Vi-n 1 … Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, một tân Tỷ-kheo sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi vào tịnh xá, rảnh rỗi, yên lặng, phân vân (không biết làm gì), không phụ việc với các Tỷ-kheo trong thời gian may y.
Vi-n 3 Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 4 Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, có một tân Tỷ-kheo sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi vào tịnh xá, rảnh rỗi, im lặng, phân vân (không biết làm gì), không phụ việc với các Tỷ-kheo trong thời gian may y.
Vi-n 5 Rồi Thế Tôn gọi một Tỷ-kheo:
—Hãy đến, này Tỷ-kheo, nhân danh Ta, hãy gọi Tỷ-kheo ấy và nói: “Này Hiền giả, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả”.
Vi-n 6 —Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tỷ-kheo kia; sau khi đến nói với Tỷ-kheo ấy:
—Thưa Hiền giả, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả.
Vi-n 7 —Thưa vâng, này Hiền giả.
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tỷ-kheo kia, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 8 Thế Tôn nói với Tỷ-kheo đang ngồi xuống một bên:
—Có thật chăng, này Tỷ-kheo, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, sau khi vào tịnh xá, Ông rảnh rỗi, im lặng, phân vân (không biết làm gì), không phụ việc với các Tỷ-kheo trong thời gian may y?
—Bạch Thế Tôn, con làm việc của con.
Vi-n 9 Rồi Thế Tôn, với tâm của mình biết tâm Tỷ-kheo ấy, liền gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, các Ông chớ có bực phiền với Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này chứng được không có khó khăn, chứng được không có mệt nhọc, chứng được không phí sức bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú. Vị ấy còn tự mình ngay trong hiện tại, chứng tri, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô thượng cứu cánh Phạm hạnh mà vì mục đích này, con các lương gia chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Vi-n 10 Thế Tôn thuyết như vậy. Bậc Thiện Thệ sau khi nói xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Kẻ sống buông thả này,
Kẻ ít nghị lực này,
Không thể đạt Niết-bàn,
Giải thoát mọi khổ đau.
Vị Tỷ-kheo trẻ này,
Là một người tối thượng,
Chiến thắng ma quân xong,
Thọ trì thân tối hậu.
Sāvatthiyaṁ viharati.
Tena kho pana samayena aññataro navo bhikkhu pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto vihāraṁ pavisitvā appossukko tuṇhībhūto saṅkasāyati, na bhikkhūnaṁ veyyāvaccaṁ karoti cīvarakārasamaye.
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“idha, bhante, aññataro navo bhikkhu pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto vihāraṁ pavisitvā appossukko tuṇhībhūto saṅkasāyati, na bhikkhūnaṁ veyyāvaccaṁ karoti cīvarakārasamaye”ti.
Atha kho bhagavā aññataraṁ bhikkhuṁ āmantesi:
“ehi tvaṁ, bhikkhu, mama vacanena taṁ bhikkhuṁ āmantehi ‘satthā taṁ, āvuso, āmantetī’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato paṭissutvā yena so bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ etadavoca:
“satthā taṁ, āvuso, āmantetī”ti.
“Evamāvuso”ti kho so bhikkhu tassa bhikkhuno paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho taṁ bhikkhuṁ bhagavā etadavoca:
“saccaṁ kira tvaṁ, bhikkhu, pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto vihāraṁ pavisitvā appossukko tuṇhībhūto saṅkasāyasi, na bhikkhūnaṁ veyyāvaccaṁ karosi cīvarakārasamaye”ti?
“Ahampi kho, bhante, sakaṁ kiccaṁ karomī”ti.
Atha kho bhagavā tassa bhikkhuno cetasā cetoparivitakkamaññāya bhikkhū āmantesi:
“mā kho tumhe, bhikkhave, etassa bhikkhuno ujjhāyittha.
Eso kho, bhikkhave, bhikkhu catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī, yassa catthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Nayidaṁ sithilamārabbha,
nayidaṁ appena thāmasā;
Nibbānaṁ adhigantabbaṁ,
sabbadukkhappamocanaṁ.
Ayañca daharo bhikkhu,
ayamuttamapuriso;
Dhāreti antimaṁ dehaṁ,
jetvā māraṁ savāhinin”ti.
Catutthaṁ.
SC 1At Savatthi. Now on that occasion a certain newly ordained bhikkhu, after returning from the alms round, would enter his dwelling after the meal and pass the time living at ease and keeping silent. He did not render service to the bhikkhus at the time of making robes. Then a number of bhikkhus approached the Blessed One, paid homage to him, sat down to one side, and reported this matter to him. Then the Blessed One addressed a certain bhikkhu thus: “Come, bhikkhu, tell that bhikkhu in my name that the Teacher calls him.”
SC 2“Yes, venerable sir,” that bhikkhu replied, and he went to that bhikkhu and told him: “The Teacher calls you, friend.”
SC 3“Yes, friend,” that bhikkhu replied, and he approached the Blessed One, paid homage to him, and sat down to one side. sn.ii.278 The Blessed One then said to him: “Is it true, bhikkhu, that after returning from the alms round you enter your dwelling after the meal and pass the time living at ease and keeping silent, and you do not render service to the bhikkhus at the time of making robes?”
