Vi-n 1 Nhân duyên Sāvatthi.
Rồi Tỷ-kheo-ni Uppalavannà vào buổi sáng đắp y … và đứng dưới gốc cây tala có trổ hoa.
Vi-n 2 Ác ma muốn làm cho Tỷ-kheo-ni Uppalavannà run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến Tỷ-kheo-ni Uppalavannà.
Vi-n 3 Sau khi đến, Ác ma nói lên bài kệ này với Tỷ-kheo-ni Uppalavannà:
Này nàng Tỷ-kheo-ni,
Dưới gốc cây tala,
Ðang nở nụ trăm hoa,
Nàng đến đứng một mình,
Nhan sắc Nàng tuyệt đẹp,
Không ai dám sánh bằng!
Tại đây Nàng đã đến,
Trong tư thế như vậy,
Nàng ngu dại kia ơi,
Không sợ cám dỗ sao?
Vi-n 4 Tỷ-kheo-ni Uppalavannà suy nghĩ: “Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay là không phải người?”
Vi-n 5 Tỷ-kheo-ni Uppalavannà suy nghĩ: “Ðây là Ác ma … đã nói lên bài kệ đó.”
Vi-n 6 Tỷ-kheo-ni Uppalavannà biết được: “Ðây là Ác ma”, liền trả lời với bài kệ:
Trăm ngàn người cám dỗ,
Có đến đây như Ông,
Mảy lông ta không động,
Ta không gì sợ hãi.
Ác ma, ta không sợ,
Ta đứng đây một mình,
Ta có thể biến mất,
Hay vào bụng các Ông.
Ta đứng giữa hàng mi,
Ông không thấy ta được.
Với tâm khéo khiếp phục,
Thần túc khéo tu trì,
Ta thoát mọi trói buộc,
Ta đâu có sợ Ông?
Này Hiền giả Ác ma!
Vi-n 7 Ác ma biết được: “Tỷ-kheo-ni Uppalavannà đã biết ta”, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho uppalavaṇṇā bhikkhunī pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā …pe…
aññatarasmiṁ supupphitasālarukkhamūle aṭṭhāsi.
Atha kho māro pāpimā uppalavaṇṇāya bhikkhuniyā bhayaṁ chambhitattaṁ lomahaṁsaṁ uppādetukāmo samādhimhā cāvetukāmo yena uppalavaṇṇā bhikkhunī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā uppalavaṇṇaṁ bhikkhuniṁ gāthāya ajjhabhāsi:
“Supupphitaggaṁ upagamma bhikkhuni,
Ekā tuvaṁ tiṭṭhasi sālamūle;
Na catthi te dutiyā vaṇṇadhātu,
Bāle na tvaṁ bhāyasi dhuttakānan”ti.
Atha kho uppalavaṇṇāya bhikkhuniyā etadahosi:
“ko nu khvāyaṁ manusso vā amanusso vā gāthaṁ bhāsatī”ti?
Atha kho uppalavaṇṇāya bhikkhuniyā etadahosi:
“māro kho ayaṁ pāpimā mama bhayaṁ chambhitattaṁ lomahaṁsaṁ uppādetukāmo samādhimhā cāvetukāmo gāthaṁ bhāsatī”ti.
Atha kho uppalavaṇṇā bhikkhunī “māro ayaṁ pāpimā” iti viditvā māraṁ pāpimantaṁ gāthāhi paccabhāsi:
“Sataṁ sahassānipi dhuttakānaṁ,
Idhāgatā tādisakā bhaveyyuṁ;
Lomaṁ na iñjāmi na santasāmi,
Na māra bhāyāmi tamekikāpi.
Esā antaradhāyāmi,
kucchiṁ vā pavisāmi te;
Pakhumantarikāyampi,
tiṭṭhantiṁ maṁ na dakkhasi.
Cittasmiṁ vasībhūtāmhi,
iddhipādā subhāvitā;
Sabbabandhanamuttāmhi,
na taṁ bhāyāmi āvuso”ti.
Atha kho māro pāpimā “jānāti maṁ uppalavaṇṇā bhikkhunī”ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.
SC 1 At Savatthi. Then, in the morning, the bhikkhuni Uppalavaṇṇa dressed … she stood at the foot of a sal tree in full flower.
SC 2Then Mara the Evil One, desiring to arouse fear, trepidation, and terror in the bhikkhuni Uppalavaṇṇa, desiring to make her fall away from concentration, approached her and addressed her in verse:
SC 3 “Having gone to a sal tree with flowering top,
You stand at its foot all alone, bhikkhuni.
There is none whose beauty rivals yours:
Foolish girl, aren’t you afraid of rogues?”
SC 4Then it occurred to the bhikkhuni Uppalavaṇṇa: sn.i.132 “Now who is this…? This is Mara the Evil One … desiring to make me fall away from concentration.”
