Vi-n 1 Một thời, Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahākoṭṭhita trú ở Bārāṇasī (Ba-la-nại), tại Isipatana (chư Tiên đọa xứ) ở Migadāya (rừng nai).
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Mahākoṭṭhita, vào buổi chiều từ chỗ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sāriputta những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, bèn ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahākoṭṭhita nói với Tôn giả Sāriputta:
—Này Hiền giả Sāriputta, già chết do tự mình tạo ra, già chết do người khác tạo ra, già chết do tự mình và do người khác tạo ra, hay già chết không do tự mình tạo ra, không do người khác tạo ra, do tự nhiên sanh?
Vi-n 4 —Này Hiền giả Koṭṭhita, già chết không do tự mình tạo ra, già chết không do người khác tạo ra, già chết không do tự mình tạo ra và người khác tạo ra, già chết cũng không phải không do tự mình tạo ra, không do người khác tạo ra, không do tự nhiên sanh. Già chết do duyên sanh.
Vi-n 5 —Này Hiền giả Sāriputta, có phải sanh do tự mình làm ra, sanh do người khác làm ra, sanh do tự mình làm ra và do người khác làm ra, hay sanh không do tự mình làm ra và không do người khác làm ra, do tự nhiên sanh?
Vi-n 6 —Này Hiền giả Koṭṭhita, sanh không do tự mình làm ra, sanh không do người khác làm ra, sanh không do tự mình làm ra và người khác làm ra, hay sanh cũng không phải không do tự mình làm ra và không phải không do người khác làm ra, cũng không do tự nhiên sanh. Sanh do duyên hữu.
Vi-n 7-18 —Này Hiền giả Sāriputta, hữu có phải do tự mình làm ra… thủ có phải do tự mình làm ra… ái có phải do tự mình làm ra… thọ có phải do tự mình làm ra… xúc có phải do tự mình làm ra… sáu xứ có phải do tự mình làm ra…
Vi-n 19 … Danh sắc có phải do tự mình làm ra, danh sắc có phải do người khác làm ra, danh sắc có phải do tự mình làm ra và do người khác làm ra, hay danh sắc có phải không do tự mình làm ra và không do người khác làm ra, do tự nhiên sanh?
Vi-n 20 —Này Hiền giả Koṭṭhita, danh sắc không phải do tự mình làm ra, danh sắc không phải do người khác làm ra, danh sắc không phải do tự mình làm ra và do người khác làm ra, hay danh sắc cũng không phải không do tự mình làm ra và không phải không do người khác làm ra, không do tự nhiên sanh. Danh sắc do duyên thức.
Vi-n 21 —Này Hiền giả Sāriputta, có phải thức do tự mình làm ra, thức do người khác làm ra, thức do tự mình làm ra và do người khác làm ra, hay có phải thức không do tự mình làm ra và không do người khác làm ra, do tự nhiên sanh?
Vi-n 22 —Này Hiền giả Koṭṭhita, thức không do tự mình làm ra, thức không do người khác làm ra, thức không do tự mình làm ra và không do người khác làm ra, hay thức cũng không phải không do tự mình làm ra và không phải không do người khác làm ra, không do tự nhiên sanh. Thức do duyên danh sắc.
Vi-n 23 —Nay chúng tôi hiểu lời nói của Hiền giả Sāriputta như sau: “Này Hiền giả Koṭṭhita, danh sắc không do tự mình làm ra, danh sắc không do người khác làm ra, danh sắc không do tự mình làm ra và không do người khác làm ra, danh sắc cũng không phải không do tự mình làm ra và không phải không do người khác làm ra, không do tự nhiên sanh. Danh sắc do duyên thức”.
Vi-n 24 Và nay chúng tôi hiểu lời nói của Hiền giả Sāriputta như sau: “Này Hiền giả Koṭṭhita, thức không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, không do tự mình làm ra và người khác làm ra, cũng không phải không do tự mình làm ra và không phải không do người khác làm ra, không do tự nhiên sanh. Thức do duyên danh sắc”.
Vi-n 25 Này Hiền giả Sāriputta, cần phải hiểu như thế nào ý nghĩa lời nói này?
