Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anāthapiṇḍika.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo-ni Khemà đang đi du hành giữa dân chúng Kosala và trú ở tại Toranavatthu, giữa Sāvatthi và Sàketà.
Vi-n 3 Vua Pasenadi nước Kosala cũng đang đi từ Sāketa đến Sāvatthi và trú một đêm ở Toranavatthu, giữa Sāketa và Sāvatthi.
Vi-n 4 Rồi vua Pasenadi nước Kosala gọi một người và nói:
—Hãy đến, này Người kia. Ông có biết vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào ở tại Toranavatthu để hôm nay ta có thể đến yết kiến vị ấy?
—Thưa vâng, tâu Ðại vương.
Người ấy vâng đáp vua Pasenadi nước Kosala, đi tìm khắp Toranavatthu không thấy có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào để vua Pasenadi nước Kosala có thể đến yết kiến.
Vi-n 5 Rồi người ấy thấy Tỷ-kheo-ni Khemà đến trú ở Toranavatthu; sau khi thấy, người ấy đi đến vua Pasenadi nước Kosala và thưa:
—Tâu Ðại vương, tại Toranavatthu không có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào để Ðại vương có thể yết kiến. Nhưng tâu Ðại vương, có Tỷ-kheo-ni Khemà là đệ tử của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về bậc nữ Tôn giả ấy: “Nữ Tôn giả là bậc hiền trí, thông minh, có trí, nghe nhiều, lời nói đến tâm, ứng đáp lanh lợi”. Ðại vương có thể đến yết kiến vị ấy.
Vi-n 6 Rồi vua Pasenadi nước Kosala đi đến Tỷ-kheo-ni Khemà; sau khi đến, đảnh lễ vị ấy rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 7 Ngồi một bên, vua Pasenadi nước Kosala thưa với Tỷ-kheo-ni Khemà:
—Thưa Nữ Tôn giả, Như Lai có tồn tại sau khi chết không?
—Tâu Ðại vương, Thế Tôn không trả lời: “Như Lai có tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 8 —Thế là, thưa Nữ Tôn giả, Như Lai không tồn tại sau khi chết?
—Tâu Ðại vương, Thế Tôn cũng không trả lời: “Như Lai không có tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 9 —Thế là, thưa Nữ Tôn giả, Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết?
—Tâu Ðại vương, Thế Tôn cũng không trả lời: “Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 10 —Thế là, thưa Nữ Tôn giả, Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?
—Tâu Ðại vương, Thế Tôn cũng không trả lời: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 11 —Ðược hỏi: “Thưa Nữ Tôn giả, Như Lai có tồn tại sau khi chết không?”, Nữ Tôn giả trả lời: “Tâu Ðại vương, Thế Tôn không trả lời: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết” ”. Ðược hỏi: “Thế là, thưa Nữ Tôn giả, có phải Như Lai không tồn tại sau khi chết không?”, Nữ Tôn giả trả lời: “Tâu Ðại vương, Thế Tôn cũng không trả lời: ‘Như Lai không có tồn tại sau khi chết” ”. Ðược hỏi: “Thế là, thưa Nữ Tôn giả, có phải Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết?”, Nữ Tôn giả trả lời: “Tâu Ðại vương, Thế Tôn cũng không trả lời: ‘Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết” ”. Ðược hỏi: “Thế là, thưa Nữ Tôn giả, có phải Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?”, Nữ Tôn giả trả lời: “Tâu Ðại vương, Thế Tôn cũng không trả lời: ‘Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết” ”. Thưa Nữ Tôn giả, do nhân gì, do duyên gì, Thế Tôn lại không trả lời?
Vi-n 12 —Vậy thưa Ðại vương, ở đây, tôi sẽ hỏi Ðại vương. Ðại vương kham nhẫn như thế nào, hãy trả lời như vậy.
Vi-n 13 Ðại vương nghĩ thế nào, thưa Ðại vương, Ðại vương có người kế toán nào, chưởng ấn nào (muddiko), toán số nào có thể đếm được cát sông Hằng có số hột cát như vậy, có số trăm hột cát như vậy, có số ngàn hột cát như vậy, có số trăm ngàn hột cát như vậy?
—Thưa không, thưa Nữ Tôn giả.
Vi-n 14 —Ðại vương có người kế toán nào, có người chưởng ấn nào, có người toán số nào có thể đong lường được nước của biển lớn có số đấu nước như vậy, có số trăm đấu nước như vậy, có số ngàn đấu nước như vậy, có số trăm ngàn đấu nước như vậy?
—Thưa không, thưa Nữ Tôn giả.
—Vì sao?
—Thưa Nữ Tôn giả, vì rằng biển lớn thâm sâu, vô lường, khó dò đến đáy.
Vi-n 15 —Cũng vậy, thưa Ðại vương, nếu có người muốn định nghĩa Như Lai ngang qua sắc thân (rupeena), nhưng sắc thân ấy, Như Lai đã đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; được giải thoát khỏi sự ước lượng của sắc thân. Thưa Ðại vương, Như Lai là thâm sâu, vô lường, không thể đến tận đáy, như biển lớn. Nói rằng: “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, không thể chấp nhận. Nói rằng: “Như Lai không có tồn tại sau khi chết”, cũng không thể chấp nhận. Nói rằng: “Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết”, cũng không thể chấp nhận. Nói rằng: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”, cũng không thể chấp nhận.
