Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Rājagaha, Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, trong bóng đêm tối, và trời đang mưa từng hột một.
Vi-n 3 Rồi Ác ma muốn khiến Thế Tôn sợ hãi, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, bèn biến thành con đại xà vương và đi đến Thế Tôn.
Vi-n 4 Thân của nó to lớn ví như một chiếc thuyền đẽo ra từ một thân cây. Cái mang của nó ví như cái khay đan của người nấu rượu. Mắt của nó ví như cái đĩa bằng đồng của nước Kosala; lưỡi của nó le ra từ miệng ví như mũi tên chớp sáng lòe khi trời mưa gió sấm sét; tiếng hơi thở vô, hơi thở ra của nó ví như bệ thổi của người thợ rèn.
Vi-n 5 Rồi Thế Tôn biết: “Ðây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ này với Ác ma:
Quý thay bậc Mâu-ni,
Sống trong nhà không tịch,
Biết chế ngự tự ngã,
Tại đấy vị ấy trú.
Sống từ bỏ tất cả,
Với hạnh tu tương xứng,
Nhiều loại thú bộ hành,
Nhiều sự vật khủng khiếp,
Nhiều ruồi muỗi độc xà,
Không mảy may rung động
Sợi lông bậc Mâu-ni
Sống trong nhà không tịch.
Dầu trời nứt, đất động,
Dầu muôn loài khủng bố,
Dầu bị giáo, đao, tên,
Quẳng ném vào ngực Ngài,
Chư Phật không tạo nên,
Những căn cứ sanh y .
Vi-n 6 Rồi Ác ma biết được: ” Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta”, liền biến mất tại chỗ.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Tena kho pana samayena bhagavā rattandhakāratimisāyaṁ abbhokāse nisinno hoti, devo ca ekamekaṁ phusāyati.
Atha kho māro pāpimā bhagavato bhayaṁ chambhitattaṁ lomahaṁsaṁ uppādetukāmo mahantaṁ sapparājavaṇṇaṁ abhinimminitvā yena bhagavā tenupasaṅkami.
Seyyathāpi nāma mahatī ekarukkhikā nāvā;
evamassa kāyo hoti.
Seyyathāpi nāma mahantaṁ soṇḍikākiḷañjaṁ;
evamassa phaṇo hoti.
Seyyathāpi nāma mahatī kosalikā kaṁsapāti;
evamassa akkhīni bhavanti.
Seyyathāpi nāma deve gaḷagaḷāyante vijjullatā niccharanti;
evamassa mukhato jivhā niccharati.
Seyyathāpi nāma kammāragaggariyā dhamamānāya saddo hoti;
evamassa assāsapassāsānaṁ saddo hoti.
Atha kho bhagavā “māro ayaṁ pāpimā” iti viditvā māraṁ pāpimantaṁ gāthāhi ajjhabhāsi:
“Yo suññagehāni sevati,
Seyyā so muni attasaññato;
Vossajja careyya tattha so,
Patirūpañhi tathāvidhassa taṁ.
Carakā bahū bheravā bahū,
Atho ḍaṁsasarīsapā bahū;
Lomampi na tattha iñjaye,
Suññāgāragato mahāmuni.
Nabhaṁ phaleyya pathavī caleyya,
Sabbepi pāṇā uda santaseyyuṁ;
Sallampi ce urasi pakappayeyyuṁ,
Upadhīsu tāṇaṁ na karonti buddhā”ti.
Atha kho māro pāpimā “jānāti maṁ bhagavā, jānāti maṁ sugato”ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.
SC 1Thus have I heard. On one occasion the Blessed One was dwelling at Rajagaha in the Bamboo Grove, the Squirrel Sanctuary. Now on that occasion the Blessed One was sitting out in the open in the thick darkness of the night while it was drizzling. Then Mara the Evil One … manifested himself in the form of a giant king serpent and approached the Blessed One. Its body was like a huge boat made from a single tree trunk; its hood, like a large brewer’s sieve; its eyes, like the large bronze dishes of Kosala; its tongue darting out from its mouth, like flashes of lightning emitted when the sky thunders; the sound of its breathing in and out, like the sound of a smith’s bellows filling with air.
