Vi-n 1 Như vầy tôi nghe. Một thời Tôn giả Kassapa trú ở Sāvatthī (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
I
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Ānanda, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi đến Tôn giả Mahākassapa.
Vi-n 3 Tôn giả Ānanda thưa với Tôn giả Mahākassapa:
—Thưa Tôn giả, chúng ta hãy đi đến trú xứ của các Tỷ-kheo-ni.
—Hãy đi, này Hiền giả Ānanda. Hiền giả là người có nhiều công việc, có nhiều trách nhiệm phải làm.
Vi-n 4 Lần thứ hai, Tôn giả Ānanda thưa với Tôn giả Mahākassapa:
—Hãy đi, thưa Tôn giả, chúng ta đi đến trú xứ của các Tỷ-kheo-ni.
—Hãy đi, này Hiền giả Ānanda. Hiền giả là người có nhiều công việc, có nhiều trách nhiệm phải làm.
Vi-n 5 Lần thứ ba, Tôn giả Ānanda thưa với Tôn giả Mahākassapa:
—Hãy đi, thưa Tôn giả, chúng ta hãy đi đến trú xứ của các Tỷ-kheo-ni.
Vi-n 6 Rồi Tôn giả Mahākassapa, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát cùng với Tôn giả Ānanda, là Sa-môn tùy tùng, đi đến một trú xứ của Tỷ-kheo-ni, sau khi đi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
II
Vi-n 7 Rồi nhiều Tỷ-kheo-ni đi đến Tôn giả Mahākassapa; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahākassapa, rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 8 Tôn giả Mahākassapa với pháp thoại giảng cho các vị Tỷ-kheo-ni đang ngồi một bên ấy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ.
Vi-n 9 Rồi Tôn giả Mahākassapa, sau khi với pháp thoại giảng cho các Tỷ-kheo-ni ấy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi.
Vi-n 10 Rồi Tỷ-kheo-ni Thullatissā không hoan hỷ, nói lên những lời không hoan hỷ: “Làm sao Tôn giả Mahākassapa trước mặt Vedehamuni Ānanda, lại nghĩ đến thuyết pháp; ví như một người bán kim lại nghĩ, có thể bán kim cho người làm kim? Cũng vậy, Tôn giả Mahākassapa, trước mặt Vedehamuni Ānanda lại nghĩ đến thuyết pháp”.
Vi-n 11 Tôn giả Mahākassapa nghe được lời nói này của Tỷ-kheo-ni Thullatissā.
III
Vi-n 12 Rồi Tôn giả Mahākassapa nói với Tôn giả Ānanda:
—Thế nào, Hiền giả Ānanda, ta là người bán kim, Hiền giả là người làm kim, hay ta là người làm kim, Hiền giả là người bán kim?
—Hãy kham nhẫn, thưa Tôn giả Kassapa, ngu si là đàn bà!
Vi-n 13 —Hãy đến, Hiền giả Ānanda, chớ để cho chúng Tăng truy cứu thêm về Hiền giả. Hiền giả Ānanda, Hiền giả nghĩ thế nào?
Vi-n 14 Có phải trước mặt Thế Tôn, và giữa chúng Tăng, Hiền giả được Thế Tôn đề cập như sau: “Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ānanda cũng ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ”?
—Thưa Tôn giả, không phải vậy.
Vi-n 15 —Này Hiền giả, có phải trước mặt Thế Tôn và giữa chúng Tỷ-kheo Tăng, ta được Thế Tôn đề cập như sau: “Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ”?
Vi-n 16-29 (Chín thứ đệ định và năm trí giống như trên.)
Vi-n 30 Hiền giả nghĩ thế nào? Này Hiền giả, có phải, này Ānanda, trước mặt Thế Tôn và giữa chúng Tỷ-kheo Tăng, Hiền giả được Thế Tôn đề cập như sau: “Và Ta, này các Tỷ-kheo, với sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, Ta chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, Ānanda cũng vậy, với sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”?
—Thưa Tôn giả, không phải vậy.
Vi-n 31 —Chính ta, này Hiền giả, trước mặt Thế Tôn và giữa chúng Tỷ-kheo, được Thế Tôn đề cập như sau: “Này các Tỷ-kheo, với sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí, Ta chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng vậy, với sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”.
