Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Sāketa, tại rừng Ancana, vườn Lộc Uyển.
Vi-n 2 Rồi du sĩ Kundaliya đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, du sĩ Kundaliya bạch Thế Tôn:
Vi-n 3 —Thưa Tôn giả Gotama, tôi sống gần khu vườn, giao du với hội chúng. Sau khi ăn buổi sáng xong, thưa Tôn giả Gotama, như sau là sở hành (àcàra) của tôi. Tôi bộ hành, tôi du hành, từ khóm vườn này qua khóm vườn khác, từ khu vườn này qua khu vườn khác. Tại đấy, tôi thấy một số Sa-môn, Bà-la-môn luận bàn về lợi ích thoát ly các tranh luận (itivàdapamokkànisamsam) và lợi ích cật vấn (upàrambhànisamsam). Còn Tôn giả Gotama sống có lợi ích gì?
—Này Kundaliya, Như Lai có quả lợi ích của minh và giải thoát (vịjjàvimuttiphalà—nisamsam).
Vi-n 4 —Nhưng thưa Tôn giả Gotama, những pháp nào được tu tập, được làm cho sung mãn khiến cho minh và giải thoát được viên mãn?
—Này Kundaliya, bảy giác chi được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho minh và giải thoát được viên mãn.
Vi-n 5 —Nhưng thưa Tôn giả Gotama, những pháp nào được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho bảy giác chi được viên mãn?
—Này Kundaliya, bốn niệm xứ được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho bảy giác chi được viên mãn.
Vi-n 6 —Nhưng thưa Tôn giả Gotama, những pháp nào được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho bốn niệm xứ được viên mãn?
—Này Kundaliya, ba thiện hành (sucaritàni) được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho bốn niệm xứ được viên mãn.
Vi-n 7 —Nhưng thưa Tôn giả Gotama, những pháp nào được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho ba thiện hành được viên mãn?
—Này Kundaliya, hộ trì căn được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho ba thiện hành được viên mãn. Nhưng này Kundaliya, hộ trì căn tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, khiến cho ba thiện hành được viên mãn?
Vi-n 8 Ở đây, này Kundaliya, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc khả ý không có tham trước, không có hoan hỷ, không để tham dục (ràga) khởi lên. Thân của vị ấy được an trú, tâm an trú, nội phần khéo an trú, khéo giải thoát. Và khi mắt thấy sắc không khả ý, không có tuyệt vọng (manku), tâm không có dao động, ý không có chán nản (àdìnamànaso), tâm không có tức tối (avyàpannàcetaso). Thân của vị ấy được an trú, tâm được an trú, nội phần khéo an trú, khéo giải thoát.
Vi-n 9-12. Lại nữa, này Kundaliya, Tỷ-kheo khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc …
Vi-n 13 Lại nữa, này Kundaliya, Tỷ-kheo khi ý biết pháp khả ý, không tham trước, không có hoan hỷ, không để tham dục khởi lên. Thân của vị ấy được an trú, tâm an trú, nội phần khéo an trú, khéo giải thoát. Và Tỷ-kheo khi ý biết pháp không khả ý, không có tuyệt vọng, tâm không có dao động, ý không có chán nản, tâm không có tức tối. Thân của vị ấy được an trú, tâm được an trú, nội phần khéo an trú, khéo giải thoát.
Vi-n 14 Này Kundaliya, khi nào Tỷ-kheo, mắt thấy sắc, đối với sắc khả ý hay không khả ý, thân được an trú, tâm được an trú, nội phần được khéo an trú, khéo giải thoát … khi tai nghe tiếng … khi mũi ngửi hương … khi lưỡi nếm vị … khi thân cảm xúc … khi ý biết pháp, đối với các pháp khả ý hay không khả ý, thân được an trú, tâm được an trú, nội phần được khéo an trú, khéo giải thoát. Này Kundaliya, hộ trì căn được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, khiến cho ba thiện hành được viên mãn.