Vi-n 16 Nếu có người muốn định nghĩa Như Lai ngang qua cảm thọ, nhưng cảm thọ ấy, Như Lai đã đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; được giải thoát khỏi sự ước lượng của cảm thọ. Thưa Ðại vương, Như Lai là thâm sâu, vô lường, không thể đến tận đáy, như biển lớn. Nói rằng: “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, không thể chấp nhận … Nói rằng: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”, cũng không thể chấp nhận.
Vi-n 17-19. Nếu có người muốn định nghĩa Như Lai qua các tưởng … qua các hành … qua các thức; nhưng thức ấy, Như Lai đã đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; được giải thoát khỏi sự ước lượng của thức. Thưa Ðại vương, Như Lai là thâm sâu, vô lường, không thể đến tận đáy, như biển lớn. Nói rằng: “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, không thể chấp nhận. Nói rằng: “Như Lai không có tồn tại sau khi chết”, cũng không thể chấp nhận. Nói rằng: “Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết”, cũng không thể chấp nhận. Nói rằng: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”, cũng không thể chấp nhận.
Vi-n 20 Rồi vua Pasenadi nước Kosala hoan hỷ, tín thọ lời của Tỷ-kheo-ni Khemà, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Tỷ-kheo-ni Khemà, thân phía hữu hướng về Nữ Tôn giả rồi ra đi.
Vi-n 21 Rồi vua Pasenadi nước Kosala, sau một thời gian, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 22 Ngồi một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Như Lai có tồn tại sau khi chết không?
—Thưa Ðại vương, Ta không trả lời: “Như Lai có tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 23 Thế là, thưa Thế Tôn, Như Lai không có tồn tại sau khi chết?
—Thưa Ðại vương, Ta cũng không trả lời: “Như Lai không có tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 24-25.… (Như trên) …
Vi-n 26-34.… (Như trên, từ số 11 đến số 19, với những thay đổi cần thiết) …
Vi-n 35 —Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Vì rằng giữa Ðạo sư với nữ đệ tử, ý nghĩa với ý nghĩa, văn ngôn với văn ngôn có sự tương đồng, có sự tương hòa, không có sự mâu thuẫn, tức là tối thượng văn cú.
Vi-n 36 Một thời, bạch Thế Tôn, con đi đến Tỷ-kheo-ni Khemà và hỏi về ý nghĩa này. Nữ Tôn giả ấy đã trả lời cho con về ý nghĩa này với những câu này, với những lời này, giống như Thế Tôn. Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn! Vì rằng giữa Ðạo sư với nữ đệ tử, ý nghĩa với ý nghĩa, văn ngôn với văn ngôn có sự tương đồng, có sự tương hòa, không có sự mâu thuẫn, tức là tối thượng văn cú. Bạch Thế Tôn, nay con phải đi, con có nhiều công vụ, nhiều việc phải làm.
—Thưa Ðại vương, nay Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ là hợp thời.
Vi-n 37 Rồi vua Pasenadi nước Kosala hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn nói, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena khemā bhikkhunī kosalesu cārikaṁ caramānā antarā ca sāvatthiṁ antarā ca sāketaṁ toraṇavatthusmiṁ vāsaṁ upagatā hoti.
Atha kho rājā pasenadi kosalo sāketā sāvatthiṁ gacchanto, antarā ca sāketaṁ antarā ca sāvatthiṁ toraṇavatthusmiṁ ekarattivāsaṁ upagacchi.
Atha kho rājā pasenadi kosalo aññataraṁ purisaṁ āmantesi:
“ehi tvaṁ, ambho purisa, toraṇavatthusmiṁ tathārūpaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā jāna yamahaṁ ajja payirupāseyyan”ti.
“Evaṁ, devā”ti kho so puriso rañño pasenadissa kosalassa paṭissutvā kevalakappaṁ toraṇavatthuṁ āhiṇḍanto nāddasa tathārūpaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā yaṁ rājā pasenadi kosalo payirupāseyya.
Addasā kho so puriso khemaṁ bhikkhuniṁ toraṇavatthusmiṁ vāsaṁ upagataṁ.
Disvāna yena rājā pasenadi kosalo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā rājānaṁ pasenadiṁ kosalaṁ etadavoca:
“Natthi kho, deva, toraṇavatthusmiṁ tathārūpo samaṇo vā brāhmaṇo vā yaṁ devo payirupāseyya.
Atthi ca kho, deva, khemā nāma bhikkhunī, tassa bhagavato sāvikā arahato sammāsambuddhassa.
Tassā kho pana ayyāya evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato:
‘paṇḍitā, viyattā medhāvinī bahussutā cittakathā kalyāṇapaṭibhānā’ti.
Taṁ devo payirupāsatū”ti.
Atha kho rājā pasenadi kosalo yena khemā bhikkhunī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā khemaṁ bhikkhuniṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho rājā pasenadi kosalo khemaṁ bhikkhuniṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, ayye, hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti?
“Abyākataṁ kho etaṁ, mahārāja, bhagavatā:
‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
“Kiṁ panayye, na hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti?
“Etampi kho, mahārāja, abyākataṁ bhagavatā:
‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
“Kiṁ nu kho, ayye, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti?
“Abyākataṁ kho etaṁ, mahārāja, bhagavatā:
‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
“Kiṁ panayye, neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti.
“Etampi kho, mahārāja, abyākataṁ bhagavatā:
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
“‘Kiṁ nu kho, ayye, hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti, iti puṭṭhā samānā:
‘abyākataṁ kho etaṁ, mahārāja, bhagavatā—
hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vadesi.
