Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Sakka, tại một thị trấn của dân chúng Sakka, tên là Devadaha.
Vi-n 2 Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, Ta không tuyên bố rằng đối với tất cả Tỷ-kheo cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ. Nhưng này các Tỷ-kheo, Ta cũng không tuyên bố rằng đối với tất cả Tỷ-kheo không cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ.
Vi-n 3 Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã thành tựu Phạm hạnh, đã làm những việc phải làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, đã đoạn trừ hữu kiết sử, đã được giải thoát nhờ chánh trí; thời này các Tỷ-kheo, đối với những Tỷ-kheo ấy, Ta tuyên bố rằng không cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ. Vì sao?
Vi-n 4 Vì các vị ấy đã hành trì không phóng dật, đến nỗi họ không thể trở thành phóng dật.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, còn những Tỷ-kheo nào còn là hữu học, sở nguyện chưa thành đạt, đang sống cần cầu vô thượng an ổn khỏi các khổ ách; thời này các Tỷ-kheo, đối với các Tỷ-kheo ấy, Ta tuyên bố rằng họ cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ. Vì sao?
Vi-n 6 Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả ái và không khả ái. Dầu chúng xúc chạm tâm nhiều lần, chúng không chi phối được tâm và tồn tại. Do tâm không bị chi phối, tinh cần, tinh tấn khởi lên, không có biếng nhác; niệm được an trú, không có thất thoát; thân được khinh an, không có cuồng nhiệt; tâm được định tĩnh, nhứt tâm. Này các Tỷ-kheo, thấy được quả không phóng dật này, đối với những Tỷ-kheo ấy. Ta tuyên bố rằng, cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ.
Vi-n 7-10. Này các Tỷ-kheo, có những tiếng do tai nhận thức … có những hương do mũi nhận thức … có những vị do lưỡi nhận thức … có những xúc do thân nhận thức …
Vi-n 11 Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả ái và không khả ái. Dầu chúng xúc chạm tâm nhiều lần, chúng không chi phối được tâm và tồn tại. Do tâm không bị chi phối, tinh cần, tinh tấn khởi lên, không có biếng nhác; niệm được an trú, không có thất thoát; thân được khinh an, không cuồng nhiệt; tâm được định tĩnh, nhứt tâm. Này các Tỷ-kheo, thấy được quả không phóng dật này, đối với những Tỷ-kheo ấy, Ta tuyên bố rằng, cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati devadahaṁ nāma sakyānaṁ nigamo.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“nāhaṁ, bhikkhave, sabbesaṁyeva bhikkhūnaṁ chasu phassāyatanesu appamādena karaṇīyanti vadāmi, na ca panāhaṁ, bhikkhave, sabbesaṁyeva bhikkhūnaṁ chasu phassāyatanesu nāppamādena karaṇīyanti vadāmi.
Ye te, bhikkhave, bhikkhū arahanto khīṇāsavā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaṁyojanā sammadaññāvimuttā, tesāhaṁ, bhikkhave, bhikkhūnaṁ chasu phassāyatanesu nāppamādena karaṇīyanti vadāmi.
Taṁ kissa hetu?
Kataṁ tesaṁ appamādena, abhabbā te pamajjituṁ.
Ye ca kho te, bhikkhave, bhikkhū sekkhā appattamānasā anuttaraṁ yogakkhemaṁ patthayamānā viharanti, tesāhaṁ, bhikkhave, bhikkhūnaṁ chasu phassāyatanesu appamādena karaṇīyanti vadāmi.
Taṁ kissa hetu?
Santi, bhikkhave, cakkhuviññeyyā rūpā manoramāpi, amanoramāpi.
Tyāssa phussa phussa cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhanti.
Cetaso apariyādānā āraddhaṁ hoti vīriyaṁ asallīnaṁ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā, passaddho kāyo asāraddho, samāhitaṁ cittaṁ ekaggaṁ.
Imaṁ khvāhaṁ, bhikkhave, appamādaphalaṁ sampassamāno tesaṁ bhikkhūnaṁ chasu phassāyatanesu appamādena karaṇīyanti vadāmi …pe…
santi, bhikkhave, manoviññeyyā dhammā manoramāpi amanoramāpi.
Tyāssa phussa phussa cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhanti.
Cetaso apariyādānā āraddhaṁ hoti vīriyaṁ asallīnaṁ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā, passaddho kāyo asāraddho, samāhitaṁ cittaṁ ekaggaṁ.
Imaṁ khvāhaṁ, bhikkhave, appamādaphalaṁ sampassamāno tesaṁ bhikkhūnaṁ chasu phassāyatanesu appamādena karaṇīyanti vadāmī”ti.
Paṭhamaṁ.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling among the Sakyans where there was a town of the Sakyans named Devadaha. There the Blessed One addressed the bhikkhus thus:
SC 2“Bhikkhus, I do not say of all bhikkhus that they still have work to do with diligence in regard to the six bases for contact, sn.iv.125 nor do I say of all bhikkhus that they do not have work to do with diligence in regard to the six bases for contact.
SC 3“I do not say of those bhikkhus who are arahants, whose taints are destroyed, who have lived the holy life, done what had to be done, laid down the burden, reached their own goal, utterly destroyed the fetters of existence, and are completely liberated through final knowledge, that they still have work to do with diligence in regard to the six bases for contact. Why is that? They have done their work with diligence; they are incapable of being negligent.