—Vậy này Hiền giả, tôi sẽ nêu một ví dụ. Nhờ có ví dụ, người có trí hiểu được ý nghĩa lời nói.
Vi-n 26 Ví như hai bó lau dựa vào nhau mà đứng. Cũng vậy, này Hiền giả, do duyên danh sắc, thức sanh khởi. Do duyên thức, danh sắc sanh khởi. Do duyên danh sắc, sáu xứ sanh khởi. Do duyên sáu xứ, xúc sanh khởi… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Này Hiền giả, nếu một bó lau được kéo qua một bên, bó lau kia liền rơi xuống. Nếu bó lau kia được kéo qua một bên, bó lau này được rơi xuống. Cũng vậy, này Hiền giả, do danh sắc diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt… (như trên)… như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
Vi-n 27 —Thật vi diệu thay, Hiền giả Sāriputta! Thật hy hữu thay, Hiền giả Sāriputta! Lời nói khéo nói này của Hiền giả Sāriputta và lời nói với ba mươi sáu sự này của Hiền giả Sāriputta, chúng tôi xin tùy hỷ.
Vi-n 28 —Này Hiền giả, nếu một Tỷ-kheo thuyết pháp để nhàm chán, ly tham, đoạn diệt già chết, thời đủ để được gọi là vị Tỷ-kheo thuyết pháp. Này Hiền giả, nếu một Tỷ-kheo thực hành để nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, già chết, thời đủ để được gọi là Tỷ-kheo tùy pháp hành. Này Hiền giả, nếu một Tỷ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, vô minh được giải thoát, không có chấp thủ, thời đủ để được gọi vị Tỷ-kheo đã đạt được hiện tại Niết-bàn.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā ca sāriputto āyasmā ca mahākoṭṭhiko bārāṇasiyaṁ viharanti isipatane migadāye.
Atha kho āyasmā mahākoṭṭhiko sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā mahākoṭṭhiko āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, sayaṅkataṁ jarāmaraṇaṁ, paraṅkataṁ jarāmaraṇaṁ, sayaṅkatañca paraṅkatañca jarāmaraṇaṁ, udāhu asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ jarāmaraṇan”ti?
“Na kho, āvuso koṭṭhika, sayaṅkataṁ jarāmaraṇaṁ, na paraṅkataṁ jarāmaraṇaṁ, na sayaṅkatañca paraṅkatañca jarāmaraṇaṁ, nāpi asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ jarāmaraṇaṁ.
Api ca jātipaccayā jarāmaraṇan”ti.
“Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, sayaṅkatā jāti, paraṅkatā jāti, sayaṅkatā ca paraṅkatā ca jāti, udāhu asayaṅkārā aparaṅkārā adhiccasamuppannā jātī”ti?
“Na kho, āvuso koṭṭhika, sayaṅkatā jāti, na paraṅkatā jāti, na sayaṅkatā ca paraṅkatā ca jāti, nāpi asayaṅkārā aparaṅkārā adhiccasamuppannā jāti.
Api ca bhavapaccayā jātī”ti.
“Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, sayaṅkato bhavo …pe…
sayaṅkataṁ upādānaṁ …
sayaṅkatā taṇhā …
sayaṅkatā vedanā …
sayaṅkato phasso …
sayaṅkataṁ saḷāyatanaṁ …
sayaṅkataṁ nāmarūpaṁ, paraṅkataṁ nāmarūpaṁ, sayaṅkatañca paraṅkatañca nāmarūpaṁ, udāhu asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ nāmarūpan”ti?
“Na kho, āvuso koṭṭhika, sayaṅkataṁ nāmarūpaṁ, na paraṅkataṁ nāmarūpaṁ, na sayaṅkatañca paraṅkatañca nāmarūpaṁ, nāpi asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ, adhiccasamuppannaṁ nāmarūpaṁ.
Api ca viññāṇapaccayā nāmarūpan”ti.
“Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, sayaṅkataṁ viññāṇaṁ, paraṅkataṁ viññāṇaṁ, sayaṅkatañca paraṅkatañca viññāṇaṁ, udāhu asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ viññāṇan”ti?