‘Kiṁ panayye, na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti iti puṭṭhā samānā:
‘etampi kho, mahārāja, abyākataṁ bhagavatā—
na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vadesi.
‘Kiṁ nu kho, ayye, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti iti puṭṭhā samānā:
‘abyākataṁ kho etaṁ, mahārāja, bhagavatā—
hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vadesi.
‘Kiṁ panayye, neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti iti puṭṭhā samānā:
‘etampi kho, mahārāja, abyākataṁ bhagavatā—
neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vadesi.
Ko nu kho, ayye, hetu, ko paccayo yenetaṁ abyākataṁ bhagavatā”ti?
“Tena hi, mahārāja, taññevettha paṭipucchissāmi. Yathā te khameyya tathā naṁ byākareyyāsi.
Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja,
atthi te koci gaṇako vā muddiko vā saṅkhāyako vā yo pahoti gaṅgāya vālukaṁ gaṇetuṁ—
ettakā vālukā iti vā, ettakāni vālukasatāni iti vā, ettakāni vālukasahassāni iti vā, ettakāni vālukasatasahassāni iti vā”ti?
“No hetaṁ, ayye”.
“Atthi pana te koci gaṇako vā muddiko vā saṅkhāyako vā yo pahoti mahāsamudde udakaṁ gaṇetuṁ—
ettakāni udakāḷhakāni iti vā, ettakāni udakāḷhakasatāni iti vā, ettakāni udakāḷhakasahassāni iti vā, ettakāni udakāḷhakasatasahassāni iti vā”ti?
“No hetaṁ, ayye”.
“Taṁ kissa hetu”?
“Mahāyye, samuddo gambhīro appameyyo duppariyogāho”ti.
“Evameva kho, mahārāja, yena rūpena tathāgataṁ paññāpayamāno paññāpeyya taṁ rūpaṁ tathāgatassa pahīnaṁ ucchinnamūlaṁ tālāvatthukataṁ anabhāvaṅkataṁ āyatiṁ anuppādadhammaṁ.
Rūpasaṅkhāyavimutto kho, mahārāja, tathāgato gambhīro appameyyo duppariyogāho—
seyyathāpi mahāsamuddo.
‘Hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti, ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti.
Yāya vedanāya tathāgataṁ paññāpayamāno paññāpeyya, sā vedanā tathāgatassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Vedanāsaṅkhāyavimutto, mahārāja, tathāgato gambhīro appameyyo duppariyogāho—
seyyathāpi mahāsamuddo.
‘Hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti, ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti.
Yāya saññāya tathāgataṁ …pe…
yehi saṅkhārehi tathāgataṁ paññāpayamāno paññāpeyya, te saṅkhārā tathāgatassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Saṅkhārasaṅkhāyavimutto kho, mahārāja, tathāgato gambhīro appameyyo duppariyogāho—
seyyathāpi mahāsamuddo.
‘Hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti, ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti.
Yena viññāṇena tathāgataṁ paññāpayamāno paññāpeyya taṁ viññāṇaṁ tathāgatassa pahīnaṁ ucchinnamūlaṁ tālāvatthukataṁ anabhāvaṅkataṁ āyatiṁ anuppādadhammaṁ.
Viññāṇasaṅkhāyavimutto kho, mahārāja, tathāgato gambhīro appameyyo duppariyogāho—
seyyathāpi mahāsamuddo.
‘Hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti, ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upetī”ti.
Atha kho rājā pasenadi kosalo khemāya bhikkhuniyā bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā khemaṁ bhikkhuniṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho rājā pasenadi kosalo aparena samayena yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho rājā pasenadi kosalo bhagavantaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, bhante, hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti?
“Abyākataṁ kho etaṁ, mahārāja, mayā:
‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
“Kiṁ pana, bhante, na hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti?
“Etampi kho, mahārāja, abyākataṁ mayā:
‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
“Kiṁ nu kho, bhante, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti?
“Abyākataṁ kho etaṁ, mahārāja, mayā:
‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
“Kiṁ pana, bhante, neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti?
“Etampi kho, mahārāja, abyākataṁ mayā:
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
“‘Kiṁ nu kho, bhante, hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti iti puṭṭho samāno:
‘abyākataṁ kho etaṁ, mahārāja, mayā—hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vadesi …pe….
“‘Kiṁ pana, bhante, neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti iti puṭṭho samāno:
‘etampi kho, mahārāja, abyākataṁ mayā—
neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vadesi.
Ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo, yenetaṁ abyākataṁ bhagavatā”ti?
“Tena hi, mahārāja, taññevettha paṭipucchissāmi. Yathā te khameyya tathā naṁ byākareyyāsi.
Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, atthi te koci gaṇako vā muddiko vā saṅkhāyako vā yo pahoti gaṅgāya vālukaṁ gaṇetuṁ—
ettakā vālukā iti vā …pe… ettakāni vālukasatasahassāni iti vā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Atthi pana te koci gaṇako vā muddiko vā saṅkhāyako vā yo pahoti mahāsamudde udakaṁ gaṇetuṁ—
ettakāni udakāḷhakāni iti vā …pe… ettakāni udakāḷhakasatasahassāni iti vā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kissa hetu”?
“Mahā, bhante, samuddo gambhīro appameyyo duppariyogāho.
Evameva kho, mahārāja, yena rūpena tathāgataṁ paññāpayamāno paññāpeyya, taṁ rūpaṁ tathāgatassa pahīnaṁ ucchinnamūlaṁ tālāvatthukataṁ anabhāvaṅkataṁ āyatiṁ anuppādadhammaṁ.
