm thiên Sahampati nói như vậy. Sau khi nói xong, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ ấy.
Vi-n 15 Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã qua, liền bảo các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, hồi hôm, Phạm thiên Sahampati, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, này các Tỷ kheo, Phạm thiên Sahampati bạch với Ta: ” Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo Kokālika đã mệnh chung. Và bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokālika sau khi mệnh chung đã sanh vào địa ngục Sen hồng với tâm thù hận đối với Tôn giả Sāriputta và Moggattàna”. Này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Sahampati nói như vậy. Sau khi nói xong, đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về Ta, rồi biến mất tại chỗ.
Vi-n 16 Ðược nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, bao nhiêu lâu là tuổi thọ trong địa ngục Sen hồng?
Vi-n 17 —Thật dài, này Tỷ-kheo, là tuổi thọ trong địa ngục Sen hồng. Không dễ gì tính được là bao nhiêu năm, bao nhiêu trăm năm, bao nhiêu ngàn năm, bao nhiêu trăm ngàn năm.
Vi-n 18 —Bạch Thế Tôn, có thể tính được chăng bằng một ví dụ?
Vi-n 19 Thế Tôn đáp:
—Có thể được, này Tỷ-kheo. Này Tỷ-kheo, ví như có một bao hột đậu mè, nặng hai mươi khārika, theo đo lường ở nước Kosala. Ví dụ sau một trăm năm, một người lấy ra một lần một hột mè. Này Tỷ-kheo, còn mau hơn là bao hột mè, nặng hai mươi khārika ấy, theo đo lường của nước Kosala, đi đến tiêu hao, đi đến hao mòn do phương tiện ấy, so sánh (với tuổi thọ) ở địa ngục Abhuda. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Abhuda bằng một tuổi thọ ở địa ngục Nirabbuda. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Nirabbuda bằng một tuổi thọ ở địa ngục Ababa. Này-Tỷ kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Ababa bằng một tuổi thọ ở địa ngục Aṭaṭa. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Aṭaṭa bằng một tuổi thọ ở địa ngục Ahaha. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Ahaha bằng một tuổi thọ ở địa ngục Kumuda. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Kumuda bằng một tuổi thọ ở địa ngục Sogandhika. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Sogandhika bằng một tuổi thọ ở địa ngục Uppala (Hoa sen xanh). Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Uppala bằng một tuổi thọ ở địa ngục Puṇḍarīka (Sen trắng). Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Sen trắng bằng một tuổi thọ ở địa ngục Sen hồng. Này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo Kokālika sanh tại địa ngục Sen hồng với tâm hận thù đối với tôn giả Sāriputta và Moggallāna.
Vi-n 20 Thế Tôn nói như vậy. Sau khi nói như vậy, bậc Thiện Thệ lại nói thêm:
Phàm con người đã sanh,
Sanh với búa trong miệng,
Kẻ ngu khi nói bậy,
Tự chặt đứt lấy thân.
Ai khen kẻ làm bậy,
Ai chê người làm hay,
Tự nhen nhúm bất hạnh,
Do nơi miệng của mình,
Chính do bất hạnh ấy,
Nên không được an lạc.
Nhỏ thay bất hạnh này,
Trong canh bạc rủi may,
Bị tan hoang tài sản,
Trong giờ phút đỏ đen.
Lớn hơn sự bất hạnh,
Hơn mọi bất hạnh khác,
Do tự mình gây nên,
Cho tự ngã của mình.
Ai đối xử ác ý,
Với chư Phật, Thiện Thệ,
Phải trải qua thời gian,
Trăm ngàn nhiều hơn nữa,
Ba mươi sáu và năm,
Trải thời gian thật dài.
Ai với lời và ý,
Phỉ báng bậc Hiền Thánh,
Dùng ác tâm chống đối,
Sẽ sa đọa địa ngục.
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho kokāliko bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho kokāliko bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“pāpicchā, bhante, sāriputtamoggallānā pāpikānaṁ icchānaṁ vasaṁ gatā”ti.
Evaṁ vutte, bhagavā kokālikaṁ bhikkhuṁ etadavoca:
“mā hevaṁ, kokālika, avaca; mā hevaṁ, kokālika, avaca.
Pasādehi, kokālika, sāriputtamoggallānesu cittaṁ. Pesalā sāriputtamoggallānā”ti.
Dutiyampi kho kokāliko bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“kiñcāpi me, bhante, bhagavā saddhāyiko paccayiko; atha kho pāpicchāva bhante, sāriputtamoggallānā pāpikānaṁ icchānaṁ vasaṁ gatā”ti.
Dutiyampi kho bhagavā kokālikaṁ bhikkhuṁ etadavoca:
“mā hevaṁ, kokālika, avaca; mā hevaṁ, kokālika, avaca.
Pasādehi, kokālika, sāriputtamoggallānesu cittaṁ. Pesalā sāriputtamoggallānā”ti.
Tatiyampi kho kokāliko bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“kiñcāpi …pe… icchānaṁ vasaṁ gatā”ti.