Vi-n 32 Này Hiền giả, ai nghĩ rằng có thể che đậy sáu thắng trí của ta được, thời không khác gì họ nghĩ rằng có thể lấy một lá cây ta-la mà che đậy một con voi lớn đến bảy hay tám khuỷu tay rưởi bề cao.
IV
Vi-n 33 Nhưng Tỷ-kheo-ni Thullatissā đã từ bỏ đời sống Phạm hạnh.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ āyasmā mahākassapo sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho āyasmā ānando pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yenāyasmā mahākassapo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahākassapaṁ etadavoca:
“āyāma, bhante kassapa, yena aññataro bhikkhunupassayo tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Gaccha tvaṁ, āvuso ānanda, bahukicco tvaṁ bahukaraṇīyo”ti.
Dutiyampi kho āyasmā ānando āyasmantaṁ mahākassapaṁ etadavoca:
“āyāma, bhante kassapa, yena aññataro bhikkhunupassayo tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Gaccha tvaṁ, āvuso ānanda, bahukicco tvaṁ bahukaraṇīyo”ti.
Tatiyampi kho āyasmā ānando āyasmantaṁ mahākassapaṁ etadavoca:
“āyāma, bhante kassapa, yena aññataro bhikkhunupassayo tenupasaṅkamissāmā”ti.
Atha kho āyasmā mahākassapo pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya āyasmatā ānandena pacchāsamaṇena yena aññataro bhikkhunupassayo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Atha kho sambahulā bhikkhuniyo yenāyasmā mahākassapo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahākassapaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Ekamantaṁ nisinnā kho tā bhikkhuniyo āyasmā mahākassapo dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Atha kho āyasmā mahākassapo tā bhikkhuniyo dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Atha kho thullatissā bhikkhunī anattamanā anattamanavācaṁ nicchāresi:
“kiṁ pana ayyo mahākassapo, ayyassa ānandassa vedehamunino sammukhā dhammaṁ bhāsitabbaṁ maññati?
Seyyathāpi nāma sūcivāṇijako sūcikārassa santike sūciṁ vikketabbaṁ maññeyya;
evameva ayyo mahākassapo ayyassa ānandassa vedehamunino sammukhā dhammaṁ bhāsitabbaṁ maññatī”ti.
Assosi kho āyasmā mahākassapo thullatissāya bhikkhuniyā imaṁ vācaṁ bhāsamānāya.
Atha kho āyasmā mahākassapo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, āvuso ānanda, ahaṁ sūcivāṇijako, tvaṁ sūcikāro;
udāhu ahaṁ sūcikāro, tvaṁ sūcivāṇijako”ti?
“Khama, bhante kassapa, bālo mātugāmo”ti.
“Āgamehi tvaṁ, āvuso ānanda, mā te saṅgho uttari upaparikkhi.
Taṁ kiṁ maññasi, āvuso ānanda,
api nu tvaṁ bhagavato sammukhā bhikkhusaṅghe upanīto:
‘ahaṁ, bhikkhave, yāvade ākaṅkhāmi vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharāmi.
Ānandopi, bhikkhave, yāvade ākaṅkhati vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharatī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Ahaṁ kho, āvuso, bhagavato sammukhā bhikkhusaṅghe upanīto:
‘ahaṁ, bhikkhave, yāvade ākaṅkhāmi vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharāmi.
Kassapopi, bhikkhave, yāvade ākaṅkhati vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharatī’ti …pe….
(Navannaṁ anupubbavihārasamāpattīnaṁ pañcannañca abhiññānaṁ evaṁ vitthāro veditabbo.)
Taṁ kiṁ maññasi, āvuso ānanda,
api nu tvaṁ bhagavato sammukhā bhikkhusaṅghe upanīto:
‘ahaṁ, bhikkhave, āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmi.
Ānandopi, bhikkhave, āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Ahaṁ kho, āvuso, bhagavato sammukhā bhikkhusaṅghe upanīto:
‘ahaṁ, bhikkhave, āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmi.
Kassapopi, bhikkhave, āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī’ti.
Sattaratanaṁ vā, āvuso, nāgaṁ aḍḍhaṭṭhamaratanaṁ vā tālapattikāya chādetabbaṁ maññeyya, yo me cha abhiññā chādetabbaṁ maññeyyā”ti.