Rūpasaṅkhāyavimutto kho, mahārāja, tathāgato gambhīro appameyyo duppariyogāho—
seyyathāpi mahāsamuddo.
‘Hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti …pe…
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti.
Yāya vedanāya …pe…
yāya saññāya …pe… yehi saṅkhārehi …pe….
Yena viññāṇena tathāgataṁ paññāpayamāno paññāpeyya, taṁ viññāṇaṁ tathāgatassa pahīnaṁ ucchinnamūlaṁ tālāvatthukataṁ anabhāvaṅkataṁ āyatiṁ anuppādadhammaṁ.
Viññāṇasaṅkhāyavimutto kho, mahārāja, tathāgato gambhīro appameyyo duppariyogāho—
seyyathāpi mahāsamuddo.
‘Hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti, ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upetī”ti.
“Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante.
Yatra hi nāma satthu ceva sāvikāya ca atthena attho byañjanena byañjanaṁ saṁsandissati, samessati, na virodhayissati yadidaṁ aggapadasmiṁ.
Ekamidāhaṁ, bhante, samayaṁ khemaṁ bhikkhuniṁ upasaṅkamitvā etamatthaṁ apucchiṁ.
Sāpi me ayyā etehi padehi etehi byañjanehi etamatthaṁ byākāsi, seyyathāpi bhagavā.
Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante.
Yatra hi nāma satthu ceva sāvikāya ca atthena attho byañjanena byañjanaṁ saṁsandissati, samessati, na virodhayissati yadidaṁ aggapadasmiṁ.
Handa dāni mayaṁ, bhante, gacchāma.
Bahukiccā mayaṁ bahukaraṇīyā”ti.
“Yassadāni tvaṁ, mahārāja, kālaṁ maññasī”ti.
Atha kho rājā pasenadi kosalo bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmīti.
Paṭhamaṁ.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling at Savatthī in Jeta’s Grove, Anathapiṇḍika’s Park. Now on that occasion the bhikkhunī Khema, while wandering on tour among the Kosalans, had taken up residence in Toraṇavatthu between Savatthī and Saketa. Then King Pasenadi of Kosala, while travelling from Saketa to Savatthī, took up residence for one night in Toraṇavatthu between Saketa and Savatthī. Then King Pasenadi of Kosala addressed a man thus: “Go, good man, and find out whether there is any ascetic or brahmin in Toraṇavatthu whom I could visit today.”
SC 2“Yes, sire,” the man replied, but though he traversed the whole of Toraṇavatthu he did not see any ascetic or brahmin there whom King Pasenadi could visit. The man did see, however, the bhikkhunī Khema resident in Toraṇavatthu, so he approached King Pasenadi and said to him:
SC 3“Sire, there is no ascetic or brahmin in Toraṇavatthu whom your majesty could visit. But, sire, there is the bhikkhunī named Khema, a disciple of the Blessed One, the Arahant, the Perfectly Enlightened One. Now a good report concerning this revered lady has spread about thus: sn.iv.375 ‘She is wise, competent, intelligent, learned, a splendid speaker, ingenious.’ Let your majesty visit her.”
SC 4Then King Pasenadi of Kosala approached the bhikkhunī Khema, paid homage to her, sat down to one side, and said to her:
SC 5“How is it, revered lady, does the Tathagata exist after death?”
SC 6“Great king, the Blessed One has not declared this: ‘The Tathagata exists after death.’”
SC 7“Then, revered lady, does the Tathagata not exist after death?”
SC 8“Great king, the Blessed One has not declared this either: ‘The Tathagata does not exist after death.’”
SC 9“How is it then, revered lady, does the Tathagata both exist and not exist after death?”
SC 10“Great king, the Blessed One has not declared this: ‘The Tathagata both exists and does not exist after death.’”
SC 11“Then, revered lady, does the Tathagata neither exist nor not exist after death?”
SC 12“Great king, the Blessed One has not declared this either: ‘The Tathagata neither exists nor does not exist after death.’”
SC 13“How is this, revered lady? When asked, ‘How is it, revered lady, does the Tathagata exist after death?’ … And when asked, ‘Then, revered lady, does the Tathagata neither exist nor not exist after death?’—in each case you say: ‘Great king, the Blessed One has not declared this.’ What now, sn.iv.376 revered lady, is the cause and reason why this has not been declared by the Blessed One?”
SC 14“Well then, great king, I will question you about this same matter. Answer as you see fit. What do you think, great king? Do you have an accountant or calculator or mathematician who can count the grains of sand in the river Ganges thus: ‘There are so many grains of sand,’ or ‘There are so many hundreds of grains of sand,’ or ‘There are so many thousands of grains of sand,’ or ‘There are so many hundreds of thousands of grains of sand’?”
“No, revered lady.”
SC 15“Then, great king, do you have an accountant or calculator or mathematician who can count the water in the great ocean thus: ‘There are so many gallons of water,’ or ‘There are so many hundreds of gallons of water,’ or ‘There are so many thousands of gallons of water,’ or ‘There are so many hundreds of thousands of gallons of water’?”
SC 16“No, revered lady. For what reason? Because the great ocean is deep, immeasurable, hard to fathom.”