“Na kho, āvuso koṭṭhika, sayaṅkataṁ viññāṇaṁ, na paraṅkataṁ viññāṇaṁ, na sayaṅkatañca paraṅkatañca viññāṇaṁ, nāpi asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ viññāṇaṁ.
Api ca nāmarūpapaccayā viññāṇan”ti.
“Idāneva kho mayaṁ āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ evaṁ ājānāma:
‘na khvāvuso koṭṭhika, sayaṅkataṁ nāmarūpaṁ, na paraṅkataṁ nāmarūpaṁ, na sayaṅkatañca paraṅkatañca nāmarūpaṁ, nāpi asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ nāmarūpaṁ.
Api ca viññāṇapaccayā nāmarūpan’ti.
Idāneva ca pana mayaṁ āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ evaṁ ājānāma:
‘na khvāvuso koṭṭhika, sayaṅkataṁ viññāṇaṁ, na paraṅkataṁ viññāṇaṁ, na sayaṅkatañca paraṅkatañca viññāṇaṁ, nāpi asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ viññāṇaṁ.
Api ca nāmarūpapaccayā viññāṇan’ti.
Yathā kathaṁ panāvuso sāriputta, imassa bhāsitassa attho daṭṭhabbo”ti?
“Tenahāvuso, upamaṁ te karissāmi.
Upamāyapidhekacce viññū purisā bhāsitassa atthaṁ jānanti.
Seyyathāpi, āvuso, dve naḷakalāpiyo aññamaññaṁ nissāya tiṭṭheyyuṁ.
Evameva kho, āvuso, nāmarūpapaccayā viññāṇaṁ;
viññāṇapaccayā nāmarūpaṁ;
nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṁ;
saḷāyatanapaccayā phasso …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
Tāsañce, āvuso, naḷakalāpīnaṁ ekaṁ ākaḍḍheyya, ekā papateyya;
aparañce ākaḍḍheyya, aparā papateyya.
Evameva kho, āvuso, nāmarūpanirodhā viññāṇanirodho;
viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho;
nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho;
saḷāyatananirodhā phassanirodho …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī”ti.
“Acchariyaṁ, āvuso sāriputta;
abbhutaṁ, āvuso sāriputta.
Yāvasubhāsitañcidaṁ āyasmatā sāriputtena.
Idañca pana mayaṁ āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ imehi chattiṁsāya vatthūhi anumodāma:
‘Jarāmaraṇassa ce, āvuso, bhikkhu nibbidāya virāgāya nirodhāya dhammaṁ deseti, dhammakathiko bhikkhūti alaṁvacanāya.
Jarāmaraṇassa ce, āvuso, bhikkhu nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti, dhammānudhammappaṭipanno bhikkhūti alaṁvacanāya.
Jarāmaraṇassa ce, āvuso, bhikkhu nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimutto hoti, diṭṭhadhammanibbānappatto bhikkhūti alaṁvacanāya.
Jātiyā ce …
bhavassa ce …
upādānassa ce …
taṇhāya ce …
vedanāya ce …
phassassa ce …
saḷāyatanassa ce …
nāmarūpassa ce …
viññāṇassa ce …
saṅkhārānañce …
avijjāya ce, āvuso, bhikkhu nibbidāya virāgāya nirodhāya dhammaṁ deseti, dhammakathiko bhikkhūti alaṁvacanāya.
Avijjāya ce, āvuso, bhikkhu nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti, dhammānudhammappaṭipanno bhikkhūti alaṁvacanāya.
Avijjāya ce, āvuso, bhikkhu nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimutto hoti, diṭṭhadhammanibbānappatto bhikkhūti alaṁvacanāyā’”ti.
Sattamaṁ.