Vi-n 15 Và này Kundaliya, ba thiện hành được tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, khiến cho bốn niệm xứ được viên mãn? Ở đây, này Kundaliya, Tỷ-kheo đoạn tận thân ác hành, tu tập thân thiện hành; đoạn tận khẩu ác hành, tu tập khẩu thiện hành; đoạn tận ý ác hành, tu tập ý thiện hành. Này Kundaliya, ba thiện hành được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, khiến cho bốn niệm xứ được viên mãn.
Vi-n 16 Và này Kundaliya, bốn niệm xứ được tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, khiến cho bảy giác chi được viên mãn? Ở đây, này Kundaliya, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời, quán thọ trên các thọ … quán tâm trên các tâm … quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này Kundaliya, bốn niệm xứ được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy khiến cho bảy giác chi được viên mãn.
Vi-n 17 Và này Kundaliya, bảy giác chi được tu tập như thế nào, được làm cho sung mãn như thế nào, khiến cho minh và giải thoát được viên mãn? Ở đây, này Kundaliya, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ … tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Này Kundaliya, bảy giác chi được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, khiến cho minh và giải thoát được viên mãn.
Vi-n 18 Khi được nói vậy, du sĩ Kundaliya bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama … từ nay cho đến trọn đời con xin quy ngưỡng.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sākete viharati añjanavane migadāye.
Atha kho kuṇḍaliyo paribbājako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho kuṇḍaliyo paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“ahamasmi, bho gotama, ārāmanissayī parisāvacaro.
Tassa mayhaṁ, bho gotama, pacchābhattaṁ bhuttapātarāsassa ayamācāro hoti—
ārāmena ārāmaṁ uyyānena uyyānaṁ anucaṅkamāmi anuvicarāmi.
So tattha passāmi eke samaṇabrāhmaṇe itivādappamokkhānisaṁsañceva kathaṁ kathente upārambhānisaṁsañca:
‘bhavaṁ pana gotamo kimānisaṁso viharatī’”ti?
“Vijjāvimuttiphalānisaṁso kho, kuṇḍaliya, tathāgato viharatī”ti.
“Katame pana, bho gotama, dhammā bhāvitā bahulīkatā vijjāvimuttiṁ paripūrentī”ti?
“Satta kho, kuṇḍaliya, bojjhaṅgā bhāvitā bahulīkatā vijjāvimuttiṁ paripūrentī”ti.
“Katame pana, bho gotama, dhammā bhāvitā bahulīkatā satta bojjhaṅge paripūrentī”ti?
“Cattāro kho, kuṇḍaliya, satipaṭṭhānā bhāvitā bahulīkatā satta bojjhaṅge paripūrentī”ti.
“Katame pana, bho gotama, dhammā bhāvitā, bahulīkatā cattāro satipaṭṭhāne paripūrentī”ti?
“Tīṇi kho, kuṇḍaliya, sucaritāni bhāvitāni bahulīkatāni cattāro satipaṭṭhāne paripūrentī”ti.
“Katame pana, bho gotama, dhammā bhāvitā bahulīkatā tīṇi sucaritāni paripūrentī”ti?
“Indriyasaṁvaro kho, kuṇḍaliya, bhāvito bahulīkato tīṇi sucaritāni paripūretīti.
Kathaṁ bhāvito ca, kuṇḍaliya, indriyasaṁvaro kathaṁ bahulīkato tīṇi sucaritāni paripūretīti?
Idha, kuṇḍaliya, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā manāpaṁ nābhijjhati nābhihaṁsati, na rāgaṁ janeti.
Tassa ṭhito ca kāyo hoti, ṭhitaṁ cittaṁ ajjhattaṁ susaṇṭhitaṁ suvimuttaṁ.
Cakkhunā kho paneva rūpaṁ disvā amanāpaṁ na maṅku hoti appatiṭṭhitacitto adīnamānaso abyāpannacetaso.
Tassa ṭhito ca kāyo hoti ṭhitaṁ cittaṁ ajjhattaṁ susaṇṭhitaṁ suvimuttaṁ.