SC 17“So too, great king, that form by which one describing the Tathagata might describe him has been abandoned by the Tathagata, cut off at the root, made like a palm stump, obliterated so that it is no more subject to future arising. The Tathagata, great king, is liberated from reckoning in terms of form; he is deep, immeasurable, hard to fathom like the great ocean. ‘The Tathagata exists after death’ does not apply; ‘the Tathagata does not exist after death’ does not apply; ‘the Tathagata both exists and does not exist after death’ does not apply; ‘the Tathagata neither exists nor does not exist after death’ does not apply.
SC 18“That feeling by which one describing the Tathagata might describe him sn.iv.377 … That perception by which one describing the Tathagata might describe him … Those volitional formations by which one describing the Tathagata might describe him … That consciousness by which one describing the Tathagata might describe him has been abandoned by the Tathagata, cut off at the root, made like a palm stump, obliterated so that it is no more subject to future arising. The Tathagata, great king, is liberated from reckoning in terms of consciousness; he is deep, immeasurable, hard to fathom like the great ocean. ‘The Tathagata exists after death’ does not apply; ‘the Tathagata does not exist after death’ does not apply; ‘the Tathagata both exists and does not exist after death’ does not apply; ‘the Tathagata neither exists nor does not exist after death’ does not apply.”
SC 19Then King Pasenadi of Kosala, having delighted and rejoiced in the bhikkhunī Khema’s statement, rose from his seat, paid homage to her, and departed, keeping her on his right.
SC 20Then, on a later occasion, King Pasenadi of Kosala approached the Blessed One. Having approached, he paid homage to the Blessed One, sat down to one side, and said to him:
SC 21“How is it, venerable sir, does the Tathagata exist after death?” sn.iv.378
SC 22“Great king, I have not declared this: ‘The Tathagata exists after death.’”
All as above down to:
SC 23“Great king, I have not declared this either: ‘The Tathagata neither exists nor does not exist after death.’”
SC 24“How is this, venerable sir? When asked, ‘How is it, venerable sir, does the Tathagata exist after death?’ … And when asked, ‘Then, venerable sir, does the Tathagata neither exist nor not exist after death?’—in each case you say: ‘Great king, I have not declared this.’ What now, venerable sir, is the cause and reason why this has not been declared by the Blessed One?”
SC 25“Well then, great king, I will question you about this same matter. Answer as you see fit. What do you think, great king? Do you have an accountant or calculator or mathematician … all as above down to: sn.iv.379 … The Tathagata, great king, is liberated from reckoning in terms of consciousness: he is deep, immeasurable, hard to fathom like the great ocean. ‘The Tathagata exists after death’ does not apply; ‘the Tathagata does not exist after death’ does not apply; ‘the Tathagata both exists and does not exist after death’ does not apply; ‘the Tathagata neither exists nor does not exist after death’ does not apply.”
SC 26“It is wonderful, venerable sir! It is amazing, venerable sir! How the meaning and the phrasing of both teacher and disciple coincide and agree with each other and do not diverge, that is, in regard to the chief matter. On one occasion, venerable sir, I approached the bhikkhunī Khema and asked her about this matter. The revered lady explained this matter to me in exactly the same terms and phrases that the Blessed One used. It is wonderful, venerable sir! It is amazing, venerable sir! How the meaning and the phrasing of both teacher and disciple coincide and agree with each other and do not diverge, that is, in regard to the chief matter. Now, venerable sir, we must go. We are busy and have much to do.”
SC 27“Then, great king, you may go at your own convenience.”
SC 28Then King Pasenadi of Kosala, having delighted and rejoiced in the Blessed One’s statement, sn.iv.380 rose from his seat, paid homage to him, and departed, keeping him on his right.
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anāthapiṇḍika.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo-ni Khemà đang đi du hành giữa dân chúng Kosala và trú ở tại Toranavatthu, giữa Sāvatthi và Sàketà.
Vi-n 3 Vua Pasenadi nước Kosala cũng đang đi từ Sāketa đến Sāvatthi và trú một đêm ở Toranavatthu, giữa Sāketa và Sāvatthi.
Vi-n 4 Rồi vua Pasenadi nước Kosala gọi một người và nói:
—Hãy đến, này Người kia. Ông có biết vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào ở tại Toranavatthu để hôm nay ta có thể đến yết kiến vị ấy?
—Thưa vâng, tâu Ðại vương.
Người ấy vâng đáp vua Pasenadi nước Kosala, đi tìm khắp Toranavatthu không thấy có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào để vua Pasenadi nước Kosala có thể đến yết kiến.
Vi-n 5 Rồi người ấy thấy Tỷ-kheo-ni Khemà đến trú ở Toranavatthu; sau khi thấy, người ấy đi đến vua Pasenadi nước Kosala và thưa:
—Tâu Ðại vương, tại Toranavatthu không có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào để Ðại vương có thể yết kiến. Nhưng tâu Ðại vương, có Tỷ-kheo-ni Khemà là đệ tử của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về bậc nữ Tôn giả ấy: “Nữ Tôn giả là bậc hiền trí, thông minh, có trí, nghe nhiều, lời nói đến tâm, ứng đáp lanh lợi”. Ðại vương có thể đến yết kiến vị ấy.
Vi-n 6 Rồi vua Pasenadi nước Kosala đi đến Tỷ-kheo-ni Khemà; sau khi đến, đảnh lễ vị ấy rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 7 Ngồi một bên, vua Pasenadi nước Kosala thưa với Tỷ-kheo-ni Khemà:
—Thưa Nữ Tôn giả, Như Lai có tồn tại sau khi chết không?
—Tâu Ðại vương, Thế Tôn không trả lời: “Như Lai có tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 8 —Thế là, thưa Nữ Tôn giả, Như Lai không tồn tại sau khi chết?