“I am doing my own duty, venerable sir.”
SC 4Then the Blessed One, having known with his own mind the reflection in that bhikkhu’s mind, addressed the bhikkhus thus: “Bhikkhus, do not find fault with this bhikkhu. This bhikkhu is one who gains at will, without trouble or difficulty, the four jhanas that constitute the higher mind and provide a pleasant dwelling in this very life. And he is one who, by realizing it for himself with direct knowledge, in this very life enters and dwells in that unsurpassed goal of the holy life for the sake of which clansmen rightly go forth from the household life into homelessness.”
SC 5This is what the Blessed One said. Having said this, the Fortunate One, the Teacher, further said this:
SC 6“Not by means of slack endeavour,
Not by means of feeble effort,
Is this Nibbāna to be achieved,
Release from all suffering.
SC 7“This young bhikkhu by my side
Is a supreme man indeed:
He carries about his final body,
Having conquered Mara and his mount.”
Vi-n 1 … Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, một tân Tỷ-kheo sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi vào tịnh xá, rảnh rỗi, yên lặng, phân vân (không biết làm gì), không phụ việc với các Tỷ-kheo trong thời gian may y.
Vi-n 3 Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 4 Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, có một tân Tỷ-kheo sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi vào tịnh xá, rảnh rỗi, im lặng, phân vân (không biết làm gì), không phụ việc với các Tỷ-kheo trong thời gian may y.
Vi-n 5 Rồi Thế Tôn gọi một Tỷ-kheo:
—Hãy đến, này Tỷ-kheo, nhân danh Ta, hãy gọi Tỷ-kheo ấy và nói: “Này Hiền giả, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả”.
Vi-n 6 —Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tỷ-kheo kia; sau khi đến nói với Tỷ-kheo ấy:
—Thưa Hiền giả, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả.
Vi-n 7 —Thưa vâng, này Hiền giả.
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tỷ-kheo kia, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 8 Thế Tôn nói với Tỷ-kheo đang ngồi xuống một bên:
—Có thật chăng, này Tỷ-kheo, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, sau khi vào tịnh xá, Ông rảnh rỗi, im lặng, phân vân (không biết làm gì), không phụ việc với các Tỷ-kheo trong thời gian may y?
—Bạch Thế Tôn, con làm việc của con.
Vi-n 9 Rồi Thế Tôn, với tâm của mình biết tâm Tỷ-kheo ấy, liền gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, các Ông chớ có bực phiền với Tỷ-kheo này. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này chứng được không có khó khăn, chứng được không có mệt nhọc, chứng được không phí sức bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú. Vị ấy còn tự mình ngay trong hiện tại, chứng tri, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô thượng cứu cánh Phạm hạnh mà vì mục đích này, con các lương gia chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Vi-n 10 Thế Tôn thuyết như vậy. Bậc Thiện Thệ sau khi nói xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Kẻ sống buông thả này,
Kẻ ít nghị lực này,
Không thể đạt Niết-bàn,
Giải thoát mọi khổ đau.
Vị Tỷ-kheo trẻ này,
Là một người tối thượng,
Chiến thắng ma quân xong,
Thọ trì thân tối hậu.
Sāvatthiyaṁ viharati.
Tena kho pana samayena aññataro navo bhikkhu pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto vihāraṁ pavisitvā appossukko tuṇhībhūto saṅkasāyati, na bhikkhūnaṁ veyyāvaccaṁ karoti cīvarakārasamaye.
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“idha, bhante, aññataro navo bhikkhu pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto vihāraṁ pavisitvā appossukko tuṇhībhūto saṅkasāyati, na bhikkhūnaṁ veyyāvaccaṁ karoti cīvarakārasamaye”ti.
Atha kho bhagavā aññataraṁ bhikkhuṁ āmantesi:
“ehi tvaṁ, bhikkhu, mama vacanena taṁ bhikkhuṁ āmantehi ‘satthā taṁ, āvuso, āmantetī’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato paṭissutvā yena so bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ etadavoca:
“satthā taṁ, āvuso, āmantetī”ti.
“Evamāvuso”ti kho so bhikkhu tassa bhikkhuno paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho taṁ bhikkhuṁ bhagavā etadavoca:
“saccaṁ kira tvaṁ, bhikkhu, pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto vihāraṁ pavisitvā appossukko tuṇhībhūto saṅkasāyasi, na bhikkhūnaṁ veyyāvaccaṁ karosi cīvarakārasamaye”ti?
“Ahampi kho, bhante, sakaṁ kiccaṁ karomī”ti.
Atha kho bhagavā tassa bhikkhuno cetasā cetoparivitakkamaññāya bhikkhū āmantesi:
“mā kho tumhe, bhikkhave, etassa bhikkhuno ujjhāyittha.
Eso kho, bhikkhave, bhikkhu catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī, yassa catthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Nayidaṁ sithilamārabbha,
nayidaṁ appena thāmasā;
Nibbānaṁ adhigantabbaṁ,
sabbadukkhappamocanaṁ.
Ayañca daharo bhikkhu,
ayamuttamapuriso;
Dhāreti antimaṁ dehaṁ,
jetvā māraṁ savāhinin”ti.
Catutthaṁ.