Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Ví như, này các Tỷ-kheo, quả đất lớn này chỉ toàn một bãi nước và một người đến ném xuống đấy một khúc cây có một lỗ hổng. Rồi gió phương Ðông thổi nó trôi về phương Tây; gió phương Tây thổi nó trôi về phương Ðông; gió phương Bắc thổi nó trôi về phương Nam; gió phương Nam thổi nó trôi về phương Bắc. Tại đấy, một con rùa mù cứ mỗi trăm năm nổi lên một lần.
Vi-n 3 Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, con rùa mù ấy sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào trong khúc cây có một lỗ hổng không?
—Thật khó được vậy, bạch Thế Tôn, con rùa mù ấy, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào trong khúc cây có một lỗ hổng ấy!
Vi-n 4 —Thật khó được vậy, này các Tỷ-kheo, là được làm người! Thật khó được vậy, này các Tỷ-kheo, là Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Thật khó được vậy, này các Tỷ-kheo, là Pháp và Luật này do Như Lai thuyết giảng chiếu sáng trên đời.
Vi-n 5 Nhưng nay, này các Tỷ-kheo, các Ông đã được làm người, và Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác. Và Pháp và Luật được Như Lai thuyết giảng chói sáng ở đời.
Vi-n 6 Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm … (xem đoạn số 7, kinh trước).
“Seyyathāpi, bhikkhave, ayaṁ mahāpathavī ekodakā assa.
Tatra puriso ekacchiggaḷaṁ yugaṁ pakkhipeyya.
Tamenaṁ puratthimo vāto pacchimena saṁhareyya, pacchimo vāto puratthimena saṁhareyya, uttaro vāto dakkhiṇena saṁhareyya, dakkhiṇo vāto uttarena saṁhareyya.
Tatrassa kāṇo kacchapo. So vassasatassa vassasatassa accayena sakiṁ sakiṁ ummujjeyya.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu kho kāṇo kacchapo vassasatassa vassasatassa accayena sakiṁ sakiṁ ummujjanto amusmiṁ ekacchiggaḷe yuge gīvaṁ paveseyyā”ti?
“Adhiccamidaṁ, bhante, yaṁ so kāṇo kacchapo vassasatassa vassasatassa accayena sakiṁ sakiṁ ummujjanto amusmiṁ ekacchiggaḷe yuge gīvaṁ paveseyyā”ti.
“Evaṁ adhiccamidaṁ, bhikkhave, yaṁ manussattaṁ labhati.
Evaṁ adhiccamidaṁ, bhikkhave, yaṁ tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho.
Evaṁ adhiccamidaṁ, bhikkhave, yaṁ tathāgatappavedito dhammavinayo loke dibbati.
Tassidaṁ, bhikkhave, manussattaṁ laddhaṁ, tathāgato loke uppanno arahaṁ sammāsambuddho, tathāgatappavedito ca dhammavinayo loke dibbati.
Tasmātiha, bhikkhave, ‘idaṁ dukkhan’ti yogo karaṇīyo …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yogo karaṇīyo”ti.
Aṭṭhamaṁ.
SC 1“Bhikkhus, suppose that this great earth had become one mass of water, and a man would throw a yoke with a single hole upon it. An easterly wind would drive it westward; a westerly wind would drive it eastward; a northerly wind would drive it southward; a southerly wind would drive it northward. There was a blind turtle which would come to the surface once every hundred years. What do you think, bhikkhus, would that blind turtle, coming to the surface once every hundred years, sn.v.457 insert its neck into that yoke with a single hole?”
SC 2“It would be by chance, venerable sir, that that blind turtle, coming to the surface once every hundred years, would insert its neck into that yoke with a single hole.”
SC 3“So too, bhikkhus, it is by chance that one obtains the human state; by chance that a Tathagata, an Arahant, a Perfectly Enlightened One arises in the world; by chance that the Dhamma and Discipline proclaimed by the Tathagata shines in the world.
SC 4“You have obtained that human state, bhikkhus; a Tathagata, an Arahant, a Perfectly Enlightened One has arisen in the world; the Dhamma and Discipline proclaimed by the Tathagata shines in the world.
SC 5“Therefore, bhikkhus, an exertion should be made to understand: ‘This is suffering.’… An exertion should be made to understand: ‘This is the way leading to the cessation of suffering.’”
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Ví như, này các Tỷ-kheo, quả đất lớn này chỉ toàn một bãi nước và một người đến ném xuống đấy một khúc cây có một lỗ hổng. Rồi gió phương Ðông thổi nó trôi về phương Tây; gió phương Tây thổi nó trôi về phương Ðông; gió phương Bắc thổi nó trôi về phương Nam; gió phương Nam thổi nó trôi về phương Bắc. Tại đấy, một con rùa mù cứ mỗi trăm năm nổi lên một lần.
Vi-n 3 Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, con rùa mù ấy sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào trong khúc cây có một lỗ hổng không?
—Thật khó được vậy, bạch Thế Tôn, con rùa mù ấy, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào trong khúc cây có một lỗ hổng ấy!
Vi-n 4 —Thật khó được vậy, này các Tỷ-kheo, là được làm người! Thật khó được vậy, này các Tỷ-kheo, là Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Thật khó được vậy, này các Tỷ-kheo, là Pháp và Luật này do Như Lai thuyết giảng chiếu sáng trên đời.
Vi-n 5 Nhưng nay, này các Tỷ-kheo, các Ông đã được làm người, và Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác. Và Pháp và Luật được Như Lai thuyết giảng chói sáng ở đời.
Vi-n 6 Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm … (xem đoạn số 7, kinh trước).
“Seyyathāpi, bhikkhave, ayaṁ mahāpathavī ekodakā assa.
Tatra puriso ekacchiggaḷaṁ yugaṁ pakkhipeyya.
Tamenaṁ puratthimo vāto pacchimena saṁhareyya, pacchimo vāto puratthimena saṁhareyya, uttaro vāto dakkhiṇena saṁhareyya, dakkhiṇo vāto uttarena saṁhareyya.
Tatrassa kāṇo kacchapo. So vassasatassa vassasatassa accayena sakiṁ sakiṁ ummujjeyya.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu kho kāṇo kacchapo vassasatassa vassasatassa accayena sakiṁ sakiṁ ummujjanto amusmiṁ ekacchiggaḷe yuge gīvaṁ paveseyyā”ti?
“Adhiccamidaṁ, bhante, yaṁ so kāṇo kacchapo vassasatassa vassasatassa accayena sakiṁ sakiṁ ummujjanto amusmiṁ ekacchiggaḷe yuge gīvaṁ paveseyyā”ti.
“Evaṁ adhiccamidaṁ, bhikkhave, yaṁ manussattaṁ labhati.
Evaṁ adhiccamidaṁ, bhikkhave, yaṁ tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho.
Evaṁ adhiccamidaṁ, bhikkhave, yaṁ tathāgatappavedito dhammavinayo loke dibbati.
Tassidaṁ, bhikkhave, manussattaṁ laddhaṁ, tathāgato loke uppanno arahaṁ sammāsambuddho, tathāgatappavedito ca dhammavinayo loke dibbati.
Tasmātiha, bhikkhave, ‘idaṁ dukkhan’ti yogo karaṇīyo …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yogo karaṇīyo”ti.
Aṭṭhamaṁ.