—Tâu Ðại vương, Thế Tôn cũng không trả lời: “Như Lai không có tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 9 —Thế là, thưa Nữ Tôn giả, Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết?
—Tâu Ðại vương, Thế Tôn cũng không trả lời: “Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 10 —Thế là, thưa Nữ Tôn giả, Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?
—Tâu Ðại vương, Thế Tôn cũng không trả lời: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 11 —Ðược hỏi: “Thưa Nữ Tôn giả, Như Lai có tồn tại sau khi chết không?”, Nữ Tôn giả trả lời: “Tâu Ðại vương, Thế Tôn không trả lời: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết” ”. Ðược hỏi: “Thế là, thưa Nữ Tôn giả, có phải Như Lai không tồn tại sau khi chết không?”, Nữ Tôn giả trả lời: “Tâu Ðại vương, Thế Tôn cũng không trả lời: ‘Như Lai không có tồn tại sau khi chết” ”. Ðược hỏi: “Thế là, thưa Nữ Tôn giả, có phải Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết?”, Nữ Tôn giả trả lời: “Tâu Ðại vương, Thế Tôn cũng không trả lời: ‘Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết” ”. Ðược hỏi: “Thế là, thưa Nữ Tôn giả, có phải Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?”, Nữ Tôn giả trả lời: “Tâu Ðại vương, Thế Tôn cũng không trả lời: ‘Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết” ”. Thưa Nữ Tôn giả, do nhân gì, do duyên gì, Thế Tôn lại không trả lời?
Vi-n 12 —Vậy thưa Ðại vương, ở đây, tôi sẽ hỏi Ðại vương. Ðại vương kham nhẫn như thế nào, hãy trả lời như vậy.
Vi-n 13 Ðại vương nghĩ thế nào, thưa Ðại vương, Ðại vương có người kế toán nào, chưởng ấn nào (muddiko), toán số nào có thể đếm được cát sông Hằng có số hột cát như vậy, có số trăm hột cát như vậy, có số ngàn hột cát như vậy, có số trăm ngàn hột cát như vậy?
—Thưa không, thưa Nữ Tôn giả.
Vi-n 14 —Ðại vương có người kế toán nào, có người chưởng ấn nào, có người toán số nào có thể đong lường được nước của biển lớn có số đấu nước như vậy, có số trăm đấu nước như vậy, có số ngàn đấu nước như vậy, có số trăm ngàn đấu nước như vậy?
—Thưa không, thưa Nữ Tôn giả.
—Vì sao?
—Thưa Nữ Tôn giả, vì rằng biển lớn thâm sâu, vô lường, khó dò đến đáy.
Vi-n 15 —Cũng vậy, thưa Ðại vương, nếu có người muốn định nghĩa Như Lai ngang qua sắc thân (rupeena), nhưng sắc thân ấy, Như Lai đã đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; được giải thoát khỏi sự ước lượng của sắc thân. Thưa Ðại vương, Như Lai là thâm sâu, vô lường, không thể đến tận đáy, như biển lớn. Nói rằng: “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, không thể chấp nhận. Nói rằng: “Như Lai không có tồn tại sau khi chết”, cũng không thể chấp nhận. Nói rằng: “Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết”, cũng không thể chấp nhận. Nói rằng: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”, cũng không thể chấp nhận.
Vi-n 16 Nếu có người muốn định nghĩa Như Lai ngang qua cảm thọ, nhưng cảm thọ ấy, Như Lai đã đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; được giải thoát khỏi sự ước lượng của cảm thọ. Thưa Ðại vương, Như Lai là thâm sâu, vô lường, không thể đến tận đáy, như biển lớn. Nói rằng: “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, không thể chấp nhận … Nói rằng: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”, cũng không thể chấp nhận.
Vi-n 17-19. Nếu có người muốn định nghĩa Như Lai qua các tưởng … qua các hành … qua các thức; nhưng thức ấy, Như Lai đã đoạn tận, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai; được giải thoát khỏi sự ước lượng của thức. Thưa Ðại vương, Như Lai là thâm sâu, vô lường, không thể đến tận đáy, như biển lớn. Nói rằng: “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, không thể chấp nhận. Nói rằng: “Như Lai không có tồn tại sau khi chết”, cũng không thể chấp nhận. Nói rằng: “Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết”, cũng không thể chấp nhận. Nói rằng: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”, cũng không thể chấp nhận.
Vi-n 20 Rồi vua Pasenadi nước Kosala hoan hỷ, tín thọ lời của Tỷ-kheo-ni Khemà, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Tỷ-kheo-ni Khemà, thân phía hữu hướng về Nữ Tôn giả rồi ra đi.
Vi-n 21 Rồi vua Pasenadi nước Kosala, sau một thời gian, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 22 Ngồi một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Như Lai có tồn tại sau khi chết không?
—Thưa Ðại vương, Ta không trả lời: “Như Lai có tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 23 Thế là, thưa Thế Tôn, Như Lai không có tồn tại sau khi chết?
—Thưa Ðại vương, Ta cũng không trả lời: “Như Lai không có tồn tại sau khi chết”.
Vi-n 24-25.… (Như trên) …
Vi-n 26-34.… (Như trên, từ số 11 đến số 19, với những thay đổi cần thiết) …
Vi-n 35 —Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Vì rằng giữa Ðạo sư với nữ đệ tử, ý nghĩa với ý nghĩa, văn ngôn với văn ngôn có sự tương đồng, có sự tương hòa, không có sự mâu thuẫn, tức là tối thượng văn cú.