SC 4“But I say of those bhikkhus who are trainees, who have not attained their mind’s ideal, who dwell aspiring for the unsurpassed security from bondage, that they still have work to do with diligence in regard to the six bases for contact. Why is that? There are, bhikkhus, forms cognizable by the eye that are agreeable and those that are disagreeable. One should train so that these do not persist obsessing one’s mind even when they are repeatedly experienced. When the mind is not obsessed, tireless energy is aroused, unmuddled mindfulness is set up, the body becomes tranquil and untroubled, the mind becomes concentrated and one-pointed. Seeing this fruit of diligence, bhikkhus, I say that those bhikkhus still have work to do with diligence in regard to the six bases for contact.
SC 5“There are, bhikkhus, sounds cognizable by the ear … mental phenomena cognizable by the mind that are agreeable and those that are disagreeable. One should train so that these do not persist obsessing one’s mind even when they are repeatedly experienced. When the mind is not obsessed, tireless energy is aroused, unmuddled mindfulness is set up, the body becomes tranquil and untroubled, the mind becomes concentrated and one-pointed. Seeing this fruit of diligence, bhikkhus, I say that those bhikkhus still have work to do with diligence in regard to the six bases for contact.” sn.iv.126
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Sakka, tại một thị trấn của dân chúng Sakka, tên là Devadaha.
Vi-n 2 Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, Ta không tuyên bố rằng đối với tất cả Tỷ-kheo cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ. Nhưng này các Tỷ-kheo, Ta cũng không tuyên bố rằng đối với tất cả Tỷ-kheo không cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ.
Vi-n 3 Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã thành tựu Phạm hạnh, đã làm những việc phải làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, đã đoạn trừ hữu kiết sử, đã được giải thoát nhờ chánh trí; thời này các Tỷ-kheo, đối với những Tỷ-kheo ấy, Ta tuyên bố rằng không cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ. Vì sao?
Vi-n 4 Vì các vị ấy đã hành trì không phóng dật, đến nỗi họ không thể trở thành phóng dật.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, còn những Tỷ-kheo nào còn là hữu học, sở nguyện chưa thành đạt, đang sống cần cầu vô thượng an ổn khỏi các khổ ách; thời này các Tỷ-kheo, đối với các Tỷ-kheo ấy, Ta tuyên bố rằng họ cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ. Vì sao?
Vi-n 6 Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả ái và không khả ái. Dầu chúng xúc chạm tâm nhiều lần, chúng không chi phối được tâm và tồn tại. Do tâm không bị chi phối, tinh cần, tinh tấn khởi lên, không có biếng nhác; niệm được an trú, không có thất thoát; thân được khinh an, không có cuồng nhiệt; tâm được định tĩnh, nhứt tâm. Này các Tỷ-kheo, thấy được quả không phóng dật này, đối với những Tỷ-kheo ấy. Ta tuyên bố rằng, cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ.
Vi-n 7-10. Này các Tỷ-kheo, có những tiếng do tai nhận thức … có những hương do mũi nhận thức … có những vị do lưỡi nhận thức … có những xúc do thân nhận thức …
Vi-n 11 Này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả ái và không khả ái. Dầu chúng xúc chạm tâm nhiều lần, chúng không chi phối được tâm và tồn tại. Do tâm không bị chi phối, tinh cần, tinh tấn khởi lên, không có biếng nhác; niệm được an trú, không có thất thoát; thân được khinh an, không cuồng nhiệt; tâm được định tĩnh, nhứt tâm. Này các Tỷ-kheo, thấy được quả không phóng dật này, đối với những Tỷ-kheo ấy, Ta tuyên bố rằng, cần phải cố gắng không phóng dật đối với sáu xúc xứ.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati devadahaṁ nāma sakyānaṁ nigamo.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“nāhaṁ, bhikkhave, sabbesaṁyeva bhikkhūnaṁ chasu phassāyatanesu appamādena karaṇīyanti vadāmi, na ca panāhaṁ, bhikkhave, sabbesaṁyeva bhikkhūnaṁ chasu phassāyatanesu nāppamādena karaṇīyanti vadāmi.
Ye te, bhikkhave, bhikkhū arahanto khīṇāsavā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaṁyojanā sammadaññāvimuttā, tesāhaṁ, bhikkhave, bhikkhūnaṁ chasu phassāyatanesu nāppamādena karaṇīyanti vadāmi.
Taṁ kissa hetu?
Kataṁ tesaṁ appamādena, abhabbā te pamajjituṁ.
Ye ca kho te, bhikkhave, bhikkhū sekkhā appattamānasā anuttaraṁ yogakkhemaṁ patthayamānā viharanti, tesāhaṁ, bhikkhave, bhikkhūnaṁ chasu phassāyatanesu appamādena karaṇīyanti vadāmi.
Taṁ kissa hetu?
Santi, bhikkhave, cakkhuviññeyyā rūpā manoramāpi, amanoramāpi.
Tyāssa phussa phussa cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhanti.
Cetaso apariyādānā āraddhaṁ hoti vīriyaṁ asallīnaṁ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā, passaddho kāyo asāraddho, samāhitaṁ cittaṁ ekaggaṁ.
Imaṁ khvāhaṁ, bhikkhave, appamādaphalaṁ sampassamāno tesaṁ bhikkhūnaṁ chasu phassāyatanesu appamādena karaṇīyanti vadāmi …pe…
santi, bhikkhave, manoviññeyyā dhammā manoramāpi amanoramāpi.
Tyāssa phussa phussa cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhanti.
Cetaso apariyādānā āraddhaṁ hoti vīriyaṁ asallīnaṁ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā, passaddho kāyo asāraddho, samāhitaṁ cittaṁ ekaggaṁ.
Imaṁ khvāhaṁ, bhikkhave, appamādaphalaṁ sampassamāno tesaṁ bhikkhūnaṁ chasu phassāyatanesu appamādena karaṇīyanti vadāmī”ti.
Paṭhamaṁ.