SC 1On one occasion the Venerable Sāriputta and the Venerable Mahakoṭṭhita were dwelling at Baraṇasī in the Deer Park at Isipatana. Then, in the evening, the Venerable Mahakoṭṭhita emerged from seclusion and approached the Venerable Sāriputta. He exchanged greetings with the Venerable Sāriputta and, when they had concluded their greetings and cordial talk, he sat down to one side and said to him:
SC 2“How is it, friend Sāriputta: Is aging-and-death created by oneself, or is it created by another, sn.ii.113 or is it created both by oneself and by another, or has it arisen fortuitously, being created neither by oneself nor by another?”
SC 3“Friend Koṭṭhita, aging-and-death is not created by oneself, nor is it created by another, nor is it created both by oneself and by another, nor has it arisen fortuitously, being created neither by oneself nor by another. But rather, with birth as condition, aging-and-death comes to be.”
SC 4“How is it, friend Sāriputta: Is birth created by oneself … Is existence … clinging … craving … feeling … contact … the six sense bases … name-and-form created by oneself, or is it created by another, or is it created both by oneself and by another, or has it arisen fortuitously, being created neither by oneself nor by another?”
SC 5“Name-and-form, friend Koṭṭhita, is not created by oneself, nor is it created by another, nor is it created both by oneself and by another, nor has it arisen fortuitously, being created neither by oneself nor by another; but rather, with consciousness as condition, name-and-form comes to be.”
SC 6“How is it, friend Sāriputta: Is consciousness created by oneself, or is it created by another, or is it created both by oneself and by another, or has it arisen fortuitously, being created neither by oneself nor by another?”
SC 7“Consciousness, friend Koṭṭhita, is not created by oneself, nor is it created by another, nor is it created both by oneself and by another, nor has it arisen fortuitously, being created neither by oneself nor by another; but rather, with name-and-form as condition, consciousness comes to be.” sn.ii.114
SC 8“Now we understand the Venerable Sāriputta’s statement thus: ‘Name-and-form, friend Koṭṭhita, is not created by oneself … but rather, with consciousness as condition, name-and-form comes to be.’ Now we also understand the Venerable Sāriputta’s other statement thus: ‘Consciousness, friend Koṭṭhita, is not created by oneself … but rather, with name-and-form as condition, consciousness comes to be.’ But how, friend Sāriputta, should the meaning of this statement be seen?”
SC 9“Well then, friend, I will make up a simile for you, for some intelligent people here understand the meaning of a statement by means of a simile. Just as two sheaves of reeds might stand leaning against each other, so too, with name-and-form as condition, consciousness comes to be; with consciousness as condition, name-and-form comes to be. With name-and-form as condition, the six sense bases come to be; with the six sense bases as condition, contact…. Such is the origin of this whole mass of suffering.
SC 10“If, friend, one were to remove one of those sheaves of reeds, the other would fall, and if one were to remove the other sheaf, the first would fall. So too, with the cessation of name-and-form comes cessation of consciousness; with the cessation of consciousness comes cessation of name-and-form. With the cessation of name-and-form comes cessation of the six sense bases; with the cessation of the six sense bases, cessation of contact…. Such is the cessation of this whole mass of suffering.”
SC 11“It is wonderful, friend Sāriputta! It is amazing, friend Sāriputta! How well this has been stated by the Venerable Sāriputta. We rejoice in the Venerable Sāriputta’s statement on these thirty-six grounds: If, friend, a bhikkhu teaches the Dhamma for the purpose of revulsion towards aging-and-death, for its fading away and cessation, he can be called a bhikkhu who is a speaker on the Dhamma. sn.ii.115 If a bhikkhu is practising for the purpose of revulsion towards aging-and-death, for its fading away and cessation, he can be called a bhikkhu who is practising in accordance with the Dhamma. If through revulsion towards aging-and-death, through its fading away and cessation, a bhikkhu is liberated by nonclinging, he can be called a bhikkhu who has attained Nibbāna in this very life.
SC 12“If, friend, a bhikkhu teaches the Dhamma for the purpose of revulsion towards birth … existence … clinging … craving … feeling … contact … the six sense bases … name-and-form … consciousness … volitional formations … ignorance, for its fading away and cessation, he can be called a bhikkhu who is a speaker on the Dhamma. If a bhikkhu is practising for the purpose of revulsion towards ignorance, for its fading away and cessation, he can be called a bhikkhu who is practising in accordance with the Dhamma. If through revulsion towards ignorance, through its fading away and cessation, a bhikkhu is liberated by nonclinging, he can be called a bhikkhu who has attained Nibbāna in this very life.”