Vi-n 36 Một thời, bạch Thế Tôn, con đi đến Tỷ-kheo-ni Khemà và hỏi về ý nghĩa này. Nữ Tôn giả ấy đã trả lời cho con về ý nghĩa này với những câu này, với những lời này, giống như Thế Tôn. Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn! Vì rằng giữa Ðạo sư với nữ đệ tử, ý nghĩa với ý nghĩa, văn ngôn với văn ngôn có sự tương đồng, có sự tương hòa, không có sự mâu thuẫn, tức là tối thượng văn cú. Bạch Thế Tôn, nay con phải đi, con có nhiều công vụ, nhiều việc phải làm.
—Thưa Ðại vương, nay Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ là hợp thời.
Vi-n 37 Rồi vua Pasenadi nước Kosala hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn nói, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena khemā bhikkhunī kosalesu cārikaṁ caramānā antarā ca sāvatthiṁ antarā ca sāketaṁ toraṇavatthusmiṁ vāsaṁ upagatā hoti.
Atha kho rājā pasenadi kosalo sāketā sāvatthiṁ gacchanto, antarā ca sāketaṁ antarā ca sāvatthiṁ toraṇavatthusmiṁ ekarattivāsaṁ upagacchi.
Atha kho rājā pasenadi kosalo aññataraṁ purisaṁ āmantesi:
“ehi tvaṁ, ambho purisa, toraṇavatthusmiṁ tathārūpaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā jāna yamahaṁ ajja payirupāseyyan”ti.
“Evaṁ, devā”ti kho so puriso rañño pasenadissa kosalassa paṭissutvā kevalakappaṁ toraṇavatthuṁ āhiṇḍanto nāddasa tathārūpaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā yaṁ rājā pasenadi kosalo payirupāseyya.
Addasā kho so puriso khemaṁ bhikkhuniṁ toraṇavatthusmiṁ vāsaṁ upagataṁ.
Disvāna yena rājā pasenadi kosalo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā rājānaṁ pasenadiṁ kosalaṁ etadavoca:
“Natthi kho, deva, toraṇavatthusmiṁ tathārūpo samaṇo vā brāhmaṇo vā yaṁ devo payirupāseyya.
Atthi ca kho, deva, khemā nāma bhikkhunī, tassa bhagavato sāvikā arahato sammāsambuddhassa.
Tassā kho pana ayyāya evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato:
‘paṇḍitā, viyattā medhāvinī bahussutā cittakathā kalyāṇapaṭibhānā’ti.
Taṁ devo payirupāsatū”ti.
Atha kho rājā pasenadi kosalo yena khemā bhikkhunī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā khemaṁ bhikkhuniṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho rājā pasenadi kosalo khemaṁ bhikkhuniṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, ayye, hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti?
“Abyākataṁ kho etaṁ, mahārāja, bhagavatā:
‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
“Kiṁ panayye, na hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti?
“Etampi kho, mahārāja, abyākataṁ bhagavatā:
‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
“Kiṁ nu kho, ayye, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti?
“Abyākataṁ kho etaṁ, mahārāja, bhagavatā:
‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
“Kiṁ panayye, neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti.
“Etampi kho, mahārāja, abyākataṁ bhagavatā:
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
“‘Kiṁ nu kho, ayye, hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti, iti puṭṭhā samānā:
‘abyākataṁ kho etaṁ, mahārāja, bhagavatā—
hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vadesi.
‘Kiṁ panayye, na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti iti puṭṭhā samānā:
‘etampi kho, mahārāja, abyākataṁ bhagavatā—
na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vadesi.
‘Kiṁ nu kho, ayye, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti iti puṭṭhā samānā:
‘abyākataṁ kho etaṁ, mahārāja, bhagavatā—
hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vadesi.
‘Kiṁ panayye, neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti iti puṭṭhā samānā:
‘etampi kho, mahārāja, abyākataṁ bhagavatā—
neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vadesi.
Ko nu kho, ayye, hetu, ko paccayo yenetaṁ abyākataṁ bhagavatā”ti?
“Tena hi, mahārāja, taññevettha paṭipucchissāmi. Yathā te khameyya tathā naṁ byākareyyāsi.
Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja,
atthi te koci gaṇako vā muddiko vā saṅkhāyako vā yo pahoti gaṅgāya vālukaṁ gaṇetuṁ—
ettakā vālukā iti vā, ettakāni vālukasatāni iti vā, ettakāni vālukasahassāni iti vā, ettakāni vālukasatasahassāni iti vā”ti?
“No hetaṁ, ayye”.
“Atthi pana te koci gaṇako vā muddiko vā saṅkhāyako vā yo pahoti mahāsamudde udakaṁ gaṇetuṁ—
ettakāni udakāḷhakāni iti vā, ettakāni udakāḷhakasatāni iti vā, ettakāni udakāḷhakasahassāni iti vā, ettakāni udakāḷhakasatasahassāni iti vā”ti?
“No hetaṁ, ayye”.
“Taṁ kissa hetu”?
“Mahāyye, samuddo gambhīro appameyyo duppariyogāho”ti.
“Evameva kho, mahārāja, yena rūpena tathāgataṁ paññāpayamāno paññāpeyya taṁ rūpaṁ tathāgatassa pahīnaṁ ucchinnamūlaṁ tālāvatthukataṁ anabhāvaṅkataṁ āyatiṁ anuppādadhammaṁ.