Cavittha ca pana thullatissā bhikkhunī brahmacariyamhāti.
Dasamaṁ.
SC 1Thus have I heard. On one occasion the Venerable Mahakassapa was dwelling at Savatthī in Jeta’s Grove, Anathapiṇḍika’s Park. Then, in the morning, the Venerable Ānanda dressed and, sn.ii.215 taking bowl and robe, he approached the Venerable Mahakassapa and said: “Come, Venerable Kassapa, let us go to the bhikkhunīs’ quarters.”
SC 2“You go, friend Ānanda, you’re the busy one with many duties.”
SC 3A second time the Venerable Ānanda said to the Venerable Mahakassapa: “Come, Venerable Kassapa, let us go to the bhikkhunīs’ quarters.”
SC 4“You go, friend Ānanda, you’re the busy one with many duties.”
SC 5A third time the Venerable Ānanda said to the Venerable Mahakassapa: “Come, Venerable Kassapa, let us go to the bhikkhunīs’ quarters.”
SC 6Then, in the morning, the Venerable Mahakassapa dressed and, taking bowl and robe, went to the bhikkhunīs’ quarters with the Venerable Ānanda as his companion. When he arrived he sat down on the appointed seat. Then a number of bhikkhunīs approached the Venerable Mahakassapa, paid homage to him, and sat down to one side. As they were sitting there, the Venerable Mahakassapa instructed, exhorted, inspired, and gladdened those bhikkhunīs with a Dhamma talk, after which he rose from his seat and departed.
SC 7Then the bhikkhunī Thullatissa, being displeased, expressed her displeasure thus: “How can Master Mahakassapa think of speaking on the Dhamma in the presence of Master Ānanda, the Videhan sage? For Master Mahakassapa to think of speaking on the Dhamma in the presence of Master Ānanda, the Videhan sage—this is just as if a needle-peddler sn.ii.216 would think he could sell a needle to a needle-maker!”
SC 8The Venerable Mahakassapa overheard the bhikkhunī Thullatissa making this statement and said to the Venerable Ānanda: “How is it, friend Ānanda, am I the needle-peddler and you the needle-maker, or am I the needle-maker and you the needle-peddler?”
SC 9“Be patient, Venerable Kassapa, women are foolish.”
SC 10“Hold it, friend Ānanda! Don’t give the Saṅgha occasion to investigate you further. What do you think, friend Ānanda, was it you that the Blessed One brought forward in the presence of the Bhikkhu Saṅgha, saying: ‘Bhikkhus, to whatever extent I wish, secluded from sensual pleasures, secluded from unwholesome states, I enter and dwell in the first jhana, which is accompanied by thought and examination, with rapture and happiness born of seclusion. Ānanda too, to whatever extent he wishes, secluded from sensual pleasures, secluded from unwholesome states, enters and dwells in the first jhana’?”
“No, venerable sir.”
SC 11“I was the one, friend, that the Blessed One brought forward in the presence of the Bhikkhu Saṅgha, saying: ‘Bhikkhus, to whatever extent I wish, … I enter and dwell in the first jhana…. Kassapa too, to whatever extent he wishes, enters and dwells in the first jhana.’
SC 12The same exchange is repeated for the remaining meditative attainments and the six direct knowledges, all as in the preceding sutta. sn.ii.217
SC 13“I was the one, friend, that the Blessed One brought forward in the presence of the Bhikkhu Saṅgha, saying: ‘Bhikkhus, by the destruction of the taints, in this very life I enter and dwell in the taintless liberation of mind, liberation by wisdom, realizing it for myself with direct knowledge. Kassapa too, by the destruction of the taints, in this very life enters and dwells in the taintless liberation of mind, liberation by wisdom, realizing it for himself with direct knowledge.’
SC 14“Friend, one might just as well think that a bull elephant seven or seven and a half cubits high could be concealed by a palm leaf as think that my six direct knowledges could be concealed.”
SC 15But the bhikkhunī Thullatissa fell away from the holy life.
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe. Một thời Tôn giả Kassapa trú ở Sāvatthī (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
I
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Ānanda, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi đến Tôn giả Mahākassapa.
