Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Ayujjàya, trên bờ sông Hằng.
Vi-n 2 Ở đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo …
Vi-n 3 —Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng này chảy mang theo đống bọt nước lớn. Có người có mắt nhìn đống bọt nước ấy, chuyên chú, như lý quán sát. Do nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, đống bọt nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong đống bọt nước được?
Vi-n 4 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; vị Tỷ-kheo thấy sắc, chuyên chú, như lý quán sát sắc. Do vị Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát sắc, sắc ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong sắc được?
Vi-n 5 Ví như, này các Tỷ-kheo, trong mùa thu, khi trời mưa những giọt mưa lớn, trên mặt nước, các bong bóng nước hiện ra rồi tan biến. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, bong bóng nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong bong bóng nước được?
Vi-n 6 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có thọ gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát thọ ấy. Do Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, thọ ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong thọ được?
Vi-n 7 Ví như, này các Tỷ-kheo, trong tháng cuối mùa hạ, vào đúng giữa trưa đứng bóng, một ráng mặt trời rung động hiện lên. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó. Do người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, nên ráng mặt trời ấy hiện rõ ra là trống không, rỗng không, không có lõi cứng … Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong ráng mặt trời được?
Vi-n 8 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có tưởng gì …
Vi-n 9 Ví như, này các Tỷ-kheo, một người cần có lõi cây, tìm cầu lõi cây, đi tìm lõi cây, cầm cái búa sắc bén đi vào ngôi rừng. Ở đây, người ấy thấy một cụm cây chuối lớn, mọc thẳng, mới lớn, cao vút. Người ấy chặt rễ cây ấy. Sau khi chặt rễ, người ấy chặt ngọn. Sau khi chặt ngọn, người ấy lột vỏ chuối ngoài. Khi lột vỏ chuối ngoài, giác cây còn tìm không được, tìm đâu cho có được lõi cây?
Vi-n 10 Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát cụm chuối ấy. Khi người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát cụm chuối ấy, cụm chuối ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cây. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cây trong cụm chuối được?
Vi-n 11 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm các hành gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát hành ấy. Khi người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, hành ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cây. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cây trong các hành được?
Vi-n 12 Ví như, này các Tỷ-kheo, một ảo thuật sư hay đệ tử một ảo thuật sư, tại ngã tư đường bày trò ảo thuật. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát trò ảo thuật ấy. Do người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, ảo thuật ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong ảo thuật được?
Vi-n 13 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại … hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát, thức ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cây. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cây trong thức được?
Vi-n 14 Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc … đối với thọ … đối với tưởng … đối với các hành … nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã giải thoát … không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.
Vi-n 15 Thế Tôn thuyết như vậy. Bậc Thiện Thệ sau khi nói như vậy, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Vi-n 16 Sắc ví với đống bọt,
Thọ ví bong bóng nước,
Tưởng ví ráng mặt trời,
Hành ví với cây chuối,
Thức ví với ảo thuật,
Ðấng bà con mặt trời,
Ðã thuyết giảng như vậy.
Vi-n 17 Nếu như vậy chuyên chú,
Như lý chơn quán sát,
Như lý nhìn các pháp,
Hiện rõ tánh trống không.
Vi-n 18 Bắt đầu với thân này,
Bậc Ðại Tuệ thuyết giảng,
Ðoạn tận cả ba pháp,
Thấy sắc bị quăng bỏ.
Vi-n 19 Thân bị quăng, vô tri,
Không thọ, sức nóng, thức,
Bị quăng đi, nó nằm,
Làm đồ ăn kẻ khác.
Vi-n 20 Cái thân liên tục này,
Ảo sư, kẻ ngu nói,
Ðược gọi kẻ sát nhân,
Không tìm thấy lõi cây.
Vi-n 21 Hãy quán uẩn như vậy,
Vị Tỷ-kheo tinh cần,
Suốt cả đêm lẫn ngày,
Tỉnh giác, chánh tư niệm.
