Sống Một Mình
Vi-n 1 …
Vi-n 2 Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, khi con sống một mình, Thiền tịnh, tâm tư như sau được khởi lên: “Thế Tôn dạy có ba thọ: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ”. Ba thọ này được Thế Tôn thuyết dạy. Nhưng Thế Tôn lại nói: “Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ”. Do liên hệ đến cái gì, lời nói này được Thế Tôn nói lên: “Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ”?
Vi-n 4 —Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Này Tỷ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỷ-kheo, Ta lại nói: “Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ”. Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: “Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ”. Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: “Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ”.
Vi-n 5 Nhưng này Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự đoạn diệt các hành là tuần tự: khi chứng được Thiền thứ nhứt, lời nói được đoạn diệt; khi chứng Thiền thứ hai, tầm tứ được đoạn diệt; khi chứng Thiền thứ ba, hỷ được đoạn diệt; khi chứng Thiền thứ tư, hơi thở vô, hơi thở ra được đoạn diệt; khi chứng Không vô biên xứ, sắc tưởng được đoạn diệt; khi chứng Thức vô biên xứ, Không vô biên xứ tưởng được đoạn diệt; khi chứng Vô sở hữu xứ, Thức vô biên xứ tưởng được đoạn diệt; khi chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Vô sở hữu xứ tưởng được đoạn diệt; khi chứng Diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ được đoạn diệt. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tham được đoạn diệt, sân được đoạn diệt, si được đoạn diệt.
Vi-n 6 Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự tịnh chỉ các hành là tuần tự; khi chứng Thiền thứ nhứt, lời nói được tịnh chỉ; khi chứng Thiền thứ hai, tầm tứ được tịnh chỉ … khi chứng Diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ được tịnh chỉ. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tham được tịnh chỉ, sân được tịnh chỉ, si được tịnh chỉ.
Vi-n 7 Này các Tỷ-kheo, có sáu khinh an này, khi chứng Thiền thứ nhứt, lời nói được khinh an; khi chứng Thiền thứ hai, tầm tứ được khinh an; khi chứng Thiền thứ ba, hỷ được khinh an; khi chứng Thiền thứ tư, hơi thở vô, hơi thở ra được khinh an; khi chứng Không vô biên xứ, sắc tưởng được khinh an; khi chứng Thức vô biên xứ, Không vô biên xứ tưởng được đoạn diệt; khi chứng Vô sở hữu xứ, Thức vô biên xứ tưởng được khinh an; khi chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Vô sở hữu xứ tưởng được khinh an; khi chứng Diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ được khinh an. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tham được khinh an, sân được khinh an, si được khinh an.
Atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“idha mayhaṁ, bhante, rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi—
tisso vedanā vuttā bhagavatā.
Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā—
imā tisso vedanā vuttā bhagavatā.
Vuttaṁ kho panetaṁ bhagavatā:
‘yaṁ kiñci vedayitaṁ taṁ dukkhasmin’ti.
Kiṁ nu kho etaṁ bhagavatā sandhāya bhāsitaṁ:
‘yaṁ kiñci vedayitaṁ taṁ dukkhasmin’”ti?
“Sādhu sādhu, bhikkhu.
Tisso imā, bhikkhu, vedanā vuttā mayā.
Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā—
imā tisso vedanā vuttā mayā.
Vuttaṁ kho panetaṁ, bhikkhu, mayā:
‘yaṁ kiñci vedayitaṁ, taṁ dukkhasmin’ti.
Taṁ kho panetaṁ, bhikkhu, mayā saṅkhārānaṁyeva aniccataṁ sandhāya bhāsitaṁ:
‘yaṁ kiñci vedayitaṁ taṁ dukkhasmin’ti.
Taṁ kho panetaṁ, bhikkhu, mayā saṅkhārānaṁyeva khayadhammataṁ …pe…
vayadhammataṁ …pe…
virāgadhammataṁ …pe…
nirodhadhammataṁ …pe…
vipariṇāmadhammataṁ sandhāya bhāsitaṁ:
‘yaṁ kiñci vedayitaṁ taṁ dukkhasmin’ti.