Vi-n 3 Tôn giả Ānanda thưa với Tôn giả Mahākassapa:
—Thưa Tôn giả, chúng ta hãy đi đến trú xứ của các Tỷ-kheo-ni.
—Hãy đi, này Hiền giả Ānanda. Hiền giả là người có nhiều công việc, có nhiều trách nhiệm phải làm.
Vi-n 4 Lần thứ hai, Tôn giả Ānanda thưa với Tôn giả Mahākassapa:
—Hãy đi, thưa Tôn giả, chúng ta đi đến trú xứ của các Tỷ-kheo-ni.
—Hãy đi, này Hiền giả Ānanda. Hiền giả là người có nhiều công việc, có nhiều trách nhiệm phải làm.
Vi-n 5 Lần thứ ba, Tôn giả Ānanda thưa với Tôn giả Mahākassapa:
—Hãy đi, thưa Tôn giả, chúng ta hãy đi đến trú xứ của các Tỷ-kheo-ni.
Vi-n 6 Rồi Tôn giả Mahākassapa, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát cùng với Tôn giả Ānanda, là Sa-môn tùy tùng, đi đến một trú xứ của Tỷ-kheo-ni, sau khi đi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
II
Vi-n 7 Rồi nhiều Tỷ-kheo-ni đi đến Tôn giả Mahākassapa; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahākassapa, rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 8 Tôn giả Mahākassapa với pháp thoại giảng cho các vị Tỷ-kheo-ni đang ngồi một bên ấy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ.
Vi-n 9 Rồi Tôn giả Mahākassapa, sau khi với pháp thoại giảng cho các Tỷ-kheo-ni ấy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi.
Vi-n 10 Rồi Tỷ-kheo-ni Thullatissā không hoan hỷ, nói lên những lời không hoan hỷ: “Làm sao Tôn giả Mahākassapa trước mặt Vedehamuni Ānanda, lại nghĩ đến thuyết pháp; ví như một người bán kim lại nghĩ, có thể bán kim cho người làm kim? Cũng vậy, Tôn giả Mahākassapa, trước mặt Vedehamuni Ānanda lại nghĩ đến thuyết pháp”.
Vi-n 11 Tôn giả Mahākassapa nghe được lời nói này của Tỷ-kheo-ni Thullatissā.
III
Vi-n 12 Rồi Tôn giả Mahākassapa nói với Tôn giả Ānanda:
—Thế nào, Hiền giả Ānanda, ta là người bán kim, Hiền giả là người làm kim, hay ta là người làm kim, Hiền giả là người bán kim?
—Hãy kham nhẫn, thưa Tôn giả Kassapa, ngu si là đàn bà!
Vi-n 13 —Hãy đến, Hiền giả Ānanda, chớ để cho chúng Tăng truy cứu thêm về Hiền giả. Hiền giả Ānanda, Hiền giả nghĩ thế nào?
Vi-n 14 Có phải trước mặt Thế Tôn, và giữa chúng Tăng, Hiền giả được Thế Tôn đề cập như sau: “Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ānanda cũng ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ”?
—Thưa Tôn giả, không phải vậy.
Vi-n 15 —Này Hiền giả, có phải trước mặt Thế Tôn và giữa chúng Tỷ-kheo Tăng, ta được Thế Tôn đề cập như sau: “Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ”?
Vi-n 16-29 (Chín thứ đệ định và năm trí giống như trên.)
Vi-n 30 Hiền giả nghĩ thế nào? Này Hiền giả, có phải, này Ānanda, trước mặt Thế Tôn và giữa chúng Tỷ-kheo Tăng, Hiền giả được Thế Tôn đề cập như sau: “Và Ta, này các Tỷ-kheo, với sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, Ta chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, Ānanda cũng vậy, với sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”?
—Thưa Tôn giả, không phải vậy.
Vi-n 31 —Chính ta, này Hiền giả, trước mặt Thế Tôn và giữa chúng Tỷ-kheo, được Thế Tôn đề cập như sau: “Này các Tỷ-kheo, với sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí, Ta chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, Kassapa cũng vậy, với sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”.
Vi-n 32 Này Hiền giả, ai nghĩ rằng có thể che đậy sáu thắng trí của ta được, thời không khác gì họ nghĩ rằng có thể lấy một lá cây ta-la mà che đậy một con voi lớn đến bảy hay tám khuỷu tay rưởi bề cao.