SC 2Then the Blessed One, having understood, “This is Mara the Evil One,” addressed Mara the Evil One in verses:
SC 3 “He who resorts to empty huts for lodging—
He is the sage, self-controlled.
He should live there, having relinquished all:
That is proper for one like him.
SC 4 “Though many creatures crawl about,
Many terrors, flies, serpents, sn.i.107
The great sage gone to his empty hut
Stirs not a hair because of them.
SC 5 “Though the sky might split, the earth quake,
And all creatures be stricken with terror,
Though men brandish a dart at their breast,
The enlightened take no shelter in acquisitions.”
Then Mara the Evil One … disappeared right there.
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Rājagaha, Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, trong bóng đêm tối, và trời đang mưa từng hột một.
Vi-n 3 Rồi Ác ma muốn khiến Thế Tôn sợ hãi, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, bèn biến thành con đại xà vương và đi đến Thế Tôn.
Vi-n 4 Thân của nó to lớn ví như một chiếc thuyền đẽo ra từ một thân cây. Cái mang của nó ví như cái khay đan của người nấu rượu. Mắt của nó ví như cái đĩa bằng đồng của nước Kosala; lưỡi của nó le ra từ miệng ví như mũi tên chớp sáng lòe khi trời mưa gió sấm sét; tiếng hơi thở vô, hơi thở ra của nó ví như bệ thổi của người thợ rèn.
Vi-n 5 Rồi Thế Tôn biết: “Ðây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ này với Ác ma:
Quý thay bậc Mâu-ni,
Sống trong nhà không tịch,
Biết chế ngự tự ngã,
Tại đấy vị ấy trú.
Sống từ bỏ tất cả,
Với hạnh tu tương xứng,
Nhiều loại thú bộ hành,
Nhiều sự vật khủng khiếp,
Nhiều ruồi muỗi độc xà,
Không mảy may rung động
Sợi lông bậc Mâu-ni
Sống trong nhà không tịch.
Dầu trời nứt, đất động,
Dầu muôn loài khủng bố,
Dầu bị giáo, đao, tên,
Quẳng ném vào ngực Ngài,
Chư Phật không tạo nên,
Những căn cứ sanh y .
Vi-n 6 Rồi Ác ma biết được: ” Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta”, liền biến mất tại chỗ.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Tena kho pana samayena bhagavā rattandhakāratimisāyaṁ abbhokāse nisinno hoti, devo ca ekamekaṁ phusāyati.
Atha kho māro pāpimā bhagavato bhayaṁ chambhitattaṁ lomahaṁsaṁ uppādetukāmo mahantaṁ sapparājavaṇṇaṁ abhinimminitvā yena bhagavā tenupasaṅkami.
Seyyathāpi nāma mahatī ekarukkhikā nāvā;
evamassa kāyo hoti.
Seyyathāpi nāma mahantaṁ soṇḍikākiḷañjaṁ;
evamassa phaṇo hoti.
Seyyathāpi nāma mahatī kosalikā kaṁsapāti;
evamassa akkhīni bhavanti.
Seyyathāpi nāma deve gaḷagaḷāyante vijjullatā niccharanti;
evamassa mukhato jivhā niccharati.
Seyyathāpi nāma kammāragaggariyā dhamamānāya saddo hoti;
evamassa assāsapassāsānaṁ saddo hoti.
Atha kho bhagavā “māro ayaṁ pāpimā” iti viditvā māraṁ pāpimantaṁ gāthāhi ajjhabhāsi:
“Yo suññagehāni sevati,
Seyyā so muni attasaññato;
Vossajja careyya tattha so,
Patirūpañhi tathāvidhassa taṁ.
Carakā bahū bheravā bahū,
Atho ḍaṁsasarīsapā bahū;
Lomampi na tattha iñjaye,
Suññāgāragato mahāmuni.
Nabhaṁ phaleyya pathavī caleyya,
Sabbepi pāṇā uda santaseyyuṁ;
Sallampi ce urasi pakappayeyyuṁ,
Upadhīsu tāṇaṁ na karonti buddhā”ti.
Atha kho māro pāpimā “jānāti maṁ bhagavā, jānāti maṁ sugato”ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.