Vi-n 1 Một thời, Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahākoṭṭhita trú ở Bārāṇasī (Ba-la-nại), tại Isipatana (chư Tiên đọa xứ) ở Migadāya (rừng nai).
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Mahākoṭṭhita, vào buổi chiều từ chỗ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sāriputta những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, bèn ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahākoṭṭhita nói với Tôn giả Sāriputta:
—Này Hiền giả Sāriputta, già chết do tự mình tạo ra, già chết do người khác tạo ra, già chết do tự mình và do người khác tạo ra, hay già chết không do tự mình tạo ra, không do người khác tạo ra, do tự nhiên sanh?
Vi-n 4 —Này Hiền giả Koṭṭhita, già chết không do tự mình tạo ra, già chết không do người khác tạo ra, già chết không do tự mình tạo ra và người khác tạo ra, già chết cũng không phải không do tự mình tạo ra, không do người khác tạo ra, không do tự nhiên sanh. Già chết do duyên sanh.
Vi-n 5 —Này Hiền giả Sāriputta, có phải sanh do tự mình làm ra, sanh do người khác làm ra, sanh do tự mình làm ra và do người khác làm ra, hay sanh không do tự mình làm ra và không do người khác làm ra, do tự nhiên sanh?
Vi-n 6 —Này Hiền giả Koṭṭhita, sanh không do tự mình làm ra, sanh không do người khác làm ra, sanh không do tự mình làm ra và người khác làm ra, hay sanh cũng không phải không do tự mình làm ra và không phải không do người khác làm ra, cũng không do tự nhiên sanh. Sanh do duyên hữu.
Vi-n 7-18 —Này Hiền giả Sāriputta, hữu có phải do tự mình làm ra… thủ có phải do tự mình làm ra… ái có phải do tự mình làm ra… thọ có phải do tự mình làm ra… xúc có phải do tự mình làm ra… sáu xứ có phải do tự mình làm ra…
Vi-n 19 … Danh sắc có phải do tự mình làm ra, danh sắc có phải do người khác làm ra, danh sắc có phải do tự mình làm ra và do người khác làm ra, hay danh sắc có phải không do tự mình làm ra và không do người khác làm ra, do tự nhiên sanh?
Vi-n 20 —Này Hiền giả Koṭṭhita, danh sắc không phải do tự mình làm ra, danh sắc không phải do người khác làm ra, danh sắc không phải do tự mình làm ra và do người khác làm ra, hay danh sắc cũng không phải không do tự mình làm ra và không phải không do người khác làm ra, không do tự nhiên sanh. Danh sắc do duyên thức.
Vi-n 21 —Này Hiền giả Sāriputta, có phải thức do tự mình làm ra, thức do người khác làm ra, thức do tự mình làm ra và do người khác làm ra, hay có phải thức không do tự mình làm ra và không do người khác làm ra, do tự nhiên sanh?
Vi-n 22 —Này Hiền giả Koṭṭhita, thức không do tự mình làm ra, thức không do người khác làm ra, thức không do tự mình làm ra và không do người khác làm ra, hay thức cũng không phải không do tự mình làm ra và không phải không do người khác làm ra, không do tự nhiên sanh. Thức do duyên danh sắc.
Vi-n 23 —Nay chúng tôi hiểu lời nói của Hiền giả Sāriputta như sau: “Này Hiền giả Koṭṭhita, danh sắc không do tự mình làm ra, danh sắc không do người khác làm ra, danh sắc không do tự mình làm ra và không do người khác làm ra, danh sắc cũng không phải không do tự mình làm ra và không phải không do người khác làm ra, không do tự nhiên sanh. Danh sắc do duyên thức”.