Puna caparaṁ, kuṇḍaliya, bhikkhu sotena saddaṁ sutvā …pe…
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …pe…
jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe…
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …pe…
manasā dhammaṁ viññāya manāpaṁ nābhijjhati nābhihaṁsati, na rāgaṁ janeti.
Tassa ṭhito ca kāyo hoti, ṭhitaṁ cittaṁ ajjhattaṁ susaṇṭhitaṁ suvimuttaṁ.
Manasā kho paneva dhammaṁ viññāya amanāpaṁ na maṅku hoti appatiṭṭhitacitto adīnamānaso abyāpannacetaso.
Tassa ṭhito ca kāyo hoti, ṭhitaṁ cittaṁ ajjhattaṁ susaṇṭhitaṁ suvimuttaṁ.
Yato kho, kuṇḍaliya, bhikkhuno cakkhunā rūpaṁ disvā manāpāmanāpesu rūpesu ṭhito ca kāyo hoti, ṭhitaṁ cittaṁ ajjhattaṁ susaṇṭhitaṁ suvimuttaṁ.
Sotena saddaṁ sutvā …pe…
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …pe…
jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe…
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …pe…
manasā dhammaṁ viññāya manāpāmanāpesu dhammesu ṭhito ca kāyo hoti, ṭhitaṁ cittaṁ ajjhattaṁ susaṇṭhitaṁ suvimuttaṁ.
Evaṁ bhāvito kho, kuṇḍaliya, indriyasaṁvaro evaṁ bahulīkato tīṇi sucaritāni paripūreti.
Kathaṁ bhāvitāni ca, kuṇḍaliya, tīṇi sucaritāni kathaṁ bahulīkatāni cattāro satipaṭṭhāne paripūrenti?
Idha, kuṇḍaliya, bhikkhu kāyaduccaritaṁ pahāya kāyasucaritaṁ bhāveti, vacīduccaritaṁ pahāya vacīsucaritaṁ bhāveti, manoduccaritaṁ pahāya manosucaritaṁ bhāveti.
Evaṁ bhāvitāni kho, kuṇḍaliya, tīṇi sucaritāni evaṁ bahulīkatāni cattāro satipaṭṭhāne paripūrenti.
Kathaṁ bhāvitā ca, kuṇḍaliya, cattāro satipaṭṭhānā kathaṁ bahulīkatā satta bojjhaṅge paripūrenti?
Idha, kuṇḍaliya, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ;
vedanāsu …pe…
citte …pe…
dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Evaṁ bhāvitā kho, kuṇḍaliya, cattāro satipaṭṭhānā evaṁ bahulīkatā satta bojjhaṅge paripūrenti.
Kathaṁ bhāvitā ca, kuṇḍaliya, satta bojjhaṅgā kathaṁ bahulīkatā vijjāvimuttiṁ paripūrenti?
Idha, kuṇḍaliya, bhikkhu satisambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ …pe…
upekkhāsambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ.
Evaṁ bhāvitā kho, kuṇḍaliya, satta bojjhaṅgā evaṁ bahulīkatā vijjāvimuttiṁ paripūrentī”ti.
Evaṁ vutte, kuṇḍaliyo paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama.
Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evameva bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Chaṭṭhaṁ.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling at Saketa in the Deer Park at the Añjana Grove. Then the wanderer Kuṇḍaliya approached the Blessed One and exchanged greetings with him. When they had concluded their greetings and cordial talk, he sat down to one side and said to the Blessed One:
SC 2“Master Gotama, I am one who stays around monastic parks and frequents assemblies. After the meal, when I have finished my breakfast, it is my custom to roam and wander from park to park, from garden to garden. There I see some ascetics and brahmins engaged in discussion for the benefits of rescuing their own theses in debate and condemning the theses of others. But what is the benefit that Master Gotama lives for?”
SC 3“Kuṇḍaliya, the Tathagata lives for the benefit and fruit of true knowledge and liberation.”