SC 5Then the bhikkhuni Uppalavaṇṇa, having understood, “This is Mara the Evil One,” replied to him in verses:
SC 6 “Though a hundred thousand rogues
Just like you might come here,
I stir not a hair, I feel no terror;
Even alone, Mara, I don’t fear you.
SC 7 “I can make myself disappear
Or I can enter inside your belly.
I can stand between your eyebrows
Yet you won’t catch a glimpse of me.
SC 8 “I am the master of my mind,
The bases of power are well developed;
I am freed from all bondage,
Therefore I don’t fear you, friend.”
SC 9Then Mara the Evil One, realizing, “The bhikkhuni Uppalavaṇṇa knows me,” sad and disappointed, disappeared right there.
Vi-n 1 Nhân duyên Sāvatthi.
Rồi Tỷ-kheo-ni Uppalavannà vào buổi sáng đắp y … và đứng dưới gốc cây tala có trổ hoa.
Vi-n 2 Ác ma muốn làm cho Tỷ-kheo-ni Uppalavannà run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến Tỷ-kheo-ni Uppalavannà.
Vi-n 3 Sau khi đến, Ác ma nói lên bài kệ này với Tỷ-kheo-ni Uppalavannà:
Này nàng Tỷ-kheo-ni,
Dưới gốc cây tala,
Ðang nở nụ trăm hoa,
Nàng đến đứng một mình,
Nhan sắc Nàng tuyệt đẹp,
Không ai dám sánh bằng!
Tại đây Nàng đã đến,
Trong tư thế như vậy,
Nàng ngu dại kia ơi,
Không sợ cám dỗ sao?
Vi-n 4 Tỷ-kheo-ni Uppalavannà suy nghĩ: “Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay là không phải người?”
Vi-n 5 Tỷ-kheo-ni Uppalavannà suy nghĩ: “Ðây là Ác ma … đã nói lên bài kệ đó.”
Vi-n 6 Tỷ-kheo-ni Uppalavannà biết được: “Ðây là Ác ma”, liền trả lời với bài kệ:
Trăm ngàn người cám dỗ,
Có đến đây như Ông,
Mảy lông ta không động,
Ta không gì sợ hãi.
Ác ma, ta không sợ,
Ta đứng đây một mình,
Ta có thể biến mất,
Hay vào bụng các Ông.
Ta đứng giữa hàng mi,
Ông không thấy ta được.
Với tâm khéo khiếp phục,
Thần túc khéo tu trì,
Ta thoát mọi trói buộc,
Ta đâu có sợ Ông?
Này Hiền giả Ác ma!
Vi-n 7 Ác ma biết được: “Tỷ-kheo-ni Uppalavannà đã biết ta”, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho uppalavaṇṇā bhikkhunī pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā …pe…
aññatarasmiṁ supupphitasālarukkhamūle aṭṭhāsi.
Atha kho māro pāpimā uppalavaṇṇāya bhikkhuniyā bhayaṁ chambhitattaṁ lomahaṁsaṁ uppādetukāmo samādhimhā cāvetukāmo yena uppalavaṇṇā bhikkhunī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā uppalavaṇṇaṁ bhikkhuniṁ gāthāya ajjhabhāsi:
“Supupphitaggaṁ upagamma bhikkhuni,
Ekā tuvaṁ tiṭṭhasi sālamūle;
Na catthi te dutiyā vaṇṇadhātu,
Bāle na tvaṁ bhāyasi dhuttakānan”ti.
Atha kho uppalavaṇṇāya bhikkhuniyā etadahosi:
“ko nu khvāyaṁ manusso vā amanusso vā gāthaṁ bhāsatī”ti?
Atha kho uppalavaṇṇāya bhikkhuniyā etadahosi:
“māro kho ayaṁ pāpimā mama bhayaṁ chambhitattaṁ lomahaṁsaṁ uppādetukāmo samādhimhā cāvetukāmo gāthaṁ bhāsatī”ti.
Atha kho uppalavaṇṇā bhikkhunī “māro ayaṁ pāpimā” iti viditvā māraṁ pāpimantaṁ gāthāhi paccabhāsi:
“Sataṁ sahassānipi dhuttakānaṁ,
Idhāgatā tādisakā bhaveyyuṁ;
Lomaṁ na iñjāmi na santasāmi,
Na māra bhāyāmi tamekikāpi.
Esā antaradhāyāmi,
kucchiṁ vā pavisāmi te;
Pakhumantarikāyampi,
tiṭṭhantiṁ maṁ na dakkhasi.
Cittasmiṁ vasībhūtāmhi,
iddhipādā subhāvitā;
Sabbabandhanamuttāmhi,
na taṁ bhāyāmi āvuso”ti.
Atha kho māro pāpimā “jānāti maṁ uppalavaṇṇā bhikkhunī”ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.