Vi-n 24 Và nay chúng tôi hiểu lời nói của Hiền giả Sāriputta như sau: “Này Hiền giả Koṭṭhita, thức không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, không do tự mình làm ra và người khác làm ra, cũng không phải không do tự mình làm ra và không phải không do người khác làm ra, không do tự nhiên sanh. Thức do duyên danh sắc”.
Vi-n 25 Này Hiền giả Sāriputta, cần phải hiểu như thế nào ý nghĩa lời nói này?
—Vậy này Hiền giả, tôi sẽ nêu một ví dụ. Nhờ có ví dụ, người có trí hiểu được ý nghĩa lời nói.
Vi-n 26 Ví như hai bó lau dựa vào nhau mà đứng. Cũng vậy, này Hiền giả, do duyên danh sắc, thức sanh khởi. Do duyên thức, danh sắc sanh khởi. Do duyên danh sắc, sáu xứ sanh khởi. Do duyên sáu xứ, xúc sanh khởi… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Này Hiền giả, nếu một bó lau được kéo qua một bên, bó lau kia liền rơi xuống. Nếu bó lau kia được kéo qua một bên, bó lau này được rơi xuống. Cũng vậy, này Hiền giả, do danh sắc diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt… (như trên)… như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
Vi-n 27 —Thật vi diệu thay, Hiền giả Sāriputta! Thật hy hữu thay, Hiền giả Sāriputta! Lời nói khéo nói này của Hiền giả Sāriputta và lời nói với ba mươi sáu sự này của Hiền giả Sāriputta, chúng tôi xin tùy hỷ.
Vi-n 28 —Này Hiền giả, nếu một Tỷ-kheo thuyết pháp để nhàm chán, ly tham, đoạn diệt già chết, thời đủ để được gọi là vị Tỷ-kheo thuyết pháp. Này Hiền giả, nếu một Tỷ-kheo thực hành để nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, già chết, thời đủ để được gọi là Tỷ-kheo tùy pháp hành. Này Hiền giả, nếu một Tỷ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, vô minh được giải thoát, không có chấp thủ, thời đủ để được gọi vị Tỷ-kheo đã đạt được hiện tại Niết-bàn.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā ca sāriputto āyasmā ca mahākoṭṭhiko bārāṇasiyaṁ viharanti isipatane migadāye.
Atha kho āyasmā mahākoṭṭhiko sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā mahākoṭṭhiko āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, sayaṅkataṁ jarāmaraṇaṁ, paraṅkataṁ jarāmaraṇaṁ, sayaṅkatañca paraṅkatañca jarāmaraṇaṁ, udāhu asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ jarāmaraṇan”ti?
“Na kho, āvuso koṭṭhika, sayaṅkataṁ jarāmaraṇaṁ, na paraṅkataṁ jarāmaraṇaṁ, na sayaṅkatañca paraṅkatañca jarāmaraṇaṁ, nāpi asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ jarāmaraṇaṁ.
Api ca jātipaccayā jarāmaraṇan”ti.
“Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, sayaṅkatā jāti, paraṅkatā jāti, sayaṅkatā ca paraṅkatā ca jāti, udāhu asayaṅkārā aparaṅkārā adhiccasamuppannā jātī”ti?
“Na kho, āvuso koṭṭhika, sayaṅkatā jāti, na paraṅkatā jāti, na sayaṅkatā ca paraṅkatā ca jāti, nāpi asayaṅkārā aparaṅkārā adhiccasamuppannā jāti.
Api ca bhavapaccayā jātī”ti.
“Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, sayaṅkato bhavo …pe…
sayaṅkataṁ upādānaṁ …
sayaṅkatā taṇhā …
sayaṅkatā vedanā …
sayaṅkato phasso …
sayaṅkataṁ saḷāyatanaṁ …
sayaṅkataṁ nāmarūpaṁ, paraṅkataṁ nāmarūpaṁ, sayaṅkatañca paraṅkatañca nāmarūpaṁ, udāhu asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ nāmarūpan”ti?
“Na kho, āvuso koṭṭhika, sayaṅkataṁ nāmarūpaṁ, na paraṅkataṁ nāmarūpaṁ, na sayaṅkatañca paraṅkatañca nāmarūpaṁ, nāpi asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ, adhiccasamuppannaṁ nāmarūpaṁ.