SC 4“But, Master Gotama, what things, when developed and cultivated, fulfil true knowledge and liberation?”
SC 5“The seven factors of enlightenment, Kuṇḍaliya, when developed and cultivated, fulfil true knowledge and liberation.”
SC 6“But, Master Gotama, what things, when developed and cultivated, fulfil the seven factors of enlightenment?”
SC 7“The four establishments of mindfulness, Kuṇḍaliya, when developed and cultivated, fulfil the seven factors of enlightenment.”
SC 8“But, Master Gotama, what things, when developed and cultivated, fulfil the four establishments of mindfulness?”
SC 9“The three kinds of good conduct, Kuṇḍaliya, when developed and cultivated, fulfil the four establishments of mindfulness.”
SC 10“But, Master Gotama, what things, when developed and cultivated, fulfil the three kinds of good conduct?” sn.v.74
SC 11“Restraint of the sense faculties, Kuṇḍaliya, when developed and cultivated, fulfils the three kinds of good conduct.
SC 12“And how, Kuṇḍaliya, is restraint of the sense faculties developed and cultivated so that it fulfils the three kinds of good conduct? Here, Kuṇḍaliya, having seen an agreeable form with the eye, a bhikkhu does not long for it, or become excited by it, or generate lust for it. His body is steady and his mind is steady, inwardly well composed and well liberated. But having seen a disagreeable form with the eye, he is not dismayed by it, not daunted, not dejected, without ill will. His body is steady and his mind is steady, inwardly well composed and well liberated.
SC 13“Further, Kuṇḍaliya, having heard an agreeable sound with the ear … having smelt an agreeable odour with the nose … having savoured an agreeable taste with the tongue … having felt an agreeable tactile object with the body … having cognized an agreeable mental phenomenon with the mind, a bhikkhu does not long for it, or become excited by it, or generate lust for it. But having cognized a disagreeable mental phenomenon with the mind, he is not dismayed by it, not daunted, not dejected, without ill will. His body is steady and his mind is steady, inwardly well composed and well liberated.
SC 14“When, Kuṇḍaliya, after he has seen a form with the eye, a bhikkhu’s body is steady and his mind is steady, inwardly well composed and well liberated in regard to both agreeable and disagreeable forms; when, after he has heard a sound with the ear … smelt an odour with the nose … savoured a taste with the tongue … felt a tactile object with the body … cognized a mental phenomenon with the mind, a bhikkhu’s body is steady and his mind is steady, inwardly well composed and well liberated in regard to both agreeable and disagreeable mental phenomena, sn.v.75 then his restraint of the sense faculties has been developed and cultivated in such a way that it fulfils the three kinds of good conduct.
SC 15“And how, Kuṇḍaliya, are the three kinds of good conduct developed and cultivated so that they fulfil the four establishments of mindfulness? Here, Kuṇḍaliya, having abandoned bodily misconduct, a bhikkhu develops good bodily conduct; having abandoned verbal misconduct, he develops good verbal conduct; having abandoned mental misconduct, he develops good mental conduct. It is in this way that the three kinds of good conduct are developed and cultivated so that they fulfil the four establishments of mindfulness.
SC 16“And how, Kuṇḍaliya, are the four establishments of mindfulness developed and cultivated so that they fulfil the seven factors of enlightenment? Here, Kuṇḍaliya, a bhikkhu dwells contemplating the body in the body, ardent, clearly comprehending and mindful, having removed covetousness and displeasure in regard to the world. He dwells contemplating feelings in feelings … mind in mind … phenomena in phenomena, ardent, clearly comprehending and mindful, having removed covetousness and displeasure in regard to the world. It is in this way that the four establishments of mindfulness are developed and cultivated so that they fulfil the seven factors of enlightenment.
SC 17“And how, Kuṇḍaliya, are the seven factors of enlightenment developed and cultivated so that they fulfil true knowledge and liberation? Here, Kuṇḍaliya, a bhikkhu develops the enlightenment factor of mindfulness, which is based upon seclusion, dispassion, and cessation, maturing in release…. He develops the enlightenment factor of equanimity, which is based upon seclusion, dispassion, and cessation, maturing in release. It is in this way that the seven factors of enlightenment are developed and cultivated so that they fulfil true knowledge and liberation.”