Atha kho pana, bhikkhu, mayā anupubbasaṅkhārānaṁ nirodho akkhāto.
Paṭhamaṁ jhānaṁ samāpannassa vācā niruddhā hoti.
Dutiyaṁ jhānaṁ samāpannassa vitakkavicārā niruddhā honti.
Tatiyaṁ jhānaṁ samāpannassa pīti niruddhā hoti.
Catutthaṁ jhānaṁ samāpannassa assāsapassāsā niruddhā honti.
Ākāsānañcāyatanaṁ samāpannassa rūpasaññā niruddhā hoti.
Viññāṇañcāyatanaṁ samāpannassa ākāsānañcāyatanasaññā niruddhā hoti.
Ākiñcaññāyatanaṁ samāpannassa viññāṇañcāyatanasaññā niruddhā hoti.
Nevasaññānāsaññāyatanaṁ samāpannassa ākiñcaññāyatanasaññā niruddhā hoti.
Saññāvedayitanirodhaṁ samāpannassa saññā ca vedanā ca niruddhā honti.
Khīṇāsavassa bhikkhuno rāgo niruddho hoti, doso niruddho hoti, moho niruddho hoti.
Atha kho, bhikkhu, mayā anupubbasaṅkhārānaṁ vūpasamo akkhāto.
Paṭhamaṁ jhānaṁ samāpannassa vācā vūpasantā hoti.
Dutiyaṁ jhānaṁ samāpannassa vitakkavicārā vūpasantā honti …pe…
saññāvedayitanirodhaṁ samāpannassa saññā ca vedanā ca vūpasantā honti.
Khīṇāsavassa bhikkhuno rāgo vūpasanto hoti, doso vūpasanto hoti, moho vūpasanto hoti.
Chayimā, bhikkhu, passaddhiyo.
Paṭhamaṁ jhānaṁ samāpannassa vācā paṭippassaddhā hoti.
Dutiyaṁ jhānaṁ samāpannassa vitakkavicārā paṭippassaddhā honti.
Tatiyaṁ jhānaṁ samāpannassa pīti paṭippassaddhā hoti.
Catutthaṁ jhānaṁ samāpannassa assāsapassāsā paṭippassaddhā honti.
Saññāvedayitanirodhaṁ samāpannassa saññā ca vedanā ca paṭippassaddhā honti.
Khīṇāsavassa bhikkhuno rāgo paṭippassaddho hoti, doso paṭippassaddho hoti, moho paṭippassaddho hotī”ti.
Paṭhamaṁ.
SC 1Then a certain bhikkhu approached the Blessed One, paid homage to him, sat down to one side, and said to him: “Here, venerable sir, while I was alone in seclusion, a reflection arose in my mind thus: ‘Three feeling have been spoken of by the Blessed One: pleasant feeling, painful feeling, neither-painful-nor-pleasant feeling. These three feelings have been spoken of by the Blessed One. But the Blessed One has said: “Whatever is felt is included in suffering.” Now with reference to what was this stated by the Blessed One?’”
SC 2“Good, good, bhikkhu! These three feelings have been spoken of by me: pleasant feeling, painful feeling, neither-painful-nor-pleasant feeling. These three feelings have been spoken of by me. And I have also said: ‘Whatever is felt is included in suffering.’ That has been stated by me with reference to the impermanence of formations. That has been stated by me with reference to formations being subject to destruction … to formations being subject to vanishing … to formations being subject to fading away sn.iv.217 … to formations being subject to cessation … to formations being subject to change.