Vi-n 22 Hãy bỏ mọi kiết sử,
Làm chỗ mình nương tựa,
Sống như lửa cháy đầu,
Cầu chứng cảnh bất động.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā ayujjhāyaṁ viharati gaṅgāya nadiyā tīre.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“Seyyathāpi, bhikkhave, ayaṁ gaṅgā nadī mahantaṁ pheṇapiṇḍaṁ āvaheyya. Tamenaṁ cakkhumā puriso passeyya nijjhāyeyya yoniso upaparikkheyya. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyeyya, tucchakaññeva khāyeyya, asārakaññeva khāyeyya. Kiñhi siyā, bhikkhave, pheṇapiṇḍe sāro?
Evameva kho, bhikkhave, yaṁ kiñci rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ …pe… yaṁ dūre santike vā taṁ bhikkhu passati nijjhāyati yoniso upaparikkhati. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyati, tucchakaññeva khāyati, asārakaññeva khāyati. Kiñhi siyā, bhikkhave, rūpe sāro?
Seyyathāpi, bhikkhave, saradasamaye thullaphusitake deve vassante udake udakapubbuḷaṁ uppajjati ceva nirujjhati ca. Tamenaṁ cakkhumā puriso passeyya nijjhāyeyya yoniso upaparikkheyya. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyeyya, tucchakaññeva khāyeyya, asārakaññeva khāyeyya. Kiñhi siyā, bhikkhave, udakapubbuḷe sāro?
Evameva kho, bhikkhave, yā kāci vedanā atītānāgatapaccuppannā …pe… yā dūre santike vā taṁ bhikkhu passati nijjhāyati yoniso upaparikkhati. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyati, tucchakaññeva khāyati, asārakaññeva khāyati. Kiñhi siyā, bhikkhave, vedanāya sāro?
Seyyathāpi, bhikkhave, gimhānaṁ pacchime māse ṭhite majjhanhike kāle marīcikā phandati. Tamenaṁ cakkhumā puriso passeyya nijjhāyeyya yoniso upaparikkheyya. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyeyya, tucchakaññeva khāyeyya …pe… kiñhi siyā, bhikkhave, marīcikāya sāro?
Evameva kho, bhikkhave, yā kāci saññā …pe….
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṁ caramāno tiṇhaṁ kuṭhāriṁ ādāya vanaṁ paviseyya. So tattha passeyya mahantaṁ kadalikkhandhaṁ ujuṁ navaṁ akukkukajātaṁ. Tamenaṁ mūle chindeyya; mūle chetvā agge chindeyya, agge chetvā pattavaṭṭiṁ vinibbhujeyya. So tassa pattavaṭṭiṁ vinibbhujanto pheggumpi nādhigaccheyya, kuto sāraṁ. Tamenaṁ cakkhumā puriso passeyya nijjhāyeyya yoniso upaparikkheyya. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyeyya, tucchakaññeva khāyeyya, asārakaññeva khāyeyya. Kiñhi siyā, bhikkhave, kadalikkhandhe sāro?
Evameva kho, bhikkhave, ye keci saṅkhārā atītānāgatapaccuppannā …pe… ye dūre santike vā taṁ bhikkhu passati nijjhāyati yoniso upaparikkhati. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyati, tucchakaññeva khāyati, asārakaññeva khāyati. Kiñhi siyā, bhikkhave, saṅkhāresu sāro?
Seyyathāpi, bhikkhave, māyākāro vā māyākārantevāsī vā catumahāpathe māyaṁ vidaṁseyya. Tamenaṁ cakkhumā puriso passeyya nijjhāyeyya yoniso upaparikkheyya. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyeyya, tucchakaññeva khāyeyya, asārakaññeva khāyeyya. Kiñhi siyā, bhikkhave, māyāya sāro?
Evameva kho, bhikkhave, yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ …pe… yaṁ dūre santike vā, taṁ bhikkhu passati nijjhāyati yoniso upaparikkhati. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyati, tucchakaññeva khāyati, asārakaññeva khāyati. Kiñhi siyā, bhikkhave, viññāṇe sāro?