SC 18When this was said, the wanderer Kuṇḍaliya said to the Blessed One: “Magnificent, Master Gotama! Magnificent, Master Gotama! The Dhamma has been made clear in many ways by Master Gotama, as though he were turning upright what had been turned upside down, revealing what was hidden, showing the way to one who was lost, or holding up a lamp in the dark for those with eyesight to see forms. I go for refuge to Master Gotama, and to the Dhamma, and to the Bhikkhu Saṅgha. From today let Master Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Sāketa, tại rừng Ancana, vườn Lộc Uyển.
Vi-n 2 Rồi du sĩ Kundaliya đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, du sĩ Kundaliya bạch Thế Tôn:
Vi-n 3 —Thưa Tôn giả Gotama, tôi sống gần khu vườn, giao du với hội chúng. Sau khi ăn buổi sáng xong, thưa Tôn giả Gotama, như sau là sở hành (àcàra) của tôi. Tôi bộ hành, tôi du hành, từ khóm vườn này qua khóm vườn khác, từ khu vườn này qua khu vườn khác. Tại đấy, tôi thấy một số Sa-môn, Bà-la-môn luận bàn về lợi ích thoát ly các tranh luận (itivàdapamokkànisamsam) và lợi ích cật vấn (upàrambhànisamsam). Còn Tôn giả Gotama sống có lợi ích gì?
—Này Kundaliya, Như Lai có quả lợi ích của minh và giải thoát (vịjjàvimuttiphalà—nisamsam).
Vi-n 4 —Nhưng thưa Tôn giả Gotama, những pháp nào được tu tập, được làm cho sung mãn khiến cho minh và giải thoát được viên mãn?
—Này Kundaliya, bảy giác chi được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho minh và giải thoát được viên mãn.
Vi-n 5 —Nhưng thưa Tôn giả Gotama, những pháp nào được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho bảy giác chi được viên mãn?
—Này Kundaliya, bốn niệm xứ được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho bảy giác chi được viên mãn.
Vi-n 6 —Nhưng thưa Tôn giả Gotama, những pháp nào được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho bốn niệm xứ được viên mãn?
—Này Kundaliya, ba thiện hành (sucaritàni) được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho bốn niệm xứ được viên mãn.
Vi-n 7 —Nhưng thưa Tôn giả Gotama, những pháp nào được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho ba thiện hành được viên mãn?
—Này Kundaliya, hộ trì căn được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho ba thiện hành được viên mãn. Nhưng này Kundaliya, hộ trì căn tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, khiến cho ba thiện hành được viên mãn?
Vi-n 8 Ở đây, này Kundaliya, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc khả ý không có tham trước, không có hoan hỷ, không để tham dục (ràga) khởi lên. Thân của vị ấy được an trú, tâm an trú, nội phần khéo an trú, khéo giải thoát. Và khi mắt thấy sắc không khả ý, không có tuyệt vọng (manku), tâm không có dao động, ý không có chán nản (àdìnamànaso), tâm không có tức tối (avyàpannàcetaso). Thân của vị ấy được an trú, tâm được an trú, nội phần khéo an trú, khéo giải thoát.
Vi-n 9-12. Lại nữa, này Kundaliya, Tỷ-kheo khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc …
Vi-n 13 Lại nữa, này Kundaliya, Tỷ-kheo khi ý biết pháp khả ý, không tham trước, không có hoan hỷ, không để tham dục khởi lên. Thân của vị ấy được an trú, tâm an trú, nội phần khéo an trú, khéo giải thoát. Và Tỷ-kheo khi ý biết pháp không khả ý, không có tuyệt vọng, tâm không có dao động, ý không có chán nản, tâm không có tức tối. Thân của vị ấy được an trú, tâm được an trú, nội phần khéo an trú, khéo giải thoát.