SC 3“Then, bhikkhu, I have also taught the successive cessation of formations. For one who has attained the first jhana, speech has ceased. For one who has attained the second jhana, thought and examination have ceased. For one who has attained the third jhana, rapture has ceased. For one who has attained the fourth jhana, in-breathing and out-breathing have ceased. For one who has attained the base of the infinity of space, the perception of form has ceased. For one who has attained the base of the infinity of consciousness, the perception pertaining to the base of the infinity of space has ceased. For one who has attained the base of nothingness, the perception pertaining to the base of the infinity of consciousness has ceased. For one who has attained the base of neither-perception-nor-nonperception, the perception pertaining to the base of nothingness has ceased. For one who has attained the cessation of perception and feeling, perception and feeling have ceased. For a bhikkhu whose taints are destroyed, lust has ceased, hatred has ceased, delusion has ceased.
SC 4“Then, bhikkhu, I have also taught the successive subsiding of formations. For one who has attained the first jhana speech has subsided…. For one who has attained the cessation of perception and feeling, perception and feeling have subsided. For a bhikkhu whose taints are destroyed, lust has subsided, hatred has subsided, delusion has subsided.
SC 5“There are, bhikkhu, these six kinds of tranquillization. For one who has attained the first jhana, speech has been tranquillized. For one who has attained the second jhana, thought and examination have been tranquillized. For one who has attained the third jhana, rapture has been tranquillized. For one who has attained the fourth jhana, in-breathing and out-breathing have been tranquillized. sn.iv.218 For one who has attained the cessation of perception and feeling, perception and feeling have been tranquillized. For a bhikkhu whose taints are destroyed, lust has been tranquillized, hatred has been tranquillized, delusion has been tranquillized.”
Sống Một Mình
Vi-n 1 …
Vi-n 2 Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, khi con sống một mình, Thiền tịnh, tâm tư như sau được khởi lên: “Thế Tôn dạy có ba thọ: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ”. Ba thọ này được Thế Tôn thuyết dạy. Nhưng Thế Tôn lại nói: “Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ”. Do liên hệ đến cái gì, lời nói này được Thế Tôn nói lên: “Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ”?
Vi-n 4 —Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Này Tỷ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỷ-kheo, Ta lại nói: “Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ”. Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: “Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ”. Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: “Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ”.
Vi-n 5 Nhưng này Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự đoạn diệt các hành là tuần tự: khi chứng được Thiền thứ nhứt, lời nói được đoạn diệt; khi chứng Thiền thứ hai, tầm tứ được đoạn diệt; khi chứng Thiền thứ ba, hỷ được đoạn diệt; khi chứng Thiền thứ tư, hơi thở vô, hơi thở ra được đoạn diệt; khi chứng Không vô biên xứ, sắc tưởng được đoạn diệt; khi chứng Thức vô biên xứ, Không vô biên xứ tưởng được đoạn diệt; khi chứng Vô sở hữu xứ, Thức vô biên xứ tưởng được đoạn diệt; khi chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Vô sở hữu xứ tưởng được đoạn diệt; khi chứng Diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ được đoạn diệt. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tham được đoạn diệt, sân được đoạn diệt, si được đoạn diệt.
Vi-n 6 Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự tịnh chỉ các hành là tuần tự; khi chứng Thiền thứ nhứt, lời nói được tịnh chỉ; khi chứng Thiền thứ hai, tầm tứ được tịnh chỉ … khi chứng Diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ được tịnh chỉ. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tham được tịnh chỉ, sân được tịnh chỉ, si được tịnh chỉ.
Vi-n 7 Này các Tỷ-kheo, có sáu khinh an này, khi chứng Thiền thứ nhứt, lời nói được khinh an; khi chứng Thiền thứ hai, tầm tứ được khinh an; khi chứng Thiền thứ ba, hỷ được khinh an; khi chứng Thiền thứ tư, hơi thở vô, hơi thở ra được khinh an; khi chứng Không vô biên xứ, sắc tưởng được khinh an; khi chứng Thức vô biên xứ, Không vô biên xứ tưởng được đoạn diệt; khi chứng Vô sở hữu xứ, Thức vô biên xứ tưởng được khinh an; khi chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Vô sở hữu xứ tưởng được khinh an; khi chứng Diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ được khinh an. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tham được khinh an, sân được khinh an, si được khinh an.
Atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“idha mayhaṁ, bhante, rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi—
tisso vedanā vuttā bhagavatā.
Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā—
imā tisso vedanā vuttā bhagavatā.
Vuttaṁ kho panetaṁ bhagavatā:
‘yaṁ kiñci vedayitaṁ taṁ dukkhasmin’ti.
Kiṁ nu kho etaṁ bhagavatā sandhāya bhāsitaṁ:
‘yaṁ kiñci vedayitaṁ taṁ dukkhasmin’”ti?
“Sādhu sādhu, bhikkhu.
Tisso imā, bhikkhu, vedanā vuttā mayā.
Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā—
imā tisso vedanā vuttā mayā.
Vuttaṁ kho panetaṁ, bhikkhu, mayā:
‘yaṁ kiñci vedayitaṁ, taṁ dukkhasmin’ti.
Taṁ kho panetaṁ, bhikkhu, mayā saṅkhārānaṁyeva aniccataṁ sandhāya bhāsitaṁ:
‘yaṁ kiñci vedayitaṁ taṁ dukkhasmin’ti.
Taṁ kho panetaṁ, bhikkhu, mayā saṅkhārānaṁyeva khayadhammataṁ …pe…
vayadhammataṁ …pe…
virāgadhammataṁ …pe…
nirodhadhammataṁ …pe…
vipariṇāmadhammataṁ sandhāya bhāsitaṁ:
‘yaṁ kiñci vedayitaṁ taṁ dukkhasmin’ti.
Atha kho pana, bhikkhu, mayā anupubbasaṅkhārānaṁ nirodho akkhāto.
Paṭhamaṁ jhānaṁ samāpannassa vācā niruddhā hoti.
Dutiyaṁ jhānaṁ samāpannassa vitakkavicārā niruddhā honti.
Tatiyaṁ jhānaṁ samāpannassa pīti niruddhā hoti.
Catutthaṁ jhānaṁ samāpannassa assāsapassāsā niruddhā honti.
Ākāsānañcāyatanaṁ samāpannassa rūpasaññā niruddhā hoti.
Viññāṇañcāyatanaṁ samāpannassa ākāsānañcāyatanasaññā niruddhā hoti.
Ākiñcaññāyatanaṁ samāpannassa viññāṇañcāyatanasaññā niruddhā hoti.
Nevasaññānāsaññāyatanaṁ samāpannassa ākiñcaññāyatanasaññā niruddhā hoti.
Saññāvedayitanirodhaṁ samāpannassa saññā ca vedanā ca niruddhā honti.
Khīṇāsavassa bhikkhuno rāgo niruddho hoti, doso niruddho hoti, moho niruddho hoti.
Atha kho, bhikkhu, mayā anupubbasaṅkhārānaṁ vūpasamo akkhāto.
Paṭhamaṁ jhānaṁ samāpannassa vācā vūpasantā hoti.
Dutiyaṁ jhānaṁ samāpannassa vitakkavicārā vūpasantā honti …pe…
saññāvedayitanirodhaṁ samāpannassa saññā ca vedanā ca vūpasantā honti.
Khīṇāsavassa bhikkhuno rāgo vūpasanto hoti, doso vūpasanto hoti, moho vūpasanto hoti.
Chayimā, bhikkhu, passaddhiyo.
Paṭhamaṁ jhānaṁ samāpannassa vācā paṭippassaddhā hoti.
Dutiyaṁ jhānaṁ samāpannassa vitakkavicārā paṭippassaddhā honti.
Tatiyaṁ jhānaṁ samāpannassa pīti paṭippassaddhā hoti.
Catutthaṁ jhānaṁ samāpannassa assāsapassāsā paṭippassaddhā honti.
Saññāvedayitanirodhaṁ samāpannassa saññā ca vedanā ca paṭippassaddhā honti.
Khīṇāsavassa bhikkhuno rāgo paṭippassaddho hoti, doso paṭippassaddho hoti, moho paṭippassaddho hotī”ti.
Paṭhamaṁ.