Tatiyampi kho bhagavā kokālikaṁ bhikkhuṁ etadavoca:
“mā hevaṁ …pe…
pesalā sāriputtamoggallānā”ti.
Atha kho kokāliko bhikkhu uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Acirapakkantassa ca kokālikassa bhikkhuno sāsapamattīhi pīḷakāhi sabbo kāyo phuṭo ahosi.
Sāsapamattiyo hutvā muggamattiyo ahesuṁ, muggamattiyo hutvā kalāyamattiyo ahesuṁ, kalāyamattiyo hutvā kolaṭṭhimattiyo ahesuṁ, kolaṭṭhimattiyo hutvā kolamattiyo ahesuṁ, kolamattiyo hutvā āmalakamattiyo ahesuṁ, āmalakamattiyo hutvā beluvasalāṭukamattiyo ahesuṁ, beluvasalāṭukamattiyo hutvā billamattiyo ahesuṁ, billamattiyo hutvā pabhijjiṁsu. Pubbañca lohitañca pagghariṁsu.
Atha kho kokāliko bhikkhu teneva ābādhena kālamakāsi.
Kālaṅkato ca kokāliko bhikkhu padumaṁ nirayaṁ upapajji sāriputtamoggallānesu cittaṁ āghātetvā.
Atha kho brahmā sahampati abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho brahmā sahampati bhagavantaṁ etadavoca:
“kokāliko, bhante, bhikkhu kālaṅkato.
Kālaṅkato ca, bhante, kokāliko bhikkhu padumaṁ nirayaṁ upapanno sāriputtamoggallānesu cittaṁ āghātetvā”ti.
Idamavoca brahmā sahampati.
Idaṁ vatvā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyīti.
Atha kho bhagavā tassā rattiyā accayena bhikkhū āmantesi:
“imaṁ, bhikkhave, rattiṁ brahmā sahampati abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho, bhikkhave, brahmā sahampati maṁ etadavoca:
‘kokāliko, bhante, bhikkhu kālaṅkato.
Kālaṅkato ca, bhante, kokāliko bhikkhu padumaṁ nirayaṁ upapanno sāriputtamoggallānesu cittaṁ āghātetvā’ti.
Idamavoca, bhikkhave, brahmā sahampati, idaṁ vatvā maṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyī”ti.
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“kīvadīghaṁ nu kho, bhante, padume niraye āyuppamāṇan”ti?
“Dīghaṁ kho, bhikkhu, padume niraye āyuppamāṇaṁ.
Taṁ na sukaraṁ saṅkhātuṁ:
‘ettakāni vassāni iti vā, ettakāni vassasatāni iti vā, ettakāni vassasahassāni iti vā, ettakāni vassasatasahassāni iti vā’”ti.
“Sakkā pana, bhante, upamaṁ kātun”ti?
“Sakkā, bhikkhū”ti bhagavā avoca:
“Seyyathāpi, bhikkhu vīsatikhāriko kosalako tilavāho. Tato puriso vassasatassa vassasatassa accayena ekamekaṁ tilaṁ uddhareyya;
khippataraṁ kho so, bhikkhu, vīsatikhāriko kosalako tilavāho iminā upakkamena parikkhayaṁ pariyādānaṁ gaccheyya, na tveva eko abbudo nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati abbudā nirayā, evameko nirabbudanirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati nirabbudā nirayā, evameko ababo nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati ababā nirayā, evameko aṭaṭo nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati aṭaṭā nirayā, evameko ahaho nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati ahahā nirayā, evameko kumudo nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati kumudā nirayā, evameko sogandhiko nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati sogandhikā nirayā, evameko uppalanirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati uppalā nirayā, evameko puṇḍariko nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati puṇḍarikā nirayā, evameko padumo nirayo.
Padume pana, bhikkhu, niraye kokāliko bhikkhu upapanno sāriputtamoggallānesu cittaṁ āghātetvā”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Purisassa hi jātassa,
kuṭhārī jāyate mukhe;
Yāya chindati attānaṁ,
bālo dubbhāsitaṁ bhaṇaṁ.
Yo nindiyaṁ pasaṁsati,
Taṁ vā nindati yo pasaṁsiyo;
Vicināti mukhena so kaliṁ,
Kalinā tena sukhaṁ na vindati.
Appamattako ayaṁ kali,
Yo akkhesu dhanaparājayo;
Sabbassāpi sahāpi attanā,
Ayameva mahantaro kali;
Yo sugatesu manaṁ padosaye.
Sataṁ sahassānaṁ nirabbudānaṁ,
Chattiṁsati pañca ca abbudāni;
Yamariyagarahī nirayaṁ upeti,
Vācaṁ manañca paṇidhāya pāpakan”ti.
Paṭhamo vaggo.
Tassuddānaṁ
Āyācanaṁ gāravo brahmadevo,
Bako ca brahmā aparā ca diṭṭhi;
Pamādakokālikatissako ca,
Turū ca brahmā aparo ca kokālikoti.