Vi-n 14 Này Kundaliya, khi nào Tỷ-kheo, mắt thấy sắc, đối với sắc khả ý hay không khả ý, thân được an trú, tâm được an trú, nội phần được khéo an trú, khéo giải thoát … khi tai nghe tiếng … khi mũi ngửi hương … khi lưỡi nếm vị … khi thân cảm xúc … khi ý biết pháp, đối với các pháp khả ý hay không khả ý, thân được an trú, tâm được an trú, nội phần được khéo an trú, khéo giải thoát. Này Kundaliya, hộ trì căn được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, khiến cho ba thiện hành được viên mãn.
Vi-n 15 Và này Kundaliya, ba thiện hành được tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, khiến cho bốn niệm xứ được viên mãn? Ở đây, này Kundaliya, Tỷ-kheo đoạn tận thân ác hành, tu tập thân thiện hành; đoạn tận khẩu ác hành, tu tập khẩu thiện hành; đoạn tận ý ác hành, tu tập ý thiện hành. Này Kundaliya, ba thiện hành được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, khiến cho bốn niệm xứ được viên mãn.
Vi-n 16 Và này Kundaliya, bốn niệm xứ được tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, khiến cho bảy giác chi được viên mãn? Ở đây, này Kundaliya, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời, quán thọ trên các thọ … quán tâm trên các tâm … quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này Kundaliya, bốn niệm xứ được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy khiến cho bảy giác chi được viên mãn.
Vi-n 17 Và này Kundaliya, bảy giác chi được tu tập như thế nào, được làm cho sung mãn như thế nào, khiến cho minh và giải thoát được viên mãn? Ở đây, này Kundaliya, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ … tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Này Kundaliya, bảy giác chi được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, khiến cho minh và giải thoát được viên mãn.
Vi-n 18 Khi được nói vậy, du sĩ Kundaliya bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama … từ nay cho đến trọn đời con xin quy ngưỡng.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sākete viharati añjanavane migadāye.
Atha kho kuṇḍaliyo paribbājako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho kuṇḍaliyo paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“ahamasmi, bho gotama, ārāmanissayī parisāvacaro.
Tassa mayhaṁ, bho gotama, pacchābhattaṁ bhuttapātarāsassa ayamācāro hoti—
ārāmena ārāmaṁ uyyānena uyyānaṁ anucaṅkamāmi anuvicarāmi.
So tattha passāmi eke samaṇabrāhmaṇe itivādappamokkhānisaṁsañceva kathaṁ kathente upārambhānisaṁsañca:
‘bhavaṁ pana gotamo kimānisaṁso viharatī’”ti?
“Vijjāvimuttiphalānisaṁso kho, kuṇḍaliya, tathāgato viharatī”ti.
“Katame pana, bho gotama, dhammā bhāvitā bahulīkatā vijjāvimuttiṁ paripūrentī”ti?
“Satta kho, kuṇḍaliya, bojjhaṅgā bhāvitā bahulīkatā vijjāvimuttiṁ paripūrentī”ti.
“Katame pana, bho gotama, dhammā bhāvitā bahulīkatā satta bojjhaṅge paripūrentī”ti?
“Cattāro kho, kuṇḍaliya, satipaṭṭhānā bhāvitā bahulīkatā satta bojjhaṅge paripūrentī”ti.
“Katame pana, bho gotama, dhammā bhāvitā, bahulīkatā cattāro satipaṭṭhāne paripūrentī”ti?
“Tīṇi kho, kuṇḍaliya, sucaritāni bhāvitāni bahulīkatāni cattāro satipaṭṭhāne paripūrentī”ti.
“Katame pana, bho gotama, dhammā bhāvitā bahulīkatā tīṇi sucaritāni paripūrentī”ti?
“Indriyasaṁvaro kho, kuṇḍaliya, bhāvito bahulīkato tīṇi sucaritāni paripūretīti.