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi nibbindati, vedanāyapi … saññāyapi … saṅkhāresupi … viññāṇasmimpi nibbindati.
Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti …pe…
nāparaṁ itthattāyāti pajānāti”.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Pheṇapiṇḍūpamaṁ rūpaṁ,
vedanā bubbuḷūpamā;
Marīcikūpamā saññā,
saṅkhārā kadalūpamā;
Māyūpamañca viññāṇaṁ,
desitādiccabandhunā.
Yathā yathā nijjhāyati,
yoniso upaparikkhati;
Rittakaṁ tucchakaṁ hoti,
yo naṁ passati yoniso.
Imañca kāyaṁ ārabbha,
bhūripaññena desitaṁ;
Pahānaṁ tiṇṇaṁ dhammānaṁ,
rūpaṁ passatha chaḍḍitaṁ.
Āyu usmā ca viññāṇaṁ,
yadā kāyaṁ jahantimaṁ;
Apaviddho tadā seti,
parabhattaṁ acetanaṁ.
Etādisāyaṁ santāno,
māyāyaṁ bālalāpinī;
Vadhako esa akkhāto,
sāro ettha na vijjati.
Evaṁ khandhe avekkheyya,
bhikkhu āraddhavīriyo;
Divā vā yadi vā rattiṁ,
sampajāno paṭissato.
Jaheyya sabbasaṁyogaṁ,
kareyya saraṇattano;
Careyyādittasīsova,
patthayaṁ accutaṁ padan”ti.
Tatiyaṁ.
SC 1On one occasion the Blessed One was living at Ayujjhā, on the bank of the Ganges river. There he addressed the monks:
SC 2“Monks, a large lump of foam could be carried along by the Ganges river. A person with eyesight could see it, consider it, and examine it. By seeing it, considering it, and examining it, that person could determine that it was insubstantial, hollow, and essenceless1. Monks, what essence can there be in a lump of foam? Monks, in exactly the same way, a monk sees, considers, and examines any physical form – whether past, present, or future, internal or external, coarse or subtle, inferior or superior, far or near. By seeing it, considering it, and examining it, one determines that it is insubstantial, hollow, and essenceless. Monks, what essence can there be in physical forms?
SC 3“Monks, when it is raining in autumn and large raindrops are falling on the water, a water-bubble might arise and vanish. A person with eyesight could see it, consider it, and examine it. By seeing it, considering it, and examining it, that person could determine that it was insubstantial, hollow, and essenceless. Monks, what essence could there be in a water-bubble? Monks, in exactly the same way, a monk sees, considers, and examines any feeling – whether past, present, or future, internal or external, coarse or subtle, inferior or superior, far or near. By seeing it, considering it, and examining it, one determines that it is insubstantial, hollow, and essenceless. Monks, what essence can there be in feelings?
SC 4“Monks, in the last month of summer, a wavering mirage might appear at midday. A person with eyesight could see it, consider it, and examine it. By seeing it, considering it, and examining it, that person could determine that it was insubstantial, hollow, and essenceless. Monks, what essence could there be in a mirage? Monks, in exactly the same way, a monk sees, considers, and examines any perception – whether past, present, or future, internal or external, coarse or subtle, inferior or superior, far or near. By seeing it, considering it, and examining it, one determines that it is insubstantial, hollow, and essenceless. Monks, what essence can there be in perceptions?
SC 5“Monks, a person who needs heartwood2, who is seeking heartwood, who is searching for heartwood might take a sharp axe and enter a forest. There he might see a large plantain tree – straight, fresh, and tall. He could cut it down at the base, cut off the crown, and peel off the leaves. While peeling off the leaves he would not even find sapwood, let alone heartwood. A person with eyesight could see it, consider it, and examine it. By seeing it, considering it, and examining it, that person could determine that it was insubstantial, hollow, and essenceless. Monks, what essence could there be in a plantain tree? Monks, in exactly the same way, a monk sees, considers, and examines any mental formation – whether past, present, or future, internal or external, coarse or subtle, inferior or superior, far or near. By seeing it, considering it, and examining it, one determines that it is insubstantial, hollow, and essenceless. Monks, what essence can there be in mental formations?
