Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Ràjàgaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại núi Gujjhakuuta (Linh Thứu), sau khi Devadatta (Ðề-bà-đạt-đa) bỏ đi không bao lâu.
Vi-n 2 Rồi Thế Tôn nhân vì Devadatta, bảo các Tỷ-kheo:
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến tự hại cho Devadatta. Lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến diệt vong cho Devadatta.
Vi-n 4 Ví như cây chuối, này các Tỷ-kheo, sanh quả đưa đến tự hại, sanh quả đưa đến diệt vong. Cũng như vậy, này các Tỷ-kheo, lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến tự hại cho Devadatta. Lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến diệt vong cho Devadatta.
Vi-n 5 Ví như cây tre, này các Tỷ-kheo, sanh quả đưa đến tự hại, sanh quả đưa đến diệt vong. Cũng như vậy, này các Tỷ-kheo, lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến tự hại cho Devadatta. Lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến diệt vong cho Devadatta.
Vi-n 6 Ví như cây lau, này các Tỷ-kheo, sanh quả đưa đến tự hại, sanh quả đưa đến diệt vong. Cũng như vậy, này các Tỷ-kheo, lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến tự hại cho Devadatta. Lợi đắc cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến diệt vong cho Devadatta.
Vi-n 7 Ví như con lừa có thai đưa đến tự hại, có thai đưa đến diệt vong. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến tự hại cho Devadatta. Lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến diệt vong cho Devadatta.
Vi-n 8 Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng …
Vi-n 9 Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Vi-n 10 Thế Tôn nói như vậy, Thiện Thệ nói vậy xong, bậc Ðạo Sư nói như sau:
Như cây chuối sanh quả,
Sanh quả đem tự hại,
Cũng vậy, quả cây tre,
Cũng vậy, quả cây lau,
Cũng vậy với kẻ ngu,
Cung kính đem tự hại,
Như con lừa mang thai,
Mang thai đem tự hại.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate acirapakkante devadatte.
Tatra kho bhagavā devadattaṁ ārabbha bhikkhū āmantesi:
“attavadhāya, bhikkhave, devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi, parābhavāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi.
Seyyathāpi, bhikkhave, kadalī attavadhāya phalaṁ deti, parābhavāya phalaṁ deti;
evameva kho, bhikkhave, attavadhāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi, parābhavāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi.
Seyyathāpi, bhikkhave, veḷu attavadhāya phalaṁ deti, parābhavāya phalaṁ deti;
evameva kho, bhikkhave, attavadhāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi, parābhavāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi.
Seyyathāpi, bhikkhave, naḷo attavadhāya phalaṁ deti, parābhavāya phalaṁ deti;
evameva kho, bhikkhave, attavadhāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi, parābhavāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi.
Seyyathāpi, bhikkhave, assatarī attavadhāya gabbhaṁ gaṇhāti, parābhavāya gabbhaṁ gaṇhāti;
evameva kho, bhikkhave, attavadhāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi, parābhavāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi.
Evaṁ dāruṇo kho, bhikkhave, lābhasakkārasiloko.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Phalaṁ ve kadaliṁ hanti,
phalaṁ veḷuṁ phalaṁ naḷaṁ;
Sakkāro kāpurisaṁ hanti,
gabbho assatariṁ yathā”ti.
Pañcamaṁ.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, on the Vulture’s Peak Mountain, not long after Devadatta had left.
There the Buddha spoke to the mendicants about Devadatta:
“Possessions, honor, and popularity came to Devadatta for his own ruin and downfall.
It’s like a banana plant …
or a bamboo …
or a reed, all of which bear fruit to their own ruin and downfall …
It’s like a mule, which becomes pregnant to its own ruin and downfall.
In the same way, possessions, honor, and popularity came to Devadatta for his own ruin and downfall.
So grim are possessions, honor, and popularity.
That’s how you should train.”
That is what the Buddha said.
Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
“The banana plant is destroyed by its own fruit,
as are the bamboo and the reed.
Honor destroys a reprobate,
as pregnancy destroys a mule.”
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Ràjàgaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại núi Gujjhakuuta (Linh Thứu), sau khi Devadatta (Ðề-bà-đạt-đa) bỏ đi không bao lâu.
Vi-n 2 Rồi Thế Tôn nhân vì Devadatta, bảo các Tỷ-kheo:
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến tự hại cho Devadatta. Lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến diệt vong cho Devadatta.
Vi-n 4 Ví như cây chuối, này các Tỷ-kheo, sanh quả đưa đến tự hại, sanh quả đưa đến diệt vong. Cũng như vậy, này các Tỷ-kheo, lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến tự hại cho Devadatta. Lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến diệt vong cho Devadatta.
Vi-n 5 Ví như cây tre, này các Tỷ-kheo, sanh quả đưa đến tự hại, sanh quả đưa đến diệt vong. Cũng như vậy, này các Tỷ-kheo, lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến tự hại cho Devadatta. Lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến diệt vong cho Devadatta.
Vi-n 6 Ví như cây lau, này các Tỷ-kheo, sanh quả đưa đến tự hại, sanh quả đưa đến diệt vong. Cũng như vậy, này các Tỷ-kheo, lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến tự hại cho Devadatta. Lợi đắc cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến diệt vong cho Devadatta.
Vi-n 7 Ví như con lừa có thai đưa đến tự hại, có thai đưa đến diệt vong. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến tự hại cho Devadatta. Lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến diệt vong cho Devadatta.
Vi-n 8 Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng …
Vi-n 9 Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Vi-n 10 Thế Tôn nói như vậy, Thiện Thệ nói vậy xong, bậc Ðạo Sư nói như sau:
Như cây chuối sanh quả,
Sanh quả đem tự hại,
Cũng vậy, quả cây tre,
Cũng vậy, quả cây lau,
Cũng vậy với kẻ ngu,
Cung kính đem tự hại,
Như con lừa mang thai,
Mang thai đem tự hại.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate acirapakkante devadatte.
Tatra kho bhagavā devadattaṁ ārabbha bhikkhū āmantesi:
“attavadhāya, bhikkhave, devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi, parābhavāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi.
Seyyathāpi, bhikkhave, kadalī attavadhāya phalaṁ deti, parābhavāya phalaṁ deti;
evameva kho, bhikkhave, attavadhāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi, parābhavāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi.
Seyyathāpi, bhikkhave, veḷu attavadhāya phalaṁ deti, parābhavāya phalaṁ deti;
evameva kho, bhikkhave, attavadhāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi, parābhavāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi.
Seyyathāpi, bhikkhave, naḷo attavadhāya phalaṁ deti, parābhavāya phalaṁ deti;
evameva kho, bhikkhave, attavadhāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi, parābhavāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi.
Seyyathāpi, bhikkhave, assatarī attavadhāya gabbhaṁ gaṇhāti, parābhavāya gabbhaṁ gaṇhāti;
evameva kho, bhikkhave, attavadhāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi, parābhavāya devadattassa lābhasakkārasiloko udapādi.
Evaṁ dāruṇo kho, bhikkhave, lābhasakkārasiloko.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Phalaṁ ve kadaliṁ hanti,
phalaṁ veḷuṁ phalaṁ naḷaṁ;
Sakkāro kāpurisaṁ hanti,
gabbho assatariṁ yathā”ti.
Pañcamaṁ.