IV
Vi-n 33 Nhưng Tỷ-kheo-ni Thullatissā đã từ bỏ đời sống Phạm hạnh.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ āyasmā mahākassapo sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho āyasmā ānando pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yenāyasmā mahākassapo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahākassapaṁ etadavoca:
“āyāma, bhante kassapa, yena aññataro bhikkhunupassayo tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Gaccha tvaṁ, āvuso ānanda, bahukicco tvaṁ bahukaraṇīyo”ti.
Dutiyampi kho āyasmā ānando āyasmantaṁ mahākassapaṁ etadavoca:
“āyāma, bhante kassapa, yena aññataro bhikkhunupassayo tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Gaccha tvaṁ, āvuso ānanda, bahukicco tvaṁ bahukaraṇīyo”ti.
Tatiyampi kho āyasmā ānando āyasmantaṁ mahākassapaṁ etadavoca:
“āyāma, bhante kassapa, yena aññataro bhikkhunupassayo tenupasaṅkamissāmā”ti.
Atha kho āyasmā mahākassapo pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya āyasmatā ānandena pacchāsamaṇena yena aññataro bhikkhunupassayo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Atha kho sambahulā bhikkhuniyo yenāyasmā mahākassapo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahākassapaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Ekamantaṁ nisinnā kho tā bhikkhuniyo āyasmā mahākassapo dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Atha kho āyasmā mahākassapo tā bhikkhuniyo dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Atha kho thullatissā bhikkhunī anattamanā anattamanavācaṁ nicchāresi:
“kiṁ pana ayyo mahākassapo, ayyassa ānandassa vedehamunino sammukhā dhammaṁ bhāsitabbaṁ maññati?
Seyyathāpi nāma sūcivāṇijako sūcikārassa santike sūciṁ vikketabbaṁ maññeyya;
evameva ayyo mahākassapo ayyassa ānandassa vedehamunino sammukhā dhammaṁ bhāsitabbaṁ maññatī”ti.
Assosi kho āyasmā mahākassapo thullatissāya bhikkhuniyā imaṁ vācaṁ bhāsamānāya.
Atha kho āyasmā mahākassapo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, āvuso ānanda, ahaṁ sūcivāṇijako, tvaṁ sūcikāro;
udāhu ahaṁ sūcikāro, tvaṁ sūcivāṇijako”ti?
“Khama, bhante kassapa, bālo mātugāmo”ti.
“Āgamehi tvaṁ, āvuso ānanda, mā te saṅgho uttari upaparikkhi.
Taṁ kiṁ maññasi, āvuso ānanda,
api nu tvaṁ bhagavato sammukhā bhikkhusaṅghe upanīto:
‘ahaṁ, bhikkhave, yāvade ākaṅkhāmi vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharāmi.
Ānandopi, bhikkhave, yāvade ākaṅkhati vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharatī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Ahaṁ kho, āvuso, bhagavato sammukhā bhikkhusaṅghe upanīto:
‘ahaṁ, bhikkhave, yāvade ākaṅkhāmi vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharāmi.
Kassapopi, bhikkhave, yāvade ākaṅkhati vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharatī’ti …pe….
(Navannaṁ anupubbavihārasamāpattīnaṁ pañcannañca abhiññānaṁ evaṁ vitthāro veditabbo.)
Taṁ kiṁ maññasi, āvuso ānanda,
api nu tvaṁ bhagavato sammukhā bhikkhusaṅghe upanīto:
‘ahaṁ, bhikkhave, āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmi.
Ānandopi, bhikkhave, āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Ahaṁ kho, āvuso, bhagavato sammukhā bhikkhusaṅghe upanīto:
‘ahaṁ, bhikkhave, āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmi.
Kassapopi, bhikkhave, āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī’ti.
Sattaratanaṁ vā, āvuso, nāgaṁ aḍḍhaṭṭhamaratanaṁ vā tālapattikāya chādetabbaṁ maññeyya, yo me cha abhiññā chādetabbaṁ maññeyyā”ti.
Cavittha ca pana thullatissā bhikkhunī brahmacariyamhāti.
Dasamaṁ.