SC 6“Monks, an illusionist or an apprentice illusionist could display an illusion at a crossroads. A person with eyesight could see it, consider it, and examine it. By seeing it, considering it, and examining it, that person could determine that it was insubstantial, hollow, and essenceless. Monks, what essence could there be in an illusion? Monks, in exactly the same way, a monk sees, considers, and examines any form of consciousness – whether past, present, or future, internal or external, coarse or subtle, inferior or superior, far or near. By seeing it, considering it, and examining it, one determines that it is insubstantial, hollow, and essenceless. Monks, what essence can there be in consciousness?
SC 7“Monks, when a learned disciple of the noble ones sees in this way, he becomes disenchanted with physical form, disenchanted with feeling, disenchanted with perception, disenchanted with mental formations, disenchanted with consciousness. Being disenchanted, he becomes dispassionate; dispassion liberates. When there is liberation, one knows, ‘Liberated.’ One understands, ‘Birth has been eliminated, the spiritual life has been completed, what was to be done has been done, there will be no further existence here.’”
SC 8This is what the Blessed One said. When this was said, the Sublime One, the Teacher, further said this:
SC 9“Form is like a lump of foam, feelings are like water-bubbles,
Perception is like a mirage, mental formations are like plantain-trees,
Consciousness is like an illusion – this is what was said by the Kinsman of the Sun.
SC 10“One who considers in this way and wisely examines,
Sees that it is insubstantial and hollow.
SC 11“Referring to this body, it was taught by the One of Abundant Wisdom,
That when three things are lost, one sees the body abandoned:
SC 12“Vitality, heat, and consciousness: When the body has lost these things,
Then it lies discarded and insentient, food for other beings.
SC 13“This is the continuity – this illusion, which deceives the foolish,
It is called a murderer, and here no essence can be found.
SC 14“Regarding these components in this way, an energetic monk
Is clearly aware and mindful, whether it is day or night.
SC 15“One should abandon all the fetters, and make a refuge for oneself,
Live as though your head is on fire – intent upon the path to the Deathless.”
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Ayujjàya, trên bờ sông Hằng.
Vi-n 2 Ở đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo …
Vi-n 3 —Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng này chảy mang theo đống bọt nước lớn. Có người có mắt nhìn đống bọt nước ấy, chuyên chú, như lý quán sát. Do nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, đống bọt nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong đống bọt nước được?
Vi-n 4 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; vị Tỷ-kheo thấy sắc, chuyên chú, như lý quán sát sắc. Do vị Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát sắc, sắc ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong sắc được?
Vi-n 5 Ví như, này các Tỷ-kheo, trong mùa thu, khi trời mưa những giọt mưa lớn, trên mặt nước, các bong bóng nước hiện ra rồi tan biến. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, bong bóng nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong bong bóng nước được?
Vi-n 6 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có thọ gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát thọ ấy. Do Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, thọ ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong thọ được?
Vi-n 7 Ví như, này các Tỷ-kheo, trong tháng cuối mùa hạ, vào đúng giữa trưa đứng bóng, một ráng mặt trời rung động hiện lên. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó. Do người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, nên ráng mặt trời ấy hiện rõ ra là trống không, rỗng không, không có lõi cứng … Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong ráng mặt trời được?
Vi-n 8 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có tưởng gì …
Vi-n 9 Ví như, này các Tỷ-kheo, một người cần có lõi cây, tìm cầu lõi cây, đi tìm lõi cây, cầm cái búa sắc bén đi vào ngôi rừng. Ở đây, người ấy thấy một cụm cây chuối lớn, mọc thẳng, mới lớn, cao vút. Người ấy chặt rễ cây ấy. Sau khi chặt rễ, người ấy chặt ngọn. Sau khi chặt ngọn, người ấy lột vỏ chuối ngoài. Khi lột vỏ chuối ngoài, giác cây còn tìm không được, tìm đâu cho có được lõi cây?