Rūpasaṅkhāyavimutto kho, mahārāja, tathāgato gambhīro appameyyo duppariyogāho—
seyyathāpi mahāsamuddo.
‘Hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti, ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti.
Yāya vedanāya tathāgataṁ paññāpayamāno paññāpeyya, sā vedanā tathāgatassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Vedanāsaṅkhāyavimutto, mahārāja, tathāgato gambhīro appameyyo duppariyogāho—
seyyathāpi mahāsamuddo.
‘Hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti, ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti.
Yāya saññāya tathāgataṁ …pe…
yehi saṅkhārehi tathāgataṁ paññāpayamāno paññāpeyya, te saṅkhārā tathāgatassa pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Saṅkhārasaṅkhāyavimutto kho, mahārāja, tathāgato gambhīro appameyyo duppariyogāho—
seyyathāpi mahāsamuddo.
‘Hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti, ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti.
Yena viññāṇena tathāgataṁ paññāpayamāno paññāpeyya taṁ viññāṇaṁ tathāgatassa pahīnaṁ ucchinnamūlaṁ tālāvatthukataṁ anabhāvaṅkataṁ āyatiṁ anuppādadhammaṁ.
Viññāṇasaṅkhāyavimutto kho, mahārāja, tathāgato gambhīro appameyyo duppariyogāho—
seyyathāpi mahāsamuddo.
‘Hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti, ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upetī”ti.
Atha kho rājā pasenadi kosalo khemāya bhikkhuniyā bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā khemaṁ bhikkhuniṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho rājā pasenadi kosalo aparena samayena yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho rājā pasenadi kosalo bhagavantaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, bhante, hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti?
“Abyākataṁ kho etaṁ, mahārāja, mayā:
‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
“Kiṁ pana, bhante, na hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti?
“Etampi kho, mahārāja, abyākataṁ mayā:
‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
“Kiṁ nu kho, bhante, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti?
“Abyākataṁ kho etaṁ, mahārāja, mayā:
‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
“Kiṁ pana, bhante, neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti?
“Etampi kho, mahārāja, abyākataṁ mayā:
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’”ti.
“‘Kiṁ nu kho, bhante, hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti iti puṭṭho samāno:
‘abyākataṁ kho etaṁ, mahārāja, mayā—hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vadesi …pe….
“‘Kiṁ pana, bhante, neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti iti puṭṭho samāno:
‘etampi kho, mahārāja, abyākataṁ mayā—
neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vadesi.
Ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo, yenetaṁ abyākataṁ bhagavatā”ti?
“Tena hi, mahārāja, taññevettha paṭipucchissāmi. Yathā te khameyya tathā naṁ byākareyyāsi.
Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, atthi te koci gaṇako vā muddiko vā saṅkhāyako vā yo pahoti gaṅgāya vālukaṁ gaṇetuṁ—
ettakā vālukā iti vā …pe… ettakāni vālukasatasahassāni iti vā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Atthi pana te koci gaṇako vā muddiko vā saṅkhāyako vā yo pahoti mahāsamudde udakaṁ gaṇetuṁ—
ettakāni udakāḷhakāni iti vā …pe… ettakāni udakāḷhakasatasahassāni iti vā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kissa hetu”?
“Mahā, bhante, samuddo gambhīro appameyyo duppariyogāho.
Evameva kho, mahārāja, yena rūpena tathāgataṁ paññāpayamāno paññāpeyya, taṁ rūpaṁ tathāgatassa pahīnaṁ ucchinnamūlaṁ tālāvatthukataṁ anabhāvaṅkataṁ āyatiṁ anuppādadhammaṁ.
Rūpasaṅkhāyavimutto kho, mahārāja, tathāgato gambhīro appameyyo duppariyogāho—
seyyathāpi mahāsamuddo.
‘Hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti …pe…
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti.
Yāya vedanāya …pe…
yāya saññāya …pe… yehi saṅkhārehi …pe….
Yena viññāṇena tathāgataṁ paññāpayamāno paññāpeyya, taṁ viññāṇaṁ tathāgatassa pahīnaṁ ucchinnamūlaṁ tālāvatthukataṁ anabhāvaṅkataṁ āyatiṁ anuppādadhammaṁ.
Viññāṇasaṅkhāyavimutto kho, mahārāja, tathāgato gambhīro appameyyo duppariyogāho—
seyyathāpi mahāsamuddo.
‘Hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti, ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upeti, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na upetī”ti.
“Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante.
Yatra hi nāma satthu ceva sāvikāya ca atthena attho byañjanena byañjanaṁ saṁsandissati, samessati, na virodhayissati yadidaṁ aggapadasmiṁ.
Ekamidāhaṁ, bhante, samayaṁ khemaṁ bhikkhuniṁ upasaṅkamitvā etamatthaṁ apucchiṁ.
Sāpi me ayyā etehi padehi etehi byañjanehi etamatthaṁ byākāsi, seyyathāpi bhagavā.
Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante.
Yatra hi nāma satthu ceva sāvikāya ca atthena attho byañjanena byañjanaṁ saṁsandissati, samessati, na virodhayissati yadidaṁ aggapadasmiṁ.
Handa dāni mayaṁ, bhante, gacchāma.
Bahukiccā mayaṁ bahukaraṇīyā”ti.
“Yassadāni tvaṁ, mahārāja, kālaṁ maññasī”ti.
Atha kho rājā pasenadi kosalo bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmīti.
Paṭhamaṁ.