Api ca viññāṇapaccayā nāmarūpan”ti.
“Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, sayaṅkataṁ viññāṇaṁ, paraṅkataṁ viññāṇaṁ, sayaṅkatañca paraṅkatañca viññāṇaṁ, udāhu asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ viññāṇan”ti?
“Na kho, āvuso koṭṭhika, sayaṅkataṁ viññāṇaṁ, na paraṅkataṁ viññāṇaṁ, na sayaṅkatañca paraṅkatañca viññāṇaṁ, nāpi asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ viññāṇaṁ.
Api ca nāmarūpapaccayā viññāṇan”ti.
“Idāneva kho mayaṁ āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ evaṁ ājānāma:
‘na khvāvuso koṭṭhika, sayaṅkataṁ nāmarūpaṁ, na paraṅkataṁ nāmarūpaṁ, na sayaṅkatañca paraṅkatañca nāmarūpaṁ, nāpi asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ nāmarūpaṁ.
Api ca viññāṇapaccayā nāmarūpan’ti.
Idāneva ca pana mayaṁ āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ evaṁ ājānāma:
‘na khvāvuso koṭṭhika, sayaṅkataṁ viññāṇaṁ, na paraṅkataṁ viññāṇaṁ, na sayaṅkatañca paraṅkatañca viññāṇaṁ, nāpi asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ viññāṇaṁ.
Api ca nāmarūpapaccayā viññāṇan’ti.
Yathā kathaṁ panāvuso sāriputta, imassa bhāsitassa attho daṭṭhabbo”ti?
“Tenahāvuso, upamaṁ te karissāmi.
Upamāyapidhekacce viññū purisā bhāsitassa atthaṁ jānanti.
Seyyathāpi, āvuso, dve naḷakalāpiyo aññamaññaṁ nissāya tiṭṭheyyuṁ.
Evameva kho, āvuso, nāmarūpapaccayā viññāṇaṁ;
viññāṇapaccayā nāmarūpaṁ;
nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṁ;
saḷāyatanapaccayā phasso …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
Tāsañce, āvuso, naḷakalāpīnaṁ ekaṁ ākaḍḍheyya, ekā papateyya;
aparañce ākaḍḍheyya, aparā papateyya.
Evameva kho, āvuso, nāmarūpanirodhā viññāṇanirodho;
viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho;
nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho;
saḷāyatananirodhā phassanirodho …pe…
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī”ti.
“Acchariyaṁ, āvuso sāriputta;
abbhutaṁ, āvuso sāriputta.
Yāvasubhāsitañcidaṁ āyasmatā sāriputtena.
Idañca pana mayaṁ āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ imehi chattiṁsāya vatthūhi anumodāma:
‘Jarāmaraṇassa ce, āvuso, bhikkhu nibbidāya virāgāya nirodhāya dhammaṁ deseti, dhammakathiko bhikkhūti alaṁvacanāya.
Jarāmaraṇassa ce, āvuso, bhikkhu nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti, dhammānudhammappaṭipanno bhikkhūti alaṁvacanāya.
Jarāmaraṇassa ce, āvuso, bhikkhu nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimutto hoti, diṭṭhadhammanibbānappatto bhikkhūti alaṁvacanāya.
Jātiyā ce …
bhavassa ce …
upādānassa ce …
taṇhāya ce …
vedanāya ce …
phassassa ce …
saḷāyatanassa ce …
nāmarūpassa ce …
viññāṇassa ce …
saṅkhārānañce …
avijjāya ce, āvuso, bhikkhu nibbidāya virāgāya nirodhāya dhammaṁ deseti, dhammakathiko bhikkhūti alaṁvacanāya.
Avijjāya ce, āvuso, bhikkhu nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti, dhammānudhammappaṭipanno bhikkhūti alaṁvacanāya.
Avijjāya ce, āvuso, bhikkhu nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimutto hoti, diṭṭhadhammanibbānappatto bhikkhūti alaṁvacanāyā’”ti.
Sattamaṁ.