Vi-n 10 Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát cụm chuối ấy. Khi người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát cụm chuối ấy, cụm chuối ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cây. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cây trong cụm chuối được?
Vi-n 11 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm các hành gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát hành ấy. Khi người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, hành ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cây. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cây trong các hành được?
Vi-n 12 Ví như, này các Tỷ-kheo, một ảo thuật sư hay đệ tử một ảo thuật sư, tại ngã tư đường bày trò ảo thuật. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát trò ảo thuật ấy. Do người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, ảo thuật ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong ảo thuật được?
Vi-n 13 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại … hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát, thức ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cây. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cây trong thức được?
Vi-n 14 Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc … đối với thọ … đối với tưởng … đối với các hành … nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã giải thoát … không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.
Vi-n 15 Thế Tôn thuyết như vậy. Bậc Thiện Thệ sau khi nói như vậy, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Vi-n 16 Sắc ví với đống bọt,
Thọ ví bong bóng nước,
Tưởng ví ráng mặt trời,
Hành ví với cây chuối,
Thức ví với ảo thuật,
Ðấng bà con mặt trời,
Ðã thuyết giảng như vậy.
Vi-n 17 Nếu như vậy chuyên chú,
Như lý chơn quán sát,
Như lý nhìn các pháp,
Hiện rõ tánh trống không.
Vi-n 18 Bắt đầu với thân này,
Bậc Ðại Tuệ thuyết giảng,
Ðoạn tận cả ba pháp,
Thấy sắc bị quăng bỏ.
Vi-n 19 Thân bị quăng, vô tri,
Không thọ, sức nóng, thức,
Bị quăng đi, nó nằm,
Làm đồ ăn kẻ khác.
Vi-n 20 Cái thân liên tục này,
Ảo sư, kẻ ngu nói,
Ðược gọi kẻ sát nhân,
Không tìm thấy lõi cây.
Vi-n 21 Hãy quán uẩn như vậy,
Vị Tỷ-kheo tinh cần,
Suốt cả đêm lẫn ngày,
Tỉnh giác, chánh tư niệm.
Vi-n 22 Hãy bỏ mọi kiết sử,
Làm chỗ mình nương tựa,
Sống như lửa cháy đầu,
Cầu chứng cảnh bất động.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā ayujjhāyaṁ viharati gaṅgāya nadiyā tīre.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“Seyyathāpi, bhikkhave, ayaṁ gaṅgā nadī mahantaṁ pheṇapiṇḍaṁ āvaheyya. Tamenaṁ cakkhumā puriso passeyya nijjhāyeyya yoniso upaparikkheyya. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyeyya, tucchakaññeva khāyeyya, asārakaññeva khāyeyya. Kiñhi siyā, bhikkhave, pheṇapiṇḍe sāro?
Evameva kho, bhikkhave, yaṁ kiñci rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ …pe… yaṁ dūre santike vā taṁ bhikkhu passati nijjhāyati yoniso upaparikkhati. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyati, tucchakaññeva khāyati, asārakaññeva khāyati. Kiñhi siyā, bhikkhave, rūpe sāro?
Seyyathāpi, bhikkhave, saradasamaye thullaphusitake deve vassante udake udakapubbuḷaṁ uppajjati ceva nirujjhati ca. Tamenaṁ cakkhumā puriso passeyya nijjhāyeyya yoniso upaparikkheyya. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyeyya, tucchakaññeva khāyeyya, asārakaññeva khāyeyya. Kiñhi siyā, bhikkhave, udakapubbuḷe sāro?
Evameva kho, bhikkhave, yā kāci vedanā atītānāgatapaccuppannā …pe… yā dūre santike vā taṁ bhikkhu passati nijjhāyati yoniso upaparikkhati. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyati, tucchakaññeva khāyati, asārakaññeva khāyati. Kiñhi siyā, bhikkhave, vedanāya sāro?