Kathaṁ bhāvito ca, kuṇḍaliya, indriyasaṁvaro kathaṁ bahulīkato tīṇi sucaritāni paripūretīti?
Idha, kuṇḍaliya, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā manāpaṁ nābhijjhati nābhihaṁsati, na rāgaṁ janeti.
Tassa ṭhito ca kāyo hoti, ṭhitaṁ cittaṁ ajjhattaṁ susaṇṭhitaṁ suvimuttaṁ.
Cakkhunā kho paneva rūpaṁ disvā amanāpaṁ na maṅku hoti appatiṭṭhitacitto adīnamānaso abyāpannacetaso.
Tassa ṭhito ca kāyo hoti ṭhitaṁ cittaṁ ajjhattaṁ susaṇṭhitaṁ suvimuttaṁ.
Puna caparaṁ, kuṇḍaliya, bhikkhu sotena saddaṁ sutvā …pe…
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …pe…
jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe…
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …pe…
manasā dhammaṁ viññāya manāpaṁ nābhijjhati nābhihaṁsati, na rāgaṁ janeti.
Tassa ṭhito ca kāyo hoti, ṭhitaṁ cittaṁ ajjhattaṁ susaṇṭhitaṁ suvimuttaṁ.
Manasā kho paneva dhammaṁ viññāya amanāpaṁ na maṅku hoti appatiṭṭhitacitto adīnamānaso abyāpannacetaso.
Tassa ṭhito ca kāyo hoti, ṭhitaṁ cittaṁ ajjhattaṁ susaṇṭhitaṁ suvimuttaṁ.
Yato kho, kuṇḍaliya, bhikkhuno cakkhunā rūpaṁ disvā manāpāmanāpesu rūpesu ṭhito ca kāyo hoti, ṭhitaṁ cittaṁ ajjhattaṁ susaṇṭhitaṁ suvimuttaṁ.
Sotena saddaṁ sutvā …pe…
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …pe…
jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe…
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …pe…
manasā dhammaṁ viññāya manāpāmanāpesu dhammesu ṭhito ca kāyo hoti, ṭhitaṁ cittaṁ ajjhattaṁ susaṇṭhitaṁ suvimuttaṁ.
Evaṁ bhāvito kho, kuṇḍaliya, indriyasaṁvaro evaṁ bahulīkato tīṇi sucaritāni paripūreti.
Kathaṁ bhāvitāni ca, kuṇḍaliya, tīṇi sucaritāni kathaṁ bahulīkatāni cattāro satipaṭṭhāne paripūrenti?
Idha, kuṇḍaliya, bhikkhu kāyaduccaritaṁ pahāya kāyasucaritaṁ bhāveti, vacīduccaritaṁ pahāya vacīsucaritaṁ bhāveti, manoduccaritaṁ pahāya manosucaritaṁ bhāveti.
Evaṁ bhāvitāni kho, kuṇḍaliya, tīṇi sucaritāni evaṁ bahulīkatāni cattāro satipaṭṭhāne paripūrenti.
Kathaṁ bhāvitā ca, kuṇḍaliya, cattāro satipaṭṭhānā kathaṁ bahulīkatā satta bojjhaṅge paripūrenti?
Idha, kuṇḍaliya, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ;
vedanāsu …pe…
citte …pe…
dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Evaṁ bhāvitā kho, kuṇḍaliya, cattāro satipaṭṭhānā evaṁ bahulīkatā satta bojjhaṅge paripūrenti.
Kathaṁ bhāvitā ca, kuṇḍaliya, satta bojjhaṅgā kathaṁ bahulīkatā vijjāvimuttiṁ paripūrenti?
Idha, kuṇḍaliya, bhikkhu satisambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ …pe…
upekkhāsambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ.
Evaṁ bhāvitā kho, kuṇḍaliya, satta bojjhaṅgā evaṁ bahulīkatā vijjāvimuttiṁ paripūrentī”ti.
Evaṁ vutte, kuṇḍaliyo paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama.
Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evameva bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Chaṭṭhaṁ.