Seyyathāpi, bhikkhave, gimhānaṁ pacchime māse ṭhite majjhanhike kāle marīcikā phandati. Tamenaṁ cakkhumā puriso passeyya nijjhāyeyya yoniso upaparikkheyya. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyeyya, tucchakaññeva khāyeyya …pe… kiñhi siyā, bhikkhave, marīcikāya sāro?
Evameva kho, bhikkhave, yā kāci saññā …pe….
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṁ caramāno tiṇhaṁ kuṭhāriṁ ādāya vanaṁ paviseyya. So tattha passeyya mahantaṁ kadalikkhandhaṁ ujuṁ navaṁ akukkukajātaṁ. Tamenaṁ mūle chindeyya; mūle chetvā agge chindeyya, agge chetvā pattavaṭṭiṁ vinibbhujeyya. So tassa pattavaṭṭiṁ vinibbhujanto pheggumpi nādhigaccheyya, kuto sāraṁ. Tamenaṁ cakkhumā puriso passeyya nijjhāyeyya yoniso upaparikkheyya. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyeyya, tucchakaññeva khāyeyya, asārakaññeva khāyeyya. Kiñhi siyā, bhikkhave, kadalikkhandhe sāro?
Evameva kho, bhikkhave, ye keci saṅkhārā atītānāgatapaccuppannā …pe… ye dūre santike vā taṁ bhikkhu passati nijjhāyati yoniso upaparikkhati. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyati, tucchakaññeva khāyati, asārakaññeva khāyati. Kiñhi siyā, bhikkhave, saṅkhāresu sāro?
Seyyathāpi, bhikkhave, māyākāro vā māyākārantevāsī vā catumahāpathe māyaṁ vidaṁseyya. Tamenaṁ cakkhumā puriso passeyya nijjhāyeyya yoniso upaparikkheyya. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyeyya, tucchakaññeva khāyeyya, asārakaññeva khāyeyya. Kiñhi siyā, bhikkhave, māyāya sāro?
Evameva kho, bhikkhave, yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ …pe… yaṁ dūre santike vā, taṁ bhikkhu passati nijjhāyati yoniso upaparikkhati. Tassa taṁ passato nijjhāyato yoniso upaparikkhato rittakaññeva khāyati, tucchakaññeva khāyati, asārakaññeva khāyati. Kiñhi siyā, bhikkhave, viññāṇe sāro?
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi nibbindati, vedanāyapi … saññāyapi … saṅkhāresupi … viññāṇasmimpi nibbindati.
Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti …pe…
nāparaṁ itthattāyāti pajānāti”.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Pheṇapiṇḍūpamaṁ rūpaṁ,
vedanā bubbuḷūpamā;
Marīcikūpamā saññā,
saṅkhārā kadalūpamā;
Māyūpamañca viññāṇaṁ,
desitādiccabandhunā.
Yathā yathā nijjhāyati,
yoniso upaparikkhati;
Rittakaṁ tucchakaṁ hoti,
yo naṁ passati yoniso.
Imañca kāyaṁ ārabbha,
bhūripaññena desitaṁ;
Pahānaṁ tiṇṇaṁ dhammānaṁ,
rūpaṁ passatha chaḍḍitaṁ.
Āyu usmā ca viññāṇaṁ,
yadā kāyaṁ jahantimaṁ;
Apaviddho tadā seti,
parabhattaṁ acetanaṁ.
Etādisāyaṁ santāno,
māyāyaṁ bālalāpinī;
Vadhako esa akkhāto,
sāro ettha na vijjati.
Evaṁ khandhe avekkheyya,
bhikkhu āraddhavīriyo;
Divā vā yadi vā rattiṁ,
sampajāno paṭissato.
Jaheyya sabbasaṁyogaṁ,
kareyya saraṇattano;
Careyyādittasīsova,
patthayaṁ accutaṁ padan”ti.